Quỷ Cẩu - Chương 16: Hàng Xóm Kể Về Lời Nguyền Tuyệt Tự

Tờ mờ sáng ngày thứ hai mươi bảy, tôi đẩy cánh cổng sắt rỉ sét bước ra khỏi con hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa. Cơn sốt đêm qua rút đi để lại một cơ thể rã rời,…

Nội dung chương

Tờ mờ sáng ngày thứ hai mươi bảy, tôi đẩy cánh cổng sắt rỉ sét bước ra khỏi con hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa. Cơn sốt đêm qua rút đi để lại một cơ thể rã rời, xương khớp rệu rã cùng cổ họng khô khốc bỏng rát. Dưới ánh bình minh nhợt nhạt của khu chợ Bà Chiểu bắt đầu nhóm họp, tôi bắt chuyến xe buýt sớm chạy thẳng xuống chợ Dân Sinh ở Quận 1.

Mục tiêu của tôi rõ ràng và duy nhất: tìm thứ gì đó đủ rắn chắc để giam cầm một con quái vật.

Bên trong lòng chợ Dân Sinh sực mùi dầu mỡ máy móc và kim loại han rỉ. Tôi tìm đến một sạp chuyên bán dây cáp và xích tải công nghiệp nằm sâu trong góc tối. Sau một hồi trả giá lơ đễnh, tôi chi ra gần một triệu bạc để vác về một đoạn xích thép chịu lực phi mười hai, loại chuyên dùng neo xà lan trên sông Sài Gòn, kèm theo ba chiếc ổ khóa đúc bằng đồng thau to bằng nắm tay người lớn. Trọng lượng của khối kim loại đè nặng trĩu trên một bên vai, lạnh buốt qua lớp áo thun, nhưng chính cái sức nặng cơ học ấy đem lại cho tôi một cảm giác vững tâm hiếm hoi sau gần một tháng trời sống trong hoảng loạn.

Tôi quay về căn nhà cổ vào đúng giữa trưa, thời điểm mặt trời đứng bóng chiếu thẳng xuống khoảng sân rêu phong.

Con Khánh Hầu vẫn nằm co ro dưới gốc cây ngọc lan già cỗi. Bộ lông trắng muốt của nó dính đầy bùn đất khô khốc, cái mũi đỏ hồng ươn ướt phập phồng theo từng nhịp thở yếu ớt. Trông nó lúc này chẳng khác gì một con chó cỏ già nua sắp chết, rũ rượi và vô hại đến tội nghiệp. Nếu một kẻ lạ bước vào sân, chắc chắn gã sẽ nghĩ tôi là một gã chủ tàn nhẫn đang ngược đãi con vật trung thành của gia đình.

Thế nhưng mùi tanh tưởi của bùn mả bốc lên từ người nó không hề giả tạo. Vệt dãi lạnh buốt rớt xuống cổ họng tôi đêm trước vẫn còn để lại một mảng da ngứa rát, đỏ ửng.

Tôi hít một hơi sâu, hai tay nắm chặt sợi xích sắt nặng trịch, từ từ bước lại gần gốc cây.

Con chó không thèm ngẩng đầu lên, nhưng hai tai nó khẽ giật giật. Khi tôi luồn vòng xích đầu tiên qua chiếc cổ gầy trơ xương của nó, thân mình con vật hơi cứng lại. Tôi cẩn thận bấm chặt ổ khóa đồng thứ nhất vào mắt xích, ghì chặt chiếc vòng thép sát vào lớp lông bờm của nó. Đầu dây còn lại được tôi quấn ba vòng quanh chiếc cọc sắt chôn sâu dưới chân móng đá ong của căn nhà cổ, rồi khóa tiếp bằng hai ổ khóa còn lại.

Trong suốt quá trình đó, con Khánh Hầu không hề sủa, cũng chẳng gầm gừ chống cự. Nó nằm im lìm cho tôi thao tác, ngoan ngoãn đến mức kỳ quái.

Chỉ đến khi tôi siết chặt then khóa cuối cùng, nghe tiếng "cạch" khô khốc vang lên, con vật mới chầm chậm mở mắt.

Đôi mắt nó đục ngầu, phủ một màng đỏ nhờ nhờ của máu đọng. Nó không nhìn vào sợi xích trên cổ, mà ngước thẳng lên nhìn xoáy vào mặt tôi. Hai khóe mõm nó lại khẽ nhếch lên, tạo thành cái rãnh cười nham hiểm quen thuộc. Ánh nhìn đó lạnh lẽo và chế giễu, mang đầy vẻ khinh bỉ của một kẻ đứng trên đang nhìn xuống trò giãy giụa tuyệt vọng của một con sâu bọ.

Tôi lùi lại hai bước, trán toát mồ hôi hột dù nắng trưa đang rọi rực lửa trên đỉnh đầu. Sợi xích đã khóa chặt. Nó không thể nào thoát ra được bằng sức lực của một loài thú bốn chân thông thường.

Nhưng tôi biết, gian nhà chính và căn phòng ngủ tầng trệt đã không còn an toàn. Đêm qua, tiếng mài dao nhọn hoắt rít lên trên mái tôn phòng ngủ đã chứng minh điều đó. Nếu con vật có thể đứng thẳng bằng hai chân sau và trèo lên mái nhà, thì bốn bức tường gạch vữa mục nát dưới trệt hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của nó.

Tôi quyết định rút lui lên căn gác xép gỗ nằm sát vì kèo mái ngói.

Căn gác xép này vốn là nơi ông nội tôi dùng để cất giữ những hòm gỗ đựng sổ sách cũ, vải liệm và các dụng cụ đào huyệt từ nửa thế kỷ trước. Để lên được đó, chỉ có một chiếc cầu thang gỗ dốc đứng, hẹp và ọt ẹp dẫn từ gian nhà sau lên một cửa sập bằng gỗ lim dày dặn. Cửa sập có then cài bằng sắt thô sơ bên trong. Chỉ cần tôi chui lên đó, hạ then cửa sập xuống, không gian gác xép sẽ trở thành một pháo đài biệt lập với toàn bộ phần còn lại của căn nhà.

Buổi chiều trôi qua trong bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Mây đen từ phía sông Sài Gòn ùn ùn kéo về, che kín bầu trời Bình Thạnh nhưng tuyệt nhiên không có lấy một giọt mưa rơi xuống. Gió lặng ngắt. Hơi nóng hầm hập bốc lên từ nền đất ẩm, biến căn nhà cổ một trăm năm tuổi thành một chiếc lò thiêu kín mít.

Tôi mang theo vài chai nước suối, chiếc đèn pin cầm tay công suất lớn, cây gậy bóng chày và con dao gọt hoa quả chuôi gỗ mun bước lên gác xép.

Trước khi khép chiếc cửa sập bằng gỗ lim, tôi nhìn qua ô thông gió nhỏ xíu hướng ra khoảng sân trước.

Dưới bóng tối nhá nhem của chạng vạng, con Khánh Hầu vẫn nằm im lìm bên gốc cây ngọc lan. Sợi xích thép nặng trịch nằm vắt ngang lưng nó, ánh kim loại xám xịt chìm dần vào bóng tối đang đặc quánh lại.

Tôi hạ tấm ván cửa sập xuống. Tiếng then sắt cài cắm vào chốt nghe "cạch" một tiếng dứt khoát.

Không gian bên trong gác xép tối đen như mực. Tôi không dám bật đèn pin vì sợ ánh sáng lọt qua các khe sàn gỗ sẽ thu hút sự chú ý của thứ bên dưới. Tôi ngồi dựa lưng vào một chồng hòm gỗ cũ kỹ, đặt cây gậy bóng chày bên đùi phải, tay trái siết chặt chuôi dao gọt hoa quả. Mùi gỗ mục, mùi long não thoang thoảng cùng mùi vải ẩm mốc vây bọc lấy tôi, tạo thành một lớp màn ngăn cách mong manh với thế giới rùng rợn ngoài kia.

Thời gian trên gác xép trôi đi chậm chạp đến mức tàn nhẫn.

Mười giờ đêm. Rồi mười một giờ.

Tiếng còi xe máy thưa thớt ngoài đường Bùi Hữu Nghĩa nhỏ dần rồi tắt hẳn. Khu phố cổ lún sâu vào giấc ngủ li bì, bỏ mặc tôi một mình đối diện với nỗi sợ hãi đang gặm nhấm từng tế bào. Cứ mỗi lần mí mắt tôi nặng trĩu vì kiệt sức, ký ức về âm thanh mài dao ken két trên mái tôn lại giật ngược tôi tỉnh dậy, tim đập thình thịch trong lồng ngực.

Tôi cắn chặt đầu lưỡi để giữ cho mình tỉnh táo. Vị tanh mặn của máu ứa ra nơi khoang miệng giúp xua đi cơn buồn ngủ chết người.

Một giờ sáng.

Hai giờ sáng.

Không gian xung quanh yên ắng một cách bất thường. Thậm chí không có lấy một tiếng chuột chạy trên trần nhà, không có tiếng thằn lằn tắc lưỡi quen thuộc trên vách ván. Sự im lặng đặc quánh như thể mọi sinh vật sống trong bán kính vài trăm mét đều đã nín thở trốn chạy trước một sự hiện diện tà ác sắp sửa thức giấc.

Ba giờ mười phút sáng. Giờ Dần lại đến.

"Keng..."

Một âm thanh kim loại rất khẽ vang lên từ khoảng sân trước nhà.

Toàn thân tôi lập tức đông cứng lại. Tôi nín thở, hai tai dỏng lên hết mức, mắt dán chặt vào những khe hở giữa các thanh ván sàn gác xép.

"Xoảng... xoang xoảng..."

Tiếng xích sắt bắt đầu chuyển động. Ban đầu là những tiếng lách cách chậm rãi, rụt rè, như thể con chó đang xoay mình tìm một tư thế nằm thoải mái hơn. Nhưng chỉ vài giây sau, nhịp điệu của âm thanh kim loại đột ngột biến đổi.

"Rầm! Roẹt roẹt!"

Tiếng xích sắt bị kéo căng hết cỡ, cọ xát dữ dội vào thân cọc sắt và nền xi măng. Có tiếng thở phì phò nặng nhọc của một con thú to lớn đang dốc toàn bộ sức mạnh cơ bắp để giằng xé sợi dây trói. Âm thanh kim loại nghiến vào nhau ken két, rung lên bần bật, truyền qua nền móng căn nhà lên tận những thanh dầm gỗ trên gác xép nơi tôi đang ngồi.

Tôi ghì chặt con dao trong tay, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi trơn trượt. Đoạn xích thép chịu lực phi mười hai đó đủ sức kéo cả một chiếc xà lan chở cát hàng chục tấn. Một con chó cỏ già nua bị tật nguyền không thể nào bẻ gãy được mắt xích bằng thép tôi luyện. Tôi tự lặp đi lặp lại ý nghĩ đó để trấn an bản thân, cố xua tan nỗi kinh hoàng đang bóp nghẹt lồng ngực.

Nhưng những tiếng giằng xé dưới sân mỗi lúc một điên cuồng hơn.

Tiếng gầm gừ trầm đục phát ra từ cuống họng con vật không còn mang âm hưởng của loài chó nữa. Nó gầm lên từng cơn khàn đặc, rung chuyển cả mặt đất, nghe giống như tiếng rống của một loài dã thú khổng lồ bị giam hãm dưới đáy địa ngục. Sợi xích thép rít lên từng hồi chói tai, căng ra đến mức tưởng chừng các mắt xích đang bị kéo giãn ra từng milimét.

"RẮC!"

Một tiếng nổ khô khốc vang lên giữa màn đêm.

Tiếp theo đó là một tiếng "PHỰT" chát chúa, đanh thép như tiếng dây đàn sắt cỡ lớn bị chặt đứt ngang.

"Keng loảng xoảng!"

Đoạn xích thép đứt văng ra, quất mạnh vào vách tường gạch tạo nên một vệt lửa lóe sáng rồi rơi lả tả xuống nền đất.

Sợi xích thép công nghiệp đã bị giật đứt phăng.

Tim tôi như ngừng đập hoàn toàn. Hơi thở nghẹn ứ lại nơi khí quản, máu dồn hết lên màng nhĩ tạo thành những tiếng u u chói gắt. Con quái vật đã thoát khỏi xiềng xích. Nó đã tự do.

Không gian bỗng nhiên rơi vào một khoảng lặng chết chóc kéo dài chừng mười giây. Không còn tiếng gầm gừ. Không còn tiếng kim loại va chạm.

Tôi nằm rạp người xuống mặt ván sàn gác xép, áp sát một bên mắt vào khe hở rộng chừng một đốt ngón tay giữa hai tấm ván gỗ lim. Từ vị trí này, tôi có thể nhìn thẳng xuống gian nhà sau và một phần gian nhà chính bên dưới.

Một luồng sáng mờ ảo của ánh trăng muộn rọi xiên qua ô cửa sổ chấn song gỗ, hắt những vệt sáng trắng bệch lên nền gạch tàu màu đỏ thẫm của căn nhà cổ. Nền gạch này được lát từ thời ông cố tôi, trải qua trăm năm đã mòn vẹt, bóng loáng như một tấm gương soi mờ mờ.

Cánh cửa ngách thông từ sân vào gian bếp từ từ hé mở.

Cánh cửa gỗ nặng trịch không hề phát ra tiếng cọt kẹt nào, tựa như có một bàn tay vô hình đẩy nhẹ từ phía ngoài.

Một cái bóng màu trắng lướt vào ngưỡng cửa.

Không phải bốn chân chạy lon ton trên mặt đất.

Dưới ánh trăng rọi qua khe cửa, tôi nhìn thấy rõ ràng hai cái chân sau gầy guộc, khẳng khiu của một con thú đang bước từng bước một trên nền gạch tàu. Nó đứng thẳng lưng hoàn toàn. Thân hình dài ngoằng của con chó vươn cao gần bằng một người trưởng thành, hai chân trước buông thõng phía trước ngực với những móng vuốt cong vút đen nhánh. Trên đầu nó chụp sụp chiếc nón lá rách nát, tơi tả từng mảnh nan tre. Miệng nó ngoạm ngang một lưỡi dao bầu sáng loáng, lưỡi dao còn rỉ ra những giọt chất lỏng sền sệt.

Nhưng điều làm tôi chết lặng đến mức chân tay run lẩy bẩy không phải là hình thù ma quái của con vật.

Đó là những gì nó để lại trên nền nhà.

Theo từng bước chân sau của con quái vật giẫm lên mặt đất, một chất lỏng màu đỏ tươi đặc quánh tràn ra từ kẽ móng vuốt của nó, loang lổ trên nền gạch.

Đó là máu.

Máu tươi đỏ lòm, bốc khói nhè nhẹ giữa bầu không khí lạnh ngắt của đêm khuya.

Dưới ánh trăng nhợt nhạt, những vệt chân thú hai móng dính máu đỏ tươi in rành rọt, sắc nét trên nền gạch tàu cổ kính. Mỗi bước chân của nó dính chặt xuống mặt gạch rồi nhấc lên, tạo ra những âm thanh "bẹp... bẹp..." nhơm nhớp, ươn ướt ghê rợn. Vệt máu không phải của ai khác, mà dường như tuôn ra từ chính phần cổ bị xích sắt cứa rách toạc của con thú, hòa lẫn với một thứ máu tanh tưởi nào đó tích tụ từ đáy huyệt sâu.

Máu nhuộm đỏ từng viên gạch tàu, kéo thành một vệt dài ngoằng, uốn lượn từ ngưỡng cửa bếp, băng qua gian nhà sau, và hướng thẳng về phía chân cầu thang gỗ dẫn lên gác xép.

Con quỷ cẩu không hề tìm kiếm vu vơ. Nó biết chính xác tôi đang trốn ở đâu.

Nó dừng lại ở chân cầu thang.

Từ góc nhìn trên khe ván sàn, tôi nhìn thấy đỉnh chiếc nón mê rách nát của nó từ từ ngửa ra sau. Con thú đang ngước đầu nhìn thẳng lên trần nhà, nhìn xuyên qua những khe hở của ván gỗ lim để tìm kiếm ánh mắt của tôi.

Dưới vành nón lá tả tơi, đôi mắt đỏ rực như hai hòn than đang cháy rừng rực trong bóng tối. Hàm răng nanh dài ngoằng ngậm chặt cán dao bằng gỗ, hai khóe mép ngoác rộng ra thành một nụ cười toe toét đến tận mang tai. Máu từ cổ nó chảy tong tỏng xuống thềm nhà, tí tách rơi trên bậc thang gỗ đầu tiên.

"Khẹc... khẹc..."

Một chuỗi âm thanh the thé, đứt quãng phát ra từ cuống họng con vật, nghẹn ngào vì lưỡi dao cản trở, nhưng vẫn rành rọt từng tiếng một:

"Khải... ơi... xuống... đây..."

Đó chính xác là giọng nói khàn khàn, run rẩy của ông nội tôi.

Cái giọng nói mà suốt sáu tháng qua tôi luôn mòn mỏi ngóng trông, giờ đây lại phát ra từ cái mõm thú tanh tưởi của con quỷ cẩu đội nón mê đang ngậm dao đòi mạng.

Nước mắt tôi trào ra vì kinh hoàng tột độ. Tôi vội vàng lùi sâu vào góc tối của gác xép, hai tay bấu chặt lấy cán dao gọt hoa quả, cả người run lên bần bật như một kẻ trúng phong. Tôi cắn chặt môi đến mức nếm rõ vị máu rỉ ra trong miệng, cố không phát ra một tiếng rên rỉ nào.

"Cộp."

Một tiếng động nặng nề giẫm lên bậc thang gỗ thứ nhất.

Chiếc cầu thang gỗ lim trăm năm tuổi kêu lên một tiếng "két" khô khốc dưới sức nặng bất thường của con thú.

"Cộp... két..."

Bậc thứ hai.

Nó đang bước lên. Từng bước, từng bước một. Tiếng móng vuốt sắc nhọn cào nhẹ trên mặt gỗ trơn láng, hòa lẫn với tiếng máu nhỏ giọt "tỏng... tỏng..." xuống sàn gạch phía dưới. Mùi tanh tưởi của xác chết thối rữa và mùi sắt rỉ của máu tươi nồng nặc bốc lên qua các khe hở sàn gác, xộc thẳng vào mũi tôi, làm tôi muốn nôn thốc nôn tháo.

Khoảng cách giữa tôi và con quái vật chỉ còn tính bằng vài bậc thang mỏng manh.

Bậc thứ năm.

Bậc thứ sáu.

Tiếng thở phì phò dồn dập của con thú vang lên ngay bên dưới tấm cửa sập bằng gỗ lim. Tôi có thể cảm nhận được hơi thở lạnh buốt của nó phả qua khe hở giữa tấm ván và sàn nhà, mang theo những tinh thể băng giá làm đông cứng da thịt.

Con quỷ cẩu đã đứng ngay trước cửa sập.

Lưỡi dao bầu bằng thép trong miệng nó khẽ cọ vào then sắt cài cửa, phát ra tiếng kim loại va chạm rợn ngắt:

"Cạch... xoẹt..."

Tôi co rúm người lại sau những hòm gỗ mục nát, giơ cao cây gậy bóng chày và con dao nhỏ bé, chuẩn bị tinh thần cho một cuộc tàn sát đẫm máu khi tấm ván bị hất tung. Chẳng còn đường lui nào khác. Nếu cánh cửa bật mở, tôi sẽ phải lao vào liều mạng với nó.

Một tiếng móng vuốt cào mạnh lên mặt gỗ của cửa sập:

"Xoẹt... xoẹt... xoẹt..."

Những vết cào sâu hoắm xé toạc thớ gỗ lim dày dặn, để lại những mảnh vụn gỗ rơi lả tả xuống sàn. Con quái vật đang dùng móng vuốt hai chân trước để cạy tung chiếc then cài bằng sắt thô sơ. Then sắt bắt đầu rung lên bần bật, lỏng dần khỏi ngàm giữ.

Ngay khi lưỡi dao tử thần và hơi thở tanh tưởi của con quỷ cẩu áp sát mép ván cửa, trong túi quần tôi bỗng nhiên rung lên bần bật.

"Rừ... rừ... rừ..."

Chiếc điện thoại di động trong túi tôi phát ra những hồi rung dữ dội, xé toạc sự tĩnh lặng ngột ngạt của căn gác xép tối om. Ánh sáng xanh le lói từ màn hình điện thoại xuyên qua lớp vải quần bò mỏng manh, hắt một vệt sáng yếu ớt lên vách tường gỗ mục.

Tiếng cào cửa bên ngoài đột ngột khựng lại.

Chương khác

Xem thêm