Quỷ Cẩu - Chương 18: Khải Đối Mặt Với Quỷ Cẩu
Luồng ánh sáng chói lòa từ chiếc đèn pin công suất lớn quét thẳng vào đồng tử đỏ ngầu của con quỷ súc sinh. Tiếng rít the thé tắc nghẹn lại trong cổ họng…
Nội dung chương
Luồng ánh sáng chói lòa từ chiếc đèn pin công suất lớn quét thẳng vào đồng tử đỏ ngầu của con quỷ súc sinh. Tiếng rít the thé tắc nghẹn lại trong cổ họng nó khi luồng quang năng đập tan bóng tối của căn gác xép. Tận dụng giây phút con thú chao đảo lùi lại, tôi vơ lấy chiếc ba lô đã nhét sẵn mấy món đồ tùy thân, lao thục mạng xuống cầu thang gỗ lim.
Gió thốc qua ô cửa sổ vỡ toang dưới nhà dưới, lạnh buốt thấu xương. Tôi đẩy tung cánh cửa sau, dắt chiếc xe máy cũ phóng vụt ra con hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa trong tiếng gầm gừ điên loạn đang dội ngược từ nóc nhà xuống mặt đường nhựa. Đêm ấy, bánh xe tôi chém rách màn sương khuya Sài Gòn, để lại sau lưng bóng trắng ma quái đang ngậm dao đứng sừng sững trên đỉnh mái ngói rêu phong.
Suốt nửa đêm ấy, tôi tá túc tạm bợ ở một trạm xăng ven quốc lộ, mắt mở trừng trừng nhìn vào màn hình điện thoại. Tin nhắn cuối cùng cùng tọa độ định vị chập chờn trước khi cuộc gọi của ông nội bị ngắt đã dẫn tôi về một dải đất hoang phế nằm sát mép sông ở vùng ven Bình Chánh. Đó là bãi tha ma vô chủ Đa Phước, nơi chôn cất những xác chết không tên tuổi, những nấm mồ đất sụp lún theo mùa nước nổi mà cánh thợ đào huyệt như ông tôi thường ghé chân mỗi khi có người chết đường chết chợ.
Trời ngả sang màu chì xám xịt khi tôi dừng xe ở bìa con đường đất đỏ rợp bóng tràm nước. Gió chiều muộn từ con rạch thổi lên mang theo mùi nước tù hôi hám và vị tanh nồng của bùn lầy lưu niên.
Trước mắt tôi là một cánh đồng mả hoang trải dài ngút tầm mắt. Cỏ lau, cỏ gà mọc cao quá đầu gối, che lấp gần hết những gò đất nhấp nhô không bia không khắc. Một vài tấm ván mỏng mục nát cắm xiêu vẹo trên những nấm mộ đất đã bị mưa lũ xói mòn trơ cả rễ cây, trông như những cánh tay xương xẩu từ dưới lòng đất cố ngoi lên cào cấu vào khoảng không vô định. Ánh hoàng hôn đỏ quạch như máu loãng hắt những vệt dài thê lương lên mặt đầm lầy, biến cả khu nghĩa địa thành một bãi tha ma lạnh lẽo, cô quạnh đến rợn người.
Tôi siết chặt chiếc đèn pin trong túi áo khoác, bước từng bước nặng nề lội qua lớp bùn nhão nhoét. Đất dưới chân phát ra những tiếng "bẹp... xoẹt..." dính dớp. Mỗi bước đi là một lần mùi tử khí ẩm mốc xộc thẳng vào mũi, cay nồng và lợm giọng.
Tôi đi theo vệt mòn duy nhất trên cỏ dại, vệt cỏ bị gãy rạp bởi những bước chân vội vã, kéo dài hướng về phía một rặng tre gai rậm rạp nằm cô lập bên mép con lạch sâu. Dấu chân in trên bùn đất còn khá mới, nhưng điều làm tôi rùng mình là bên cạnh dấu giày vải bata mòn gót của con người, rải rác khắp nơi là những vết móng vuốt cào xé sâu hoắm vào thân cây tràm, bùn đất bị bới tung lên từng mảng lớn, để lộ ra những mảnh vải liệm đã ngả màu ố vàng bên dưới.
Một căn chòi lá rách nát hiện ra sau bụi tre gai. Mái lá dừa nước đã mục nát phân nửa, trơ ra bộ khung tre khẳng khiu run rẩy trước những đợt gió rạch thổi thốc qua. Vách chòi ghép bằng những tấm tôn rỉ sét và bao ba rách bươm, phất phơ như những lá cờ tang giữa bãi tha ma.
Tôi đứng chôn chân trước cửa chòi, cổ họng nghẹn đắng.
Sáu tháng qua, tôi từng oán giận ông nội vô cùng. Tôi từng nghĩ ông vì khiếp sợ món nợ nghiệp chướng từ nghề đào huyệt mà vứt bỏ tất cả, bỏ mặc đứa cháu ruột thịt bơ vơ giữa căn nhà cổ trăm năm để một mình ôm của cải trốn chạy. Nhưng nhìn quang cảnh tiêu điều trước mắt, nhìn căn chòi không có nổi một ngọn đèn dầu, nằm lọt thỏm giữa hàng nghìn ngôi mộ vô thừa nhận, trái tim tôi thắt lại trong một cơn đau buốt buốt giá.
Ông Lê Văn Thừa không hề hèn nhát bỏ trốn.
Người đàn ông cả đời sống cùng xẻng đất, quan tài và những xác chết ấy hiểu rõ bản chất của con quỷ súc sinh mang tên Khánh Hầu hơn bất kỳ ai. Ông biết khi Quỷ Cẩu thành hình, tà khí của nó sẽ khóa chặt vào căn nhà cổ ở hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa, tàn sát từng người mang dòng máu họ Lê cho đến khi tuyệt tự. Ông đã tự đem bản thân mình làm mồi nhử, dứt áo ra đi, dời chuyển một phần tà khí hung hiểm nhất về bãi đất hoang lạnh này, dùng chính thân xác tàn tạ của tuổi già để giam cầm, kiềm chế cơn khát máu của con vật suốt nửa năm ròng rã.
Ông chịu đựng sự dày vò, sự cô độc cùng cực giữa bầy ma cỏ đói khát, chỉ để đứa cháu nội ở chốn đô hội có thêm một ngày bình yên.
Nước mắt tôi trào ra, nóng hổi lăn dài trên đôi gò má tái mét. Tôi cắn chặt môi, run rẩy bước qua ngạch cửa bằng thân cau mục.
"Ông nội ơi..."
Tiếng gọi khẽ khàng của tôi chìm nghỉm vào tiếng gió hú qua khe liếp.
Bên trong căn chòi tối om, lạnh lẽo như một huyệt mộ vừa mới đào xong. Không khí đặc quánh mùi đất sét ướt, mùi nhang tàn ẩm mốc và một mùi tanh lợm đến buồn nôn - thứ mùi của máu ứ đọng lâu ngày hòa lẫn với mỡ người chết.
Tôi run rẩy bật đèn pin, quét chùm sáng trắng gom lại một điểm khắp gian chòi chật hẹp.
Góc chòi kê một chiếc sập tre ọp ẹp đã gãy mất một chân, được kê tạm bằng mấy viên gạch thẻ nung đỏ. Chiếc chiếu rách nát phủ một lớp bụi mỏng, trên đó không có người nằm.
Không có thi thể của ông nội tôi ở đây.
Cả căn chòi hoàn toàn trống rỗng, không một bóng người sống sót, cũng chẳng có một xác chết nào nằm lại.
Trái tim tôi đập thình thịch liên hồi bên lồng ngực. Ánh đèn pin trượt xuống chân sập tre, dừng lại ở một đống vải bùi nhùi nhàu nhĩ rơi vãi trên nền đất ẩm.
Tôi quỳ sụp xuống, hai tay run bắn chạm vào đống vải. Đó là bộ quần áo bà ba bằng vải thô màu nâu đất quen thuộc mà ông tôi vẫn thường mặc mỗi khi đi đào huyệt. Vải áo rách toạc từng mảng lớn, mép vải nham nhở những vết cắn xé của hàm răng sắc nhọn. Bùn đất nghĩa địa bám dày đặc trên từng thớ vải, khô cứng lại thành từng mảng đen sì, bốc lên mùi tử khí nồng nặc đến mức làm tôi phải bịt miệng nín thở.
Trên ngực áo, một vệt máu đen thẫm loang lổ đã đông cứng từ bao giờ, kéo dài từ cổ áo xuống tận vạt dưới. Không có xương thịt bên trong. Bộ quần áo nằm rỗng không trên mặt đất, như thể người mặc nó đã bị một sức mạnh ma quái nào đó lôi tuột ra ngoài, xé nát và kéo lê vào màn đêm sâu thẳm.
Cách đống quần áo chừng một gang tay, một vật thể kim loại nhỏ ánh lên dưới luồng sáng đèn pin.
Tôi vươn ngón tay lạnh ngắt nhặt nó lên.
Đó là chiếc vòng cổ bằng da thuộc đã sờn rách, ngả màu mốc meo. Mặt trước của miếng thẻ đồng nhỏ gắn trên vòng da vẫn còn hằn rõ nét chữ khắc bằng mũi ve sắt thô sơ: *Khánh Hầu*.
Sợi dây da dày dặn ấy đã bị cắn đứt đôi. Vết đứt nham nhở những vết răng nanh nghiến nát, dính chặt những sợi lông trắng muốt cứng như cước và vài giọt máu đỏ tươi còn chưa kịp khô hẳn. Máu trên vòng cổ vẫn còn ấm.
Tôi siết chặt chiếc vòng da trong lòng bàn tay, những cạnh sắc của miếng thẻ đồng găm sâu vào da thịt đau nhói. Đêm qua, khi sợi dây liên kết vô hình bị bẻ gãy qua cuộc điện thoại định mệnh, con quỷ cẩu đã dứt khoát xé toạc lớp kiềm tỏa cuối cùng của người chủ cũ. Nó cắn nát chiếc vòng cổ - biểu tượng của sự thuần phục hai mươi năm qua - để hoàn toàn biến thành một con ác quỷ khát máu mang theo mối thù truyền kiếp của những oan hồn dưới đáy huyệt sâu.
Ông nội tôi có lẽ đã không còn nguyên vẹn. Thân xác ông có thể đã bị kéo lê qua những bãi cỏ lau, vùi sâu dưới một hố bùn không đáy nào đó ngoài con lạch kia.
Sự tuyệt vọng và uất hận dâng lên nghẹn ứ nơi cuống họng. Tôi gục đầu xuống chiếc sập tre ọp ẹp, hai vai run lên bần bật. Căn nhà cổ ở Bình Thạnh giờ đây chỉ còn là một cái bẫy chết người, nơi con quỷ trắng đội nón mê đang rình rập trên xà nhà, chực chờ xé xác giọt máu cuối cùng của dòng họ Lê.
Gió bên ngoài rít lên từng hồi qua rặng tre gai, tạo ra những âm thanh rền rĩ như tiếng khóc than của người chết. Bóng tối sụp xuống rất nhanh, nuốt chửng những tia sáng yếu ớt cuối cùng của buổi hoàng hôn. Bãi tha ma chìm vào một màu đen đặc quánh, chỉ còn lại tiếng dế rỉ rả và tiếng nước vỗ bì bõm dưới mép rạch xa xa.
Tôi gạt nước mắt, tự nhủ bản thân không được phép gục ngã lúc này. Nếu tôi chết, sự hy sinh đầy đau đớn của ông nội suốt sáu tháng qua sẽ trở thành vô nghĩa. Nghiệp chướng của đời thợ đào huyệt sẽ nuốt trọn dòng họ, biến gia đình tôi thành một vết nhơ tuyệt tự giữa đất Sài Gòn.
Tôi đứng dậy, lia ánh đèn pin tìm kiếm xung quanh gian chòi. Ông tôi là một người cẩn thận đến mức cố chấp. Một khi ông đã dám đem tính mạng ra để cầm chân con Quỷ Cẩu, ông nhất định phải để lại một lối thoát, một con đường sống cho đứa cháu nội duy nhất của mình.
Ánh sáng quét qua một chiếc bàn thờ bằng gỗ tạp đóng tạm bợ trên vách nứa.
Trên bàn thờ không có ảnh tượng, chỉ đặt trơ trọi một chiếc bát nhang bằng đất nung thô sơ, bên trong cắm đầy những chân nhang đã cháy rụi từ lâu, phủ một lớp tàn tro xám xịt ẩm ướt vì sương đêm. Bát nhang đã nứt toác một đường dài từ miệng xuống tận đáy, như thể vừa phải gánh chịu một luồng chấn động vô hình cực mạnh.
Tôi tiến lại gần bàn thờ. Mùi nhang trầm cũ kỹ hòa lẫn với mùi bùn non phảng phất quanh đây.
Dưới chân chiếc bát nhang nứt nẻ, lấp ló một góc giấy màu vàng sậm đã ố màu thời gian.
Tôi nín thở, cẩn thận dùng hai tay nhấc nhẹ chiếc bát nhang bằng đất nung sang một bên. Chiếc bát nhang khẽ rung lên, một mảng đất nung vỡ vụn rơi lả tả xuống mặt bàn gỗ phát ra những tiếng "lách tách" giòn tan.
Nằm gọn lỏn dưới đáy bát nhang là một cuốn sổ tay nhỏ cỡ bàn tay. Bìa sổ bọc bằng da bò cũ kỹ, các góc đã bị mối mọt gặm nham nhở, được buộc chặt bằng một sợi dây gai se săn chắc nhuộm màu nâu của củ nâu chống ẩm.
Tôi run rẩy cầm cuốn sổ lên. Bìa da lạnh ngắt như một tảng băng vừa vớt dưới đáy mồ.
Bằng nét mực tàu đen nhánh đã ngả sang sắc tím than, trên trang bìa da sờn rách hiện lên bốn chữ Hán viết theo lối chân phương cứng cáp, kèm theo một dòng chữ Quốc ngữ viết tay xiêu vẹo nhưng rành rọt từng nét của ông nội tôi:
*Bí Pháp Trừ Tà - Đoạn Nghiệp Ký.*
Dưới bốn chữ ấy, một dòng chữ nhỏ hơn được ghi vội bằng bút bi đã nhạt màu mực, nét chữ run rẩy như được viết trong những cơn co giật của một người đang kiệt sức:
*Khải, khi con cầm được cuốn sổ này, nội đã về dưới đất. Đọc kỹ từng chữ, giữ lấy mạng sống của con. Đêm rằm tháng này là hạn cuối cùng...*
Gió ngoài bờ rạch bỗng nhiên ngừng bặt.
Sự tĩnh lặng tuyệt đối bao trùm lấy căn chòi lá rách nát giữa bãi tha ma hoang lạnh.
Từ một góc tối thăm thẳm ngoài cánh đồng mả hoang, xuyên qua rặng tre gai dày đặc, một tiếng hú dài the thé, rợn ngắt cất lên, xé toạc màn đêm đặc quánh. Tiếng hú mang âm hưởng của loài chó hoang, nhưng lại nghẹn ngào, run rẩy và mang đầy khẩu khí méo mó của một con người.
Con Quỷ Cẩu đã lần theo mùi máu trên chiếc vòng da, tìm đến tận nơi này.