Quỷ Cẩu - Chương 15: Tiếng Tru Sủa Giọng Người Trên Nóc Nhà

Tiếng kim loại va đập khô khốc vọng lên từ góc bếp vẫn còn ong ong nơi màng nhĩ tôi. Tôi đứng chôn chân trên nền gạch tàu buốt giá, hai bàn tay nắm chặt…

Nội dung chương

Tiếng kim loại va đập khô khốc vọng lên từ góc bếp vẫn còn ong ong nơi màng nhĩ tôi.

Tôi đứng chôn chân trên nền gạch tàu buốt giá, hai bàn tay nắm chặt mép bàn gỗ để giữ cho đôi chân khỏi khuỵu xuống. Cơn sốt hầm hập thiêu đốt trán tôi, nhưng từ sống lưng trở xuống lại toát ra từng đợt mồ hôi nhờn dính, lạnh toát. Mùi bùn tanh từ cổ họng con quái thú ban nãy vẫn lởn vởn quanh hõm cổ, bám chặt vào da thịt tôi như lớp màng nhầy của một xác chết trôi sông.

Tôi với tay lấy cây đèn pin đặt trên nóc tủ chè, bấm nút. Luồng ánh sáng vàng vọt quét một vệt mờ ảo qua gian nhà giữa u tối, soi rõ những cột gỗ lim đen bóng và những bức hoành phi bám đầy bụi nhện. Tôi bước từng bước dè dặt về phía cửa ngách thông xuống chái bếp phía sau.

Không gian tĩnh mịch đến mức tôi nghe rõ từng tiếng tim mình đập thình thịch vào lồng ngực. Tiếng thở dốc của chính tôi phả ra nặng nề, hòa cùng tiếng gió lùa qua những khe ván gỗ mục nát.

Gian bếp của căn nhà cổ tối om và ẩm thấp. Nền xi măng loang lổ những vệt ố dầu mỡ tích tụ qua hàng chục năm. Khi tôi rọi đèn vào kệ chén bằng nhôm gắn trên tường, một cảnh tượng bất thường đập ngay vào mắt: ống đựng dao kéo bằng gỗ dừa mà ông nội tôi đóng từ thời xưa đã bị gạt nghiêng sang một bên.

Dưới chân bệ rửa bát lát đá hoa cương cũ kỹ, một chiếc muỗng inox nằm trơ trọi bên cạnh mảnh vỡ của cái thớt gỗ. Đó là nguyên nhân gây ra tiếng leng keng va đập ban nãy.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt, bước tới gần để kiểm tra ống cắm dao.

Trong ống có ba ngăn. Ngăn lớn nhất cắm con dao phay chặt xương to bản rỉ sét, ngăn nhì cắm con dao bài thái thịt mỏng dính. Nhưng ngăn thứ ba thì trống hoác.

Con dao gọt hoa quả chuôi gỗ mun dài chừng một gang tay, mũi vót nhọn hoắt và lưỡi mài sắc lẹm của ông nội tôi đã biến mất.

Tôi nhớ rất rõ, chiều hôm qua trước khi cơn sốt ập đến, tôi vẫn dùng con dao đó để gọt quả táo ăn dở rồi cắm cẩn thận vào ngăn nhỏ nhất. Vết ố nhựa táo vẫn còn bám mờ mờ trên thành miệng ống gỗ. Con dao đó là vật bất ly thân của ông tôi lúc sinh thời, dùng từ việc gọt trầu, gọt trái cây cho đến cắt dây chuối bó đồ lễ.

Một con dao nhọn không thể tự mọc cánh bay đi giữa đêm hôm khuya khoắt.

Bà con lối xóm quanh hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa từ xưa vẫn giữ một tập tục dân gian: khi trong nhà có người ốm liệt giường hoặc liên tục bị bóng đè quấy phá, người ta phải đặt một con dao nhọn có chuôi gỗ dưới gối nằm để trấn áp tà ma, xua đuổi quỷ dữ đến đòi mạng. Sau những gì gã Toàn thợ tiện gào thét bên hàng rào và hình bóng kinh hoàng của con chó trắng đè trên ngực tôi lúc nửa đêm, tôi hiểu rằng mình không thể tay không nằm chờ chết. Tôi cần con dao đó. Tôi cần đặt nó ngay dưới gối đầu để tự vệ, hoặc ít ra để tìm một chỗ dựa tinh thần mong manh giữa bốn bức tường u ám này.

Tôi bắt đầu lùng sục khắp gian bếp.

Tôi cúi rạp người soi đèn pin vào từng ngóc ngách tối tăm: gầm chạn bát bát đĩa bụi bặm, kẹt kẹp giữa lu nước mưa và vách tường rêu mốc, thậm chí bới tung cả đống củi khô mục nát chất đống cạnh bếp lò than tổ ong. Không có gì cả. Ngoại trừ mạng nhện, phân chuột khô khốc và mùi ẩm mốc nồng nặc của tro trấu cũ, con dao nhọn hoàn toàn bặt tăm.

Tiếng chuông đồng hồ quả lắc ngoài phòng khách gõ điểm bốn tiếng nặng nề. Tiếng kim loại ngân dài trong căn nhà vắng nghe rợn tóc gáy. Cơn sốt lại bốc lên hầm hập khiến hai bên thái dương tôi giật từng cơn đau buốt. Năm vết bầm móng vuốt đen sì trên cẳng tay phải cộm lên, rát bỏng như có ai cầm tàn thuốc dí vào da thịt.

Tôi quay trở lại nhà trên, kéo chốt cài chặt cánh cửa ngách ngăn cách gian bếp rồi rút lui về phòng ngủ. Suốt khoảng thời gian còn lại của đêm đen, tôi ngồi co ro trên giường, hai tay ôm chặt thanh then cửa bằng gỗ lim, trừng trừng nhìn ra ô cửa sổ cho đến khi ráng trời chạng vạng sáng lờ mờ rọi qua những tán cây ngọc lan ngoài sân.

***

Khi ánh mặt trời buổi sáng rọi xuống con hẻm, không khí nặng nề vẫn không hề giảm bớt. Con hẻm 21 thường ngày ồn ã tiếng xe máy, tiếng người ta đi chợ sớm nay lại vắng ngắt một cách kỳ lạ. Vụ việc gã Toàn thợ tiện phát điên cầm dao đòi chém người tối qua đã phủ một bóng đen khiếp hãi lên toàn bộ khu xóm. Nhà nào nhà nấy đóng chặt cửa sắt, then cài kín mít, chỉ thi thoảng hé ra ánh mắt lấm lét nhìn sang căn nhà cổ trăm năm của dòng họ Lê.

Cơn sốt của tôi đã hạ bớt nhờ mấy viên thuốc hạ sốt uống vội, nhưng tâm trí tôi căng như một sợi dây đàn sắp đứt. Ý nghĩ về con dao nhọn bị mất tích cứ bám riết lấy tôi không buông. Tôi không thể yên tâm nhắm mắt nếu chưa tìm ra nó.

Tôi bắt đầu mở rộng phạm vi tìm kiếm ra toàn bộ căn nhà.

Tôi lật tung từng tấm đệm lót trên bộ bàn ghế trường kỷ bằng gỗ cẩm lai ngoài phòng khách. Tôi thọc tay vào những khe hẹp phía sau bàn thờ tổ tiên, nơi những lớp tàn nhang rụng dày thành từng lớp xám xịt. Tôi bò trên sàn gạch, rọi đèn pin vào gầm chiếc sập chân quỳ khổng lồ, nơi chất đầy những thùng các tông cũ đựng giấy tờ đào huyệt của ông nội. Bụi bặm bay lên mù mịt, xộc thẳng vào mũi họng làm tôi ho sặc sụa.

Mỗi góc tối trong căn nhà này đều ẩn chứa một cảm giác chết chóc lạnh lẽo. Những bức ảnh thờ ố vàng của tổ tiên treo trên tường dường như đang dõi theo từng cử động vụng về của tôi bằng những ánh nhìn nghiêm nghị, trách móc.

Sau hơn ba tiếng đồng hồ lục lọi từ trên gác xép xuống đến gầm tủ chén mà vẫn không thấy tung tích con dao, tôi mệt lả ngồi bệt xuống ngạch cửa sau dẫn ra chái hiên.

Mồ hôi chảy ròng ròng ướt đẫm lưng áo. Gió trưa thổi xao xác qua mấy bụi chuối tiêu sau vườn, mang theo mùi ngai ngái của bùn đất ẩm sau cơn mưa chiều hôm trước.

Ngay góc chái hiên, dưới chân cầu thang gỗ cũ kỹ dẫn lên gác mái, là chỗ nằm quen thuộc của con Khánh Hầu.

Đó là một góc khuất tối tăm, ẩm ướt và hôi hám. Nơi đó có một tấm bao tải gai rách rưới cùng chiếc chiếu cói mục nát gấp làm bốn mà ông nội tôi từng lót cho con chó già nằm suốt nhiều năm qua. Lúc này, con chó không có ở đó. Từ sáng sớm, nó đã lủi ra ngoài khoảng sân gạch, nằm phủ phục dưới gốc cây ngọc lan, đôi mắt lim dim như đang ngủ nhưng đôi tai nhọn hoắt thì liên tục giật giật theo từng tiếng động nhỏ ngoài hẻm.

Tôi nhìn chằm chằm vào tấm chiếu cói mục nát kia. Một luồng linh cảm lạnh toát chạy dọc sống lưng tôi.

Tôi đứng dậy, bước từng bước thật khẽ về phía góc cầu thang. Mỗi bước chân tôi đặt xuống mặt sàn đều cố gắng không tạo ra bất kỳ tiếng động nào. Tôi liếc mắt qua khe cửa sổ nhìn ra sân: bóng con chó trắng muốt vẫn nằm bất động dưới tàn cây râm mát, chiếc mũi đỏ hồng cọ sát xuống nền đất.

Đến gần tấm chiếu nằm của con vật, mùi hôi thối nồng nặc bốc lên xộc thẳng vào mũi tôi. Đó không đơn thuần là mùi hôi lông của một con chó già hai mươi năm tuổi. Đó là mùi tanh nồng của máu khô, hòa lẫn với mùi đất ải ẩm mục của những khu nghĩa địa lâu ngày không có ánh mặt trời rọi tới.

Tôi dùng một thanh củi khô gạt nhẹ lớp bao tải gai rách rưới sang một bên.

Dưới đáy bao tải, mép chiếc chiếu cói cộm lên một gờ cứng bất thường.

Tim tôi đập dồn dập như gõ trống trong lồng ngực. Tôi nín thở, dùng đầu ngón tay run rẩy lật nhẹ góc chiếu cói lên.

Kim loại lóe lên một tia sáng lạnh buốt dưới ánh nắng le lói rọi qua khe ván.

Con dao gọt hoa quả chuôi gỗ mun của ông nội tôi đang nằm ngay ngắn ở đó.

Một cảm giác kinh hoàng tột độ bóp nghẹt lấy khí quản tôi, khiến tôi suýt nữa thét lên thành tiếng. Tôi vội vàng đưa tay bịt chặt miệng mình, hai mắt trợn trừng trừng nhìn vào vật thể nằm dưới lớp chiếu mục.

Con dao không hề sạch sẽ như lúc tôi để nó trên kệ bếp.

Lưỡi dao thép sáng loáng nay đã bị bao phủ bởi một lớp bùn đất đen kịt, dính nhớp nháp và còn tươi rói. Đất mồ mả. Loại đất thịt màu nâu đen dẻo quánh, xộc lên mùi xác hữu cơ phân hủy nồng nặc mà tôi từng ngửi thấy trong những cuốn sổ tay ghi chép việc đào huyệt của ông nội.

Kinh khiếp hơn cả, trên cán gỗ mun nhẵn bóng có những vết cào sâu hoắm in hình răng nanh thú vật. Rõ ràng có kẻ đã ngậm chặt lấy cán dao này, dùng sức mạnh của hàm răng nghiến chặt vào thớ gỗ để mang nó từ gian bếp xuyên qua căn nhà và giấu kỹ dưới đệm nằm của mình.

Con vật đã làm việc đó ngay trong đêm, ngay sau khi nó rời khỏi ngực tôi.

Nó không phải một con chó bình thường lượm lặt đồ vật để gặm nhấm theo bản năng. Nó giấu con dao vào chỗ ngủ của nó một cách có chủ đích, cẩn thận phủ tấm bao tải lên trên để che mắt tôi.

Một tiếng thở phì phò trầm đục bỗng vang lên ngay sau lưng tôi.

Toàn thân tôi cứng đờ như biến thành tượng đá. Da gà nổi rộp khắp hai cánh tay.

Tôi từ từ quay đầu lại.

Khánh Hầu đã đứng ở bậu cửa chái hiên từ lúc nào.

Con chó già đứng thẳng bốn chân trên nền gạch, không hề phát ra một tiếng động khi tiếp cận. Bộ lông trắng muốt của nó dựng đứng lên dọc sống lưng như những chiếc gai nhọn. Chiếc mũi đỏ hồng ươn ướt phập phồng liên tục, hít hà mùi không khí xung quanh.

Và đôi mắt nó.

Dưới bóng râm của mái hiên, đôi mắt con vật không còn màu nâu đục của loài chó sắp chết vì tuổi già. Đáy mắt nó ánh lên một sắc đỏ ngầu sẫm như máu đọng, trừng trừng nhìn thẳng vào tay tôi - nơi tôi vẫn đang cầm thanh củi khô vạch tấm chiếu cói.

Khóe mõm nó khẽ giật giật. Hai mép thịt đen sì kéo ngược về phía sau, để lộ hàm răng nanh trắng ởn dài ngoằng, nhọn hoắt như những chiếc đinh gỉ. Từ trong cuống họng nó phát ra những tiếng gầm gừ đứt quãng, trầm thấp, rung chuyển cả lồng ngực:

"Gừ... ừ... ừ..."

Đó không phải tiếng đe dọa của một con thú giữ nhà trước kẻ lạ. Đó là tiếng gầm căm thù của một thực thể ma quái đang nhìn kẻ thù truyền kiếp của mình. Nó biết tôi đã phát hiện ra bí mật dưới tấm đệm.

Cơn giận dữ và nỗi sợ hãi tột cùng cùng lúc bùng nổ trong tôi. Không thể để nó uy hiếp thêm nữa. Tôi quăng thanh củi xuống sàn, cúi phắt người xuống chộp lấy cán con dao gọt hoa quả, giật mạnh nó ra khỏi lớp chiếu cói.

Bùn đất đen sì trên lưỡi dao văng cả vào mu bàn tay tôi, lạnh ngắt như nước đá.

Tôi chĩa thẳng mũi dao nhọn hoắt về phía con thú, hai hàm răng nghiến chặt đến suýt vỡ:

"Mày muốn làm gì? Cút ra ngoài!"

Giọng tôi lạc hẳn đi, run rẩy nhưng đầy vẻ kích động điên cuồng.

Con quỷ cẩu không hề lùi lại nửa bước. Nó vẫn đứng trơ trơ ở bậu cửa, bốn chân găm chặt xuống nền gạch, đầu hơi cúi thấp xuống như chuẩn bị lao vào cắn xé. Đôi mắt đỏ ngầu của nó quét từ mũi dao nhọn lên khuôn mặt tái mét của tôi.

Một nụ cười.

Tôi thề rằng tôi đã nhìn thấy khóe môi nó nhếch lên thành một nụ cười méo mó của loài người. Một sự chế nhạo tột cùng dành cho kẻ đang cố gắng vùng vẫy trong tuyệt vọng.

Sau vài giây đối đầu nghẹt thở, con thú bỗng nhiên thu lại vẻ hung hãn. Nó khịt mũi một tiếng thật mạnh, quay ngoắt người lại rồi lững thững bước ra giữa sân nắng, nằm phủ phục xuống vị trí cũ dưới gốc cây ngọc lan như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Tôi đứng trơ trọi giữa chái hiên ẩm mốc, hơi thở dồn dập như vừa chạy qua một quãng đường dài. Bàn tay nắm chặt chuôi dao của tôi ướt đẫm mồ hôi trơn tuột.

Tôi mang con dao lại bồn rửa chén, mở vòi nước kỳ cọ thật sạch lớp bùn đất mồ mả bám trên lưỡi thép. Nhưng dù tôi có dùng xà phòng chà xát bao nhiêu lần, cái mùi tanh tưởi mục rữa của xác chết vẫn bám chặt lấy thớ thép và lớp gỗ mun, không cách nào tẩy sạch được.

Đêm nay, tôi sẽ nhét con dao này ngay dưới gối nằm của mình. Để xem con súc sinh kia dám làm gì tôi.

***

Đêm thứ hai mươi sáu của chuỗi ngày mất ngủ buông xuống căn nhà cổ hẻm 21.

Mười một giờ đêm, tôi kiểm tra lại toàn bộ chốt cửa trong nhà. Cửa chính được cài ba then gỗ lim dày cộp. Cửa sổ phòng ngủ được chốt chặt bằng những thanh sắt ngang kiên cố. Tôi mang theo một chiếc đèn pin cực sáng, một cây gậy bóng chày bằng gỗ và con dao gọt hoa quả chuôi gỗ mun đã được lau khô.

Tôi đặt con dao ngay ngắn dưới mép gối đầu, mũi dao hướng thẳng ra phía cửa phòng, đúng theo cách mà người già xưa chỉ bảo để trừ tà quỷ cẩu. Bàn tay phải của tôi luồn sâu dưới lớp vải gối, ngón tay luôn áp chặt vào chuôi dao nhẵn thín.

Tôi tắt ngọn đèn tuýp trên trần, chỉ để lại ánh sáng vàng vọt le lói của chiếc đèn ngủ cắm ở góc tường.

Bên ngoài trời không một gợn gió. Bầu không khí oi nồng, đặc quánh của mùa mưa Sài Gòn tích tụ lại trong căn phòng kín mít, ngột ngạt đến mức khó thở. Tôi nằm thẳng đơ trên chiếc giường gỗ, hai mắt mở trừng trừng nhìn lên trần nhà bằng ván ép, nơi ngăn cách giữa phòng ngủ của tôi và lớp mái tôn cũ kỹ phía trên.

Một tiếng trôi qua.

Hai tiếng trôi qua.

Kim đồng hồ nhích dần đến con số ba. Ba giờ sáng - giờ Dần khắc nghiệt, thời điểm mà âm khí tích tụ nặng nề nhất trong ngày.

"Lạch cạch..."

Âm thanh đầu tiên vang lên từ phía mái tôn che trên gian bếp.

Đó là tiếng móng vuốt cào nhẹ trên tôn lượn sóng. Từng tiếng một, chậm rãi, nặng nề.

Nó đã trèo lên nóc nhà.

Tôi siết chặt chuôi dao dưới gối, toàn thân căng cứng như dây đàn. Tiếng móng vuốt di chuyển từ mái bếp dần dần tiến về phía nóc phòng ngủ của tôi. Mỗi bước chân của con thú giẫm lên lớp tôn rỉ sét đều phát ra tiếng kim loại uốn cong "bộp... bộp" trầm đục.

Nhưng lần này, nó không dừng lại ở tiếng bước chân.

Khi bóng đen vô hình trên mái nhà dừng lại ngay phía trên đỉnh đầu tôi, một chuỗi âm thanh hoàn toàn mới bắt đầu vang lên, xé toạc sự tĩnh lặng của đêm đen.

"Ken... két..."

Tiếng kim loại cọ xát sắc nhọn vào đá.

"Ken... két... xoèn xoẹt..."

Âm thanh chói tai, gai người vang lên đều đặn, nhịp nhàng từng hồi một.

Đó là tiếng mài dao.

Một ai đó - hoặc một thứ gì đó - đang ngồi xổm trên nóc mái tôn phòng tôi, tay cầm một lưỡi thép sắc bén và mài miệt mài vào mặt đá mài hoặc gờ tường gạch. Tiếng kim loại cọ xát rít lên từng hồi ghê rợn, tạo ra những âm thanh rợn ngắt kéo dài, truyền qua lớp tôn mỏng, xuyên qua lớp ván trần và dội thẳng xuống màng nhĩ tôi.

"Xoẹt... xoẹt... ken... két..."

Nhịp điệu mài dao đều đặn đến mức ma quái. Cứ sau mỗi ba nhịp mài thép là một tiếng khịt mũi phì phò quen thuộc của loài thú, hòa lẫn với tiếng lầm bầm trầm đục không rõ lời:

"Sắc... phải sắc... đứt... đứt cổ..."

Máu trong người tôi dường như đông cứng lại thành băng đá.

Con quỷ cẩu đang đứng trên nóc nhà tôi. Đầu đội nón mê rách, miệng ngậm dao nhọn, và giờ đây, nó đang mài sắc lưỡi dao tử thần của nó ngay trên đầu tôi để chuẩn bị cho một cuộc tàn sát tuyệt diệt. Tiếng mài dao kéo dài liên tục nửa tiếng đồng hồ, rồi một tiếng, rồi hai tiếng đồng hồ không ngơi nghỉ.

Âm thanh "ken két" đó như chiếc cưa sắt đang cưa dần vào từng sợi dây thần kinh của tôi, tra tấn tinh thần tôi đến mức muốn phát điên lên như gã Toàn thợ tiện. Tôi muốn vùng dậy, muốn hét lên, muốn xông ra ngoài sân chém giết một trận sống mái với con quái vật, nhưng toàn thân tôi bị nỗi sợ hãi tột cùng đóng đinh chặt cứng xuống mặt đệm.

Con dao nhỏ bé tôi đang nắm chặt dưới gối bỗng trở nên vô dụng và nực cười làm sao. Một con dao gọt hoa quả không thể bảo vệ tôi trước một ác quỷ mài dao đòi mạng cả dòng họ.

Chỉ còn cách khóa chặt nó lại.

Nằm co ro dưới lớp chăn mỏng trong khi tiếng mài dao vẫn rít lên từng hồi chói óc trên đỉnh đầu, tôi cắn chặt môi đến bật máu tươi. Khi mặt trời ló dạng, tôi phải hành động ngay lập tức. Tôi phải ra chợ sắt Dân Sinh, mua một sợi xích sắt công nghiệp to bằng cổ tay và những chiếc ổ khóa đúc dày nhất để xích chặt con quái vật đó lại vào gốc cây ngọc lan, trước khi lưỡi dao trên nóc nhà kia kịp cứa đứt cuống họng tôi.

Chương khác

Xem thêm