Quỷ Cẩu - Chương 20: Đêm Trăng Máu Trên Hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa
Chiếc xe máy cà tàng của tôi trờ tới đầu hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa khi trời vừa hửng sáng. Sương sớm Sài Gòn chưa tan hết, quánh lại trong con hẻm sâu hun hút…
Nội dung chương
Chiếc xe máy cà tàng của tôi trờ tới đầu hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa khi trời vừa hửng sáng. Sương sớm Sài Gòn chưa tan hết, quánh lại trong con hẻm sâu hun hút thành một thứ màn đùng đục, bốc mùi cống rãnh ngai ngái trộn lẫn với mùi khói than tổ ong từ những gánh hủ tiếu đầu đường. Toàn thân tôi rã rời, hai bắp chân đau nhức bởi những vết gai cào từ bãi tha ma đêm qua. Cú ngã khi trèo qua bờ đất khiến lớp vải quần jean rách toạc, máu khô dính chặt vào da thịt, mỗi lần co duỗi chân lại kéo theo một cơn buốt nhói chạy dọc sống lưng.
Căn nhà cổ một trăm năm tuổi của dòng họ Lê hiện ra sừng sững cuối con ngõ cụt. Những mảng tường quét vôi vàng đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ hàng gạch thẻ xám xịt bám đầy rêu xanh. Mái ngói âm dương võng xuống ở gian chính, giống hệt một cái lưng còng của người già đang oằn mình gánh chịu tai ương. Cánh cổng sắt hoen gỉ khép hờ, phát ra tiếng rít ken két rợn người khi tôi đẩy xe bước vào trong sân.
Dưới gầm phản gỗ gian trước, một khối lông trắng muốt bẩn thỉu khẽ cựa quậy.
Con Khánh Hầu vẫn nằm ở đó.
Nó nằm cuộn tròn, đầu gục giữa hai chân trước, cái mũi đỏ hồng kỳ dị phập phồng từng nhịp thở ngắt quãng. Toàn thân nó toát ra một thứ mùi tanh nồng của bùn lầy đáy mộ và thịt thối rữa, thứ mùi mà đêm qua tôi đã ngửi thấy quá rõ bên ngoài vách nứa bãi tha ma. Nghe tiếng bước chân tôi, nó chậm rãi ngước đầu lên. Đôi mắt nó đục ngầu một màu vôi chết, nhưng sâu bên trong đồng tử lại ánh lên những tia đỏ sẫm như cục than củi sắp tàn. Nó nhìn tôi trừng trừng, không sủa, không vẫy đuôi, cổ họng chỉ phát ra những tiếng khò khè nghẹn ứ.
Chiếc vòng da trên cổ nó đã biến mất. Vùng da quanh cổ rách toác một vệt dài, máu đen rỉ ra bết chặt vào lớp lông trắng, để lộ những thớ thịt nham nhở như bị vật sắc xé toạc.
Tôi siết chặt quai túi vải đang đeo chéo bên hông, nơi cuốn sổ *Đoạn Nghiệp Ký* của ông nội đang áp sát vào mạn sườn lạnh toát. Tôi bước qua mặt nó, bước chân nặng nề nện xuống nền gạch tàu lạnh buốt. Con thú không hề chồm lên. Nó hạ đầu xuống, tiếp tục thở dốc, đóng trọn vai một con chó già hai mươi năm tuổi sắp chết vì kiệt sức. Sự giả tạo tột cùng đó khiến da đầu tôi tê rần. Nó đang chờ. Nó biết đêm nay là rằm, và nó biết món nợ truyền kiếp của dòng họ tôi sắp đến hồi thanh toán sòng phẳng.
Tôi khóa chặt cửa chính bằng hai then gỗ lim dày cộp, cài thêm xích sắt lớn mà ông nội từng dùng để xích cổng mả. Không gian trong nhà lập tức sụp vào một vùng tranh tối tranh sáng ngột ngạt. Bụi bặm lơ lửng trong những dải ánh sáng yếu ớt lọt qua khe cửa sổ gỗ lá sách. Mùi gỗ mục, mùi ẩm mốc trăm năm của dòng họ Lê hòa với mùi tử khí của con quỷ cẩu quẩn quanh dưới sàn tạo thành một thứ không khí đặc quánh, nuốt vào cuống họng thấy đắng nghét.
Tôi lôi chiếc bàn gỗ tròn ra giữa gian phòng ngủ - nơi đặt chiếc sập gụ và nối liền với các thanh xà chịu lực của căn nhà. Tôi trải cuốn sổ bìa da của ông nội lên mặt bàn.
Trang giấy ố vàng hiện lên những dòng chữ viết tay run rẩy nhưng rành rọt từng nét mực tàu:
*Muốn phá Quỷ Cẩu, phải dụ nó vào tử địa. Căn nhà này dựng trên long mạch bị đứt, xà nhà bằng gỗ căm xe là nơi tụ khí âm hồn của những ngôi mộ dòng họ Lê từng đào phạm. Đêm rằm, Quỷ Cẩu sẽ mượn đường nóc nhà nhảy xuống cắn cổ người kế tự. Phải dùng dây gai ốc ngâm máu gà trống thiến chăng kín tám hướng xà ngang. Bốn góc cột đóng đinh sắt dài bảy tấc đã tôi qua lửa than củi dâu để khóa chặt đường thoái lui. Tuyệt đối không được để nó chạm chân xuống đất bằng bốn chân, một khi nó chạm đất, quỷ khí thông với đất mả, sức nó gãy đôi đòn dông.*
Tôi nhìn lên trần nhà. Những thanh xà gồ bằng gỗ căm xe đen bóng chạy dọc ngang, cao cách mặt đất chừng ba mét rưỡi. Phía trên nữa là lớp ngói âm dương cũ kỹ, nhiều chỗ đã thủng để lộ khoảng trời xám xịt bên ngoài. Đó chính là nơi con thú trắng đứng bằng hai chân sau ngậm dao rình rập suốt những đêm qua.
Tôi không còn đường lùi. Tôi phải biến căn phòng này thành một chiếc bẫy lồng thép trước khi mặt trời lặn.
Tôi chạy xe ra chợ Bà Chiểu gom đủ đồ nghề. Ba can nhựa chứa đầy máu gà trống thiến đỏ thẫm còn bốc khói ấm, một bó dây gai ốc phơi khô dài hàng chục mét với những chiếc gai nhọn hoắt như móng vuốt mèo, cùng một bọc đinh sắt bảy tấc rỉ sét nặng trịch mua từ một lò rèn thủ công cũ kỹ dưới chân cầu Bông.
Khi tôi xách những túi đồ nặng trĩu quay lại căn nhà, con Khánh Hầu vẫn nằm bất động dưới gầm phản. Mắt nó nhắm nghiền, nhưng cái mũi đỏ hồng lại giật giật liên hồi theo từng bước chân tôi, hít hà mùi máu gà tươi nồng nặc đang bốc lên qua nắp can nhựa.
Tôi bắt tay vào việc ngay giữa trưa, khi ánh nắng gắt gao nhất của ngày rằm chiếu rọi qua những kẽ hở trên mái ngói.
Tôi đổ máu gà vào một chiếc chậu đồng lớn han gỉ tìm thấy trong chái bếp. Màu đỏ thẫm sủi bọt lăn tăn, bốc lên mùi tanh gắt xộc thẳng vào mũi. Tôi thả từng cuộn dây gai ốc vào chậu, dùng hai bàn tay trần nhấn chìm đống dây gai xuống đáy máu. Gai ốc cứng và sắc lẹm, cào rách toạc da lòng bàn tay tôi. Máu gà tanh nưởi quyện với máu tươi rỉ ra từ vết thương trên tay đau rát như bị tẩm ớt. Tôi cắn chặt môi đến bật máu, hai bàn tay rướm máu liên tục vò nắn cho từng thớ gai ngấm đẫm huyết khí.
Ông nội đã viết rõ trong cuốn sổ: gai ốc là thứ dây leo mọc quanh bờ rạch hút khí dương của đất, kết hợp với máu gà trống thiến sẽ tạo thành sợi dây trói tà linh, khiến da thịt quỷ cẩu chạm vào là cháy xém như sắt nung.
Chuẩn bị xong dây gai, tôi vác chiếc thang tre cập kênh tựa vào thanh xà gồ chính giữa phòng ngủ.
Leo lên từng bậc thang ọp ẹp, tôi ngửi thấy mùi phân chuột khô khốc và mùi mạng nhện đóng tầng tầng lớp lớp trên các thớ gỗ trăm năm. Bụi bặm rơi lả tả xuống mắt, cay xè. Tôi móc bọc đinh sắt vào đai quần, một tay bám chặt vào cột gỗ, tay kia cầm chiếc búa thợ rèn nặng trịch.
"Cốp! Cốp! Cốp!"
Tiếng búa sắt nện vào đinh vang lên chát chúa giữa gian nhà cổ hoang vắng. Mỗi nhát búa giáng xuống, thanh xà gỗ lim lại rung lên bần bật, trút xuống một làn bụi mù mịt. Cây đinh dài bảy tấc cắm ngập vào thớ gỗ rắn như đá, để thừa lại một đoạn nhọn hoắt hướng chéo xuống sàn nhà. Tôi đóng liên tiếp mười hai cây đinh quanh bốn góc cột trụ và các thanh xà phụ, tạo thành một thế trận bàn chông sắc lẹm bao bọc lấy khoảng không bên trên trần nhà.
Mồ hôi túa ra như tắm, chảy ròng ròng qua trán, rơi vào mắt xót buốt. Hai bàn tay tôi rách nát vì gai nhọn, máu hòa với bụi bẩn đen ngòm bám chặt vào cán búa trơn trượt. Mỗi lần vung búa là một lần cơ bắp toàn thân tôi giật thót vì đau đớn, nhưng nỗi sợ hãi tột cùng về cái chết sắp đến còn lớn hơn bất cứ sự đau đớn thể xác nào. Tôi biết chỉ cần đóng chệch một cây đinh, chăng lỏng một nút thắt, con quỷ cẩu sẽ xé xác tôi ra thành từng mảnh vụn ngay trong đêm nay.
Từ trên cao nhìn xuống, tôi bỗng giật mình chết lặng.
Dưới nền nhà, con Khánh Hầu đã lết ra khỏi gầm phản từ lúc nào. Nó ngồi bệt bằng hai chân sau trên sàn gạch tàu, hai chân trước khẳng khiu chống thẳng xuống đất. Nó ngửa cổ lên, trừng trừng nhìn tôi qua lớp bụi mờ. Cái đầu nó nghiêng sang một bên một góc quái dị, như thể các khớp xương cổ của nó đã gãy vụn. Khóe miệng nó rỉ ra một dòng dãi dính nhớt màu xám đục, nhỏ tong tỏng xuống mặt sàn gạch nung.
Nó đang quan sát từng chiếc đinh tôi đóng. Nó đang theo dõi từng mét dây gai tôi chăng ngang xà nhà.
Cổ họng nó phát ra những tiếng rù rù đứt quãng:
"Hừ... hừ... rộc... rộc..."
Âm thanh đó giống như tiếng nước sôi sùng sục trong một cái nồi đồng rỉ sét, xen lẫn tiếng ken két của răng nanh cọ xát vào nhau. Ánh mắt đục ngầu của nó không hề có vẻ ngơ ngác của loài súc vật. Đó là ánh mắt sắc lạnh, tàn độc của một kẻ đang tính toán cặn kẽ từng nước đi của con mồi.
Tôi gằn giọng, giơ cao cây búa sắt:
- Cút vào gầm phản! Cút ngay!
Con thú không hề chớp mắt. Nó khẽ nhếch mép, để lộ hai chiếc răng nanh dài ngoằng ố vàng nham nhở rồi chậm rãi quay người, lết từng bước nặng nề trở lại bóng tối dưới chân sập gụ. Tiếng móng vuốt cào sột soạt trên nền gạch tàu khô khốc vang lên rợn óc.
Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt mặn chát, ép bản thân phải tiếp tục công việc.
Tôi kéo những sợi dây gai ốc đẫm máu gà lên trần nhà, giăng đan xen nhau thành một tấm lưới mạng nhện khổng lồ che kín toàn bộ khoảng trống giữa các vì kèo. Từng nút thắt được buộc chết vào các đầu đinh sắt bảy tấc. Mùi máu gà tanh tưởi bốc lên hừng hực dưới cái nóng oi bức của buổi chiều tà, biến cả gian phòng ngủ thành một lò mổ thực sự.
Khi nút thắt cuối cùng được siết chặt, mặt trời ngoài kia đã hoàn toàn lặn xuống sau những rặng dừa nước ven kênh Nhiêu Lộc.
Bóng tối ập xuống căn nhà cổ nhanh như một cái chớp mắt.
Tôi trèo xuống thang, cất chiếc thang tre vào chái bếp để triệt tiêu mọi điểm tựa trên sàn. Cả căn phòng giờ đây chỉ còn lại chiếc bàn gỗ tròn và sập gụ giữa nhà. Phía trên đầu tôi, tấm lưới dây gai ốc ngâm máu gà giăng kín mít như một chiếc mạng nhện đỏ thẫm treo lơ lửng, các đầu đinh sắt nhọn hoắt chĩa thẳng xuống dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu hỏa đặt trên bàn.
Tôi kéo chiếc ghế gỗ ngồi sát vào góc tường đối diện với sập gụ, tay phải cầm chặt con dao phát bờ mua vội lúc chiều, tay trái giữ chặt chiếc đèn pin cỡ lớn. Chiếc đèn dầu le lói tỏa ra một vùng sáng vàng vọt, chập chờn theo từng cơn gió luồn qua khe cửa.
Bình Thạnh về đêm thường ồn ào với tiếng xe cộ ngoài đường Phan Đăng Lưu, tiếng loa đài vọng lại từ những quán nhậu ven bờ kênh. Nhưng đêm nay, hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa im ắng đến kỳ lạ. Không một tiếng chó sủa ran đầu hẻm, không một tiếng rao đêm quen thuộc của những người bán bánh giò, mì gõ. Toàn bộ con hẻm như đã chết, chìm nghỉm vào một thứ không gian ngột ngạt quánh đặc.
Mười một giờ đêm.
Chiếc đồng hồ quả lắc bằng gỗ mun treo ở gian thờ họ gõ mười một tiếng nặng nề:
"Đong... đong... đong..."
Âm thanh kim loại va đập vào nhau ngân dài rồi tan biến vào khoảng không tịch mịch. Tôi ngồi im như một pho tượng đá, lưng tựa chặt vào bức tường vôi lạnh ngắt, hai mắt mở trừng trừng nhìn chăm chú vào gầm sập gụ. Dưới bóng tối mịt mùng ấy, tôi vẫn nghe thấy tiếng thở phì phò nặng nhọc của con Khánh Hầu. Tiếng thở ấy là thứ duy nhất giữ cho tôi biết rằng mình vẫn còn đang tỉnh táo giữa cơn ác mộng này.
Một giờ sáng.
Gió ngoài trời bỗng nhiên ngưng bặt. Hơi nóng hầm hập của một ngày nắng gắt tích tụ trong các lớp gỗ mục bốc lên ngùn ngụt, khiến căn phòng càng lúc càng ngạt thở. Tôi muốn mở cúc áo nhưng hai bàn tay đã cứng đờ vì căng thẳng, những ngón tay dính đầy máu khô dính chặt vào cán dao sắc lạnh.
Hai giờ sáng.
Không gian chung quanh bắt đầu có sự biến chuyển kỳ dị. Tiếng rỉ rả của lũ ve sầu trên mấy cây xà cừ đầu ngõ tắt phụt. Tiếng muỗi vo ve quanh chân tôi cũng biến mất không còn một dấu vết. Cả căn nhà cổ một trăm năm tuổi chìm sâu vào một sự im lặng tuyệt đối, một sự im lặng rợn người như thể vạn vật xung quanh đều đã bị bóp nghẹt cổ họng cùng một lúc.
Ánh lửa từ ngọn đèn dầu bỗng nhiên thu nhỏ lại chỉ bằng hạt đỗ, chuyển dần từ màu vàng sang một sắc xanh lè ma quái. Khói dầu bốc lên khét lẹt.
Đúng canh ba.
Một luồng khí lạnh buốt từ dưới sàn nhà xông thẳng lên, làm sống lưng tôi nổi gai ốc từng chập. Mùi tanh nồng nặc của bùn mả bỗng chốc đậm đặc gấp mười lần ban ngày, xộc thẳng vào mũi khiến tôi muốn nôn thốc nôn tháo.
Tôi giật mình nhìn về phía gầm sập gụ.
Tiếng thở phì phò quen thuộc của con chó già đã biến mất.
Hoàn toàn không có một tiếng động nào. Không có tiếng chân cào sàn, không có tiếng rên rỉ, không một tiếng kẽo kẹt của gỗ mục. Sự im lặng dưới gầm phản trở nên đặc quánh và chết chóc hơn bao giờ hết.
Tôi nuốt một ngụm nước bọt đắng ngắt, ngón tay run rẩy bật công tắc chiếc đèn pin cực mạnh trên tay trái.
"Tách!"
Luồng ánh sáng trắng rực rỡ xé toạc bóng tối, quét thẳng vào góc tối dưới gầm chiếc sập gụ trăm năm.
Dưới gầm phản hoàn toàn trống rỗng.
Con Khánh Hầu không còn ở đó.
Chiếc bao tải cũ rách mà nó vẫn nằm cuộn tròn suốt sáu tháng qua giờ đây trơ trọi trên nền đất ẩm. Con thú già yếu, đi đứng run rẩy, chân sau liệt gần như hoàn toàn ấy đã biến mất không một tiếng động giữa bốn bức tường đóng kín then cài xích sắt.
Tim tôi đập thình thịch như muốn nhảy bung ra khỏi lồng ngực. Tôi lia ánh đèn pin quét dọc theo nền gạch tàu xung quanh chân sập gụ.
Trên mặt gạch đỏ bám đầy bụi bặm, một vệt chất dịch nhầy nhụa, sủi bọt xám đục kéo dài từ gầm phản hướng thẳng ra giữa phòng. Thứ dãi dính nhớt tanh tưởi ấy bốc lên một làn khói trắng mỏng manh, sực nùi mùi tử thi ngâm nước lâu ngày.
Và ngay bên cạnh bãi dãi nhầy nhụa ấy là những dấu chân.
Đó không phải dấu chân của một con chó bình thường.
Mỗi dấu chân in trên nền gạch chỉ có đúng hai vết móng dài hoen ố, cắm sâu xuống lớp đất mạch giữa hai viên gạch nung. Những vết móng ấy sâu hoắm, sắc nhọn như móng chim ưng, nhưng điều kinh hoàng nhất là hướng đi của chúng: tất cả các dấu chân hai ngón đều quay ngược về phía sau.
Một chuỗi dấu chân đi lùi.
Con thú không hề bước đi bằng bốn chân. Nó đã đứng thẳng dậy trên hai chân sau bằng những khớp xương biến dạng, rồi chậm rãi đi lùi từng bước một từ gầm phản ra giữa căn phòng. Dấu vết lùi dần của nó dừng lại ngay bên dưới chân chiếc cột gỗ căm xe lớn nhất - chiếc cột trụ nối thẳng lên đòn dông của mái nhà.
Tại chân cột, dấu chân biến mất. Chỉ còn lại những vết cào sâu hoắm trên thân gỗ lim cứng như sắt, kéo dài một vệt thẳng đứng từ mặt đất lên tận nóc nhà.
Con thú đã leo lên trần. Nó đã vượt qua mặt đất từ trước khi canh ba điểm.
Một giọt chất lỏng lạnh ngắt, tanh nồng rơi trúng mu bàn tay đang run rẩy của tôi.
Tôi từ từ ngẩng đầu nhìn lên.
Ngay phía trên tấm lưới dây gai ốc đỏ thẫm ngâm máu gà, xuyên qua những thanh xà gồ gỗ căm xe chằng chịt đinh sắt nhọn hoắt, một bóng đen to lớn dị dạng đang lặng lẽ cúi đầu nhìn xuống.
Trên đỉnh đầu nó, chiếc nón mê rách rưới che khuất nửa khuôn mặt lông lá trắng toát. Hai đốm mắt đỏ ngầu như hai hòn than cháy rực rỡ trong bóng tối đen đặc của mái ngói âm dương, rọi thẳng vào đỉnh đầu tôi.