Quỷ Cẩu - Chương 19: Ông Nội Trở Về - Hay Chỉ Là Ảo Giác
Tiếng rít the thé bên ngoài bãi tha ma tan dần vào gió lạnh, để lại một khoảng không vắng lặng đến rợn gáy. Tôi ngồi thụp xuống dưới chân bàn thờ, lưng…
Nội dung chương
Tiếng rít the thé bên ngoài bãi tha ma tan dần vào gió lạnh, để lại một khoảng không vắng lặng đến rợn gáy.
Tôi ngồi thụp xuống dưới chân bàn thờ, lưng áp chặt vào vách nứa run bần bật. Hai đầu gối tôi đập vào nhau thành từng nhịp gấp gáp. Mùi bùn non, mùi cỏ mục hòa lẫn mùi tàn nhang ẩm ướt xộc thẳng vào mũi, đặc quánh như thể muốn bịt kín khí quản của tôi. Chiếc đèn pin đặt nghiêng trên mặt bàn thờ gỗ tạp hắt ra một quầng sáng vàng nhạt, rọi thẳng vào cuốn sổ tay bọc da bò đang nằm trong lòng bàn tay tôi.
Bìa da nhám xì, nổi cộm những vết nứt nẻ do ngấm nước mưa lâu ngày. Sợi dây gai se màu nâu sẫm buộc quanh cuốn sổ thắt thành một nút số tám rất chặt. Bằng những ngón tay tê buốt, tôi cẩn thận gỡ từng mối thắt. Đầu sợi dây sờn rách, bám đầy bột đất đỏ từ bàn tay chai sạn của người thợ đào huyệt. Khi nút thắt bung ra, cuốn sổ tự động hé mở, để lộ những trang giấy bổi ngả sang màu vàng sậm của rơm rạ mục nát, mép giấy bị gián nhấm nham nhở như hình răng cưa.
Mùi trầm hương trộn với long não xông lên cay nồng.
Tôi lật nhẹ trang đầu tiên. Dưới ánh đèn pin rung rinh, nét chữ mực tàu đen nhánh của ông nội hiện ra, từng nét thẳng đứng, gãy góc và sắc cạnh như những nhát xẻng cắm sâu xuống lòng đất.
*"Khải, khi con cầm được cuốn sổ này, nội đã về dưới đất. Đọc kỹ từng chữ, giữ lấy mạng sống của con. Đêm rằm tháng này là hạn cuối cùng..."*
Dòng chữ viết vội bằng bút bi nhạt màu ở bìa lót đập vào mắt tôi lần thứ hai, nhức nhối như một vết cứa. Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh, lật tiếp sang trang sau.
Trang giấy ghi lại những năm tháng đầu tiên khi dòng họ Lê đặt chân đến vùng đất Gia Định. Ông cố tôi, rồi đến ông nội tôi, cả đời chỉ gắn chặt với chiếc thuổng, chiếc xẻng và những vạt đất hoang lạnh khắp vùng Chí Hòa, Bình Hưng Hòa. Nghề đào huyệt mưu sinh nuôi sống cả gia đình qua ba thế hệ, nhưng cũng chính là nghề gieo rắc tai ương khi chạm vào ranh giới cấm kỵ của cõi âm.
Từng con chữ run rẩy của ông nội kể lại tường tận tội lỗi mà ông đã trót phạm phải bốn mươi năm trước. Trong những đợt giải tỏa mồ mả quy mô lớn để mở đường, nhiều ngôi mộ vô chủ bị đào xới cẩu thả. Để kịp tiến độ giao mặt bằng, những người thợ phu đào huyệt thời ấy - trong đó có ông tôi - đã dùng búa tạ đập vỡ nắp quan tài của những nấm mồ không người nhận diện, gom xương cốt lẫn lộn vào bao tải rồi đổ dồn xuống một hố chôn tập thể sơ sài ven bờ kênh rạch.
Hàng trăm oan hồn không nơi nương tựa, chết bờ chết bụi, uất nghẹn tích tụ tầng tầng lớp lớp dưới lớp đất sét ẩm ướt của Sài Gòn.
Năm ấy, vào đúng giờ Thìn của một ngày mưa gió mịt mùng, tại chính khoảng sân của căn nhà cổ hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa, con chó Khánh Hầu chào đời. Nó là con duy nhất sống sót trong đàn bốn con non. Bộ lông trắng muốt không một sợi tì vết, nhưng chóp mũi lại đỏ au như thịt sống, bốn móng chân sau mọc thêm ngón thừa quắp lại như móng chim ưng.
Ông tôi khi đó tưởng nó chỉ là một con vật dị tật bình thường nên giữ lại nuôi để canh nhà. Ông đâu ngờ rằng, con vật mang sắc trắng tuyết sinh vào giờ Thìn chính là chiếc bình chứa hoàn hảo cho toàn bộ tà khí và oán niệm của những cái xác không tên dưới đáy mồ gom tụ lại.
Tôi lật tiếp, những trang giấy sau trở nên sột soạt, khô giòn dưới ngón tay. Nét chữ của ông nội bắt đầu xiêu vẹo, nhiều chỗ bị nhòe đi bởi những giọt nước mắt hoặc mồ hôi rơi xuống từ rất lâu.
*"Hai mươi năm nó nằm dưới chân sập của tao, giả làm con chó già trung thành. Nó ăn cơm thừa canh cặn của nhà họ Lê, uống nước giếng nhà họ Lê, nhưng từng thớ thịt trong người nó lại nuôi dưỡng bằng oán khí ngàn người. Đến ngày tao nhận ra thì tà căn đã cắm sâu vào mạch đất của căn nhà trăm tuổi.*
*Nó đứng bằng hai chân sau. Nó đội nón mê rách nát để che mắt quỷ thần trên cao. Nó ngậm con dao đào mả của tao để đón rước thần chết vào nhà. Nhà nào có Quỷ Cẩu đứng trên nóc, nhà đó tuyệt tự. Người thân đau ốm, cốt nhục tương tàn, máu chảy thành sông cho đến giọt máu cuối cùng mới thôi."*
Lồng ngực tôi thắt lại, từng nhịp thở trở nên nặng nhọc.
Hóa ra sự mất tích của ông nội sáu tháng trước là một nỗ lực tuyệt vọng. Ông đã tự biến mình thành mồi nhử, mang theo chiếc vòng cổ bằng da có khắc tên Khánh Hầu, lén trốn khỏi căn nhà hẻm 21 để dạt về khu mả hoang Bình Hưng Hòa. Ông lập đàn tràng sơ sài, dùng máu ở đầu ngón tay viết sớ xin gánh trọn nghiệp chướng của cả dòng họ, mong con ác thú sẽ dồn toàn bộ sự trả thù lên tấm thân già cỗi tàn tạ của mình.
Nhưng ông đã lầm. Oán nghiệp của Quỷ Cẩu không đơn giản chịu buông tha như thế. Nó muốn tận diệt dòng dõi người đào mả. Mục tiêu cuối cùng của nó là tôi - đứa cháu nội duy nhất đang ngày đêm mất ngủ trong căn nhà cổ mục nát kia.
Tôi lật đến trang áp chót. Trên mặt giấy, ông nội dùng mực chu sa đỏ lòm vẽ một đồ hình phức tạp.
Đó là hình vẽ một con chó trắng đứng thẳng trên nóc ngói âm dương, trên đầu chụp một mảnh nón lá rách bươm, giữa ngực vẽ một vòng tròn đỏ đồng tâm kèm theo một vết đâm xuyên thẳng từ trước ra sau.
Bên dưới hình vẽ là những dòng chữ viết bằng mực đen đậm nét, từng câu từng chữ như đục khắc vào đá:
*"Bí Pháp Tiêu Trừ Quỷ Cẩu - Tuyệt Mệnh Đoạn Căn.*
*Con thú này không thuộc về cõi sống, đao kiếm bình thường chém vào da thịt nó chỉ như chém vào làn khói, súng đạn bắn trúng cũng không thể tổn thương được tà phách bên trong. Muốn phá giải lời nguyền tuyệt tự của Quỷ Cẩu, chỉ có duy nhất một con đường sống sót.*
*Thứ nhất: Phải dụ nó xuất hiện ở vị trí cao nhất của ngôi nhà - nơi giao hội giữa xà cò gỗ lim và mái ngói cổ, đúng vào thời khắc trăng tròn lên đỉnh đầu của đêm rằm tháng này.*
*Thứ hai: Không được dùng vũ khí từ bên ngoài. Muốn giết nó, phải đoạt lấy chính con dao nhọn mà nó ngậm trong miệng. Con dao đào mả ấy đã ngâm máu của vô số người chết, thấm đẫm oán khí của chính nó, chỉ có sát khí của con dao ấy mới có thể khắc chế được thân xác bất tử của súc sinh.*
*Thứ ba: Khi nó lao xuống cắn xé, phải nhắm thẳng vào tâm chiếc nón mê rách trên đỉnh đầu, đâm một nhát dứt khoát xuyên từ sọ xuống tim. Mũi dao phải xuyên qua lớp tre nứa của nón mê để tước đoạt màng che mắt thiên đạo, khóa chặt tà phách vào trong xác thịt rồi mới tiêu hủy được nó."*
Mồ hôi lạnh rịn ra đầm đìa trên trán tôi, chảy dài xuống thái dương, cay xè khóe mắt.
Tôi quẹt mạnh mu bàn tay lên trán, mắt dán chặt vào đoạn văn cuối cùng được đóng khung bằng bốn nét mực đỏ thẫm. Đoạn văn này làm tim tôi đập thình thịch như muốn nhảy xổ ra khỏi lồng ngực:
*"Hỡi Khải! Đây là trận chiến một mất một còn của con với nghiệp chướng dòng họ Lê.*
*Đúng khắc giao thời giữa đêm rằm và rạng sáng ngày mười sáu, trăng tròn chiếu thẳng xuống nóc nhà hẻm 21. Thời cơ chỉ đến trong một tích tắc ngắn ngủi. Nếu con ra tay chuẩn xác, nhát dao đâm trúng tim qua lớp nón mê, tà khí sẽ tan biến, máu độc của nó sẽ hóa thành tro bụi.*
*Nhưng nếu con trượt tay, hoặc chỉ cần con do dự run rẩy nửa phần hơi thở, oán khí tích tụ trăm năm sẽ phản phệ toàn bộ lên huyết quản của người ra tay. Mọi mạch máu trong thân thể con sẽ nổ tung ngay tại chỗ, máu trào ra từ chín khiếu, con sẽ chết thảm khốc trước khi mặt trời mọc. Dòng họ Lê từ đây vĩnh viễn tuyệt tự, không còn một người chôn cất, không một nén nhang thờ cúng."*
Cuốn sổ trên tay tôi run rẩy theo từng nhịp thở dồn dập.
Một cái bẫy sinh tử không có đường lui.
Ông nội tôi đã dùng mạng sống của mình để đổi lấy cuốn bí pháp này, và giờ đây gánh nặng truyền kiếp nghìn cân trút toàn bộ lên đôi vai tôi. Tôi chưa từng giết gà, chưa từng cầm dao đối mặt với bất kỳ sự đe dọa nào ngoài đời thật. Tôi chỉ là một gã thiết kế đồ họa quanh năm ngồi trước màn hình máy tính trong căn phòng ngột ngạt. Vậy mà giờ đây, số phận bắt tôi phải dùng tay không đoạt lấy lưỡi dao sắc lẹm từ miệng một con ác quỷ lông trắng mắt đỏ, rồi tự tay đâm xuyên tim nó.
Tôi ngước nhìn lên khoảng thủng trên mái lá của căn chòi rách.
Bên ngoài, tầng mây xám xịt bắt đầu rẽ sang hai bên. Một vầng trăng tròn vành vạnh, to lớn một cách dị thường, tỏa ra thứ ánh sáng nhợt nhạt, ma quái phủ xuống bãi tha ma.
Đêm nay... đêm nay chính là đêm mười bốn rạng sáng ngày rằm!
Tôi vội vã lật cổ tay nhìn vào chiếc đồng hồ cơ cũ kỹ. Kim ngắn chỉ số mười một, kim dài nhích dần về số mười hai.
Mười một giờ đêm. Chỉ còn đúng một giờ nữa là bước sang ngày rằm, và hai mươi tư tiếng tiếp theo sẽ là thời khắc định mệnh quyết định sự sống chết của tôi cùng toàn bộ dòng dõi họ Lê.
Tiếng gió ngoài bãi tha ma bỗng đổi hướng, thổi phần phật vào tấm liếp nứa rách nát.
Từ phía đầm lầy xa xa ven rặng tre, tiếng chân giẫm sột soạt lên lá khô vang lên, chậm rãi nhưng nặng nề. Âm thanh ấy không phải tiếng bước chân bốn cẳng của loài chó thông thường. Nó là tiếng bước chân vững chãi của một sinh vật đi bằng hai chân sau, lẹt xẹt, lạo xạo trên nền đất bùn.
Con Quỷ Cẩu không còn gầm rú nữa. Nó đang tiến về phía căn chòi. Nó biết tôi đang ở đây. Nó biết tôi đã cầm trên tay bí mật tiêu diệt nó.
Sự sợ hãi tột cùng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi biến thành một luồng điện chạy dọc sống lưng, đánh thức toàn bộ bản năng sinh tồn đang ngủ vùi trong cơ thể tôi. Hai bàn tay tôi siết chặt lấy cuốn sổ tay, rồi nhét vội nó vào túi trong của chiếc áo khoác gió, kéo khóa lại cẩn thận.
Tôi không thể đối đầu với nó ở đây.
Bí pháp đã chỉ rõ: nó chỉ có thể bị tiêu diệt tại nơi nó sinh ra, trên đỉnh nóc ngói của căn nhà cổ hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa, vào đúng khắc giao thời của đêm trăng tròn. Nếu tôi bỏ mạng ở bãi tha ma này, mọi sự hy sinh của ông nội sẽ tan thành mây khói. Tôi phải trở về căn nhà cổ. Tôi phải dựng lên một pháo đài cuối cùng để đón tiếp nó.
"Khẹt... khẹt... Khải... về... nhà..."
Tiếng rít the thé, ngọng nghịu như tiếng người rách cuống họng vang lên ngay bên ngoài vách nứa phía sau bàn thờ. Khoảng cách gần đến mức tôi ngửi thấy rõ mồn một mùi hôi thối của thịt hoại tử lẫn mùi sắt gỉ của lưỡi dao bầu mà nó đang ngậm.
Một vết nứt dài toác ra trên vách nứa.
Chiếc nón lá rách nát với những nan tre tua tủa khẽ nhô lên qua khe hở, và sau đó là một đốm sáng đỏ ngầu như than hồng từ từ áp sát vào mắt tôi qua kẽ nứa mỏng manh.
Tôi không thèm nhìn thẳng vào mắt nó.
Ghi nhớ lời dặn dò của ông nội, tôi cúi gằm mặt, nhặt chiếc đèn pin công suất lớn trên bàn thờ, dồn hết sức bình sinh đạp mạnh vào tấm vách nứa mục nát đối diện.
"Rầm!"
Mảng vách nứa bung toạc ra ngoài bờ đất sũng nước.
Tôi lao mình qua lỗ hổng, lộn nhào một vòng trên bãi cỏ gai nhọn hoắt. Gai nhọn cào rách toạc ống quần jean, cắm sâu vào bắp chân đau điếng, nhưng tôi không hề giảm tốc độ. Tôi bật dậy như một chiếc lò xo, cắm đầu chạy thục mạng qua những nấm mồ đất ẩm ướt hướng ra con đường đất đỏ nơi chiếc xe máy đang dựng sẵn trong bụi rậm.
Phía sau lưng tôi, tiếng gỗ nứa gãy vụn vang lên giòn giã kèm theo một tiếng gầm gừ man dại của loài thú dữ bị vuột mất con mồi.
Một bóng trắng lướt đi trên các ngọn cỏ lau với tốc độ kinh hoàng, mang theo tiếng va đập "lách cách" của lưỡi dao sắc lẻm chém vào không khí.
Tôi không dám ngoái đầu lại nhìn. Tôi chỉ biết cắm đầu chạy, hai lá phổi như muốn nổ tung vì thiếu dưỡng khí, nước mắt hòa lẫn mồ hôi chảy ròng ròng xuống cằm.
Chiếc xe máy số cũ kỹ nằm im lìm dưới tán cây trứng cá rậm rạp.
Tôi lao tới, bàn tay run rẩy tra chiếc chìa khóa vào ổ điện. Một tiếng "tách" giòn tan vang lên, bảng đồng hồ xe sáng lên ánh đèn xanh leo lét.
Chân phải tôi dẫm mạnh lên cần khởi động.
"Pạch... pạch... khực..."
Động cơ xe sặc một ngụm khói đen rồi tắt lịm.
Bóng trắng sau lưng tôi đã vượt qua rặng tre gai, chỉ cách bụi cây trứng cá chưa đầy hai mươi mét. Dưới ánh trăng mười bốn nhờ nhờ, tôi nhìn thấy rõ hai chiếc chân khẳng khiu như chân xác ướp đang thoăn thoắt nhảy chồm chồm trên mặt đất. Trên đỉnh đầu nó, vành nón mê rách bay phần phật trong gió đêm, hàm răng nham nhở ngậm ngang một con dao bầu sáng loáng phản chiếu ánh trăng lạnh toát.
"Chết tiệt! Nổ máy đi!"
Tôi gầm lên trong cổ họng, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể đạp thẳng xuống cần đạp một lần nữa.
"Brừm... rồ...!"
Tiếng bô xe nổ vang xé toạc màn đêm hoang vắng của khu nghĩa địa.
Tôi không kịp đội mũ bảo hiểm, tay trái bóp chặt côn, chân dẫm mạnh số một rồi vặn hết ga. Chiếc xe chồm lên phía trước, bánh sau quay tít cuốn bay một mảng bùn đất đỏ về phía bóng đen đang lao tới.
Một tiếng gầm the thé đầy uất nghẹn dội lên sau lưng khi con thú trắng bị trùm kín trong đám khói xe nồng nặc mùi xăng pha nhớt.
Chiếc xe máy lao ra con đường trải nhựa thênh thang dẫn về hướng trung tâm thành phố. Gió đêm thốc thẳng vào mặt tôi lạnh buốt, làm khô ráo những giọt mồ hôi đang đọng lại trên trán nhưng không thể xua đi cảm giác rùng mình đang bóp nghẹt lấy từng tế bào thần kinh.
Phía trước tôi, ánh đèn vàng vọt của những ngọn đèn cao áp trải dài tít tắp. Phía sau lưng, vầng trăng tròn treo lơ lửng giữa trời, lạnh lẽo và tàn nhẫn như một con mắt khổng lồ đang dõi theo cuộc chạy trốn của tôi.
Thời gian đang cạn kiệt từng phút từng giây.
Đêm mai, trăng sẽ tròn tuyệt đối. Tôi phải về đến căn nhà cổ ở hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa trước khi trời sáng. Căn nhà trăm năm tuổi đó sẽ không còn là nơi trú ẩn nữa, mà nó sẽ biến thành một pháp trường đẫm máu - nơi tôi phải đối đầu trực diện với số phận tàn độc của dòng họ Lê.