QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 10: Ca canh đêm hai
Mười giờ tối ngày mười lăm tháng chín, ca canh đêm thứ hai ở nhà cổ họ Trần bắt đầu trong tiếng mưa bão quất ràn rạt trên mái ngói. Ông Trần Văn Lương…
Nội dung chương
Mười giờ tối ngày mười lăm tháng chín, ca canh đêm thứ hai ở nhà cổ họ Trần bắt đầu trong tiếng mưa bão quất ràn rạt trên mái ngói. Ông Trần Văn Lương ngồi vào chiếc ghế bên trái giường cha mình, đúng vị trí ông đã ngồi suốt đêm canh đầu tiên, cây gậy tre dựng ở chân ghế, ấm chè đặc đặt trên chiếc bàn nhỏ bên cạnh. Đối diện ông, phía bên phải giường, là Hà, con gái ông, cũng đã ngồi vào chỗ với cuốn sổ tay và cây gậy tre của mình. Sau tấm lưới bồ kết treo kín bốn phía, thi thể cụ cố nằm yên như đã nằm suốt hai ngày qua, bình thản giữa mùi hương trầm và ánh đèn dầu chao đảo theo gió lùa qua khe vách.
Mưa mỗi lúc một nặng hạt. Gió từ sông Đáy thổi về từng cơn, rít qua rặng tre sau nhà, va vào mái ngói trăm tuổi làm cả gian nhà thỉnh thoảng rung lên nhè nhẹ. Nước mưa hắt qua hiên, chảy thành dòng trên sân gạch. Trong nhà, người của các phiên sau đang nghỉ rải rác ở buồng bên và gian bếp, chờ tới phiên của mình. Chỉ gian giữa là thức hẳn, với hai cha con ông Lương và một người cha già nằm im sau tấm lưới.
- Con mệt thì cứ chợp mắt một lúc ở ghế, cha canh cho, ông Lương nói khẽ với con gái sau giờ đầu tiên trôi qua. Đêm qua con thức gần hết đêm rồi, đêm nay còn dài.
- Con không sao đâu cha, Hà đáp, mắt vẫn nhìn về phía giường. Cha mới là người phải giữ sức, từ ngày cụ mất đến giờ cha chưa ngủ được giấc nào cho tử tế. Hay cha sang buồng nằm một lúc, đến phiên sau con gọi.
Ông Lương lắc đầu. Ông mệt thật, mệt rã rời sau hai ngày tang sự và nhiều đêm trước đó thức trông cha bệnh. Đôi vai người đàn ông sáu mươi sáu tuổi đã trĩu xuống thấy rõ, mắt ông thâm quầng, bàn tay cầm chén chè thỉnh thoảng run nhẹ vì thiếu ngủ. Nhưng ông không chịu đi nghỉ trước nửa đêm. Trong đầu ông, phiên canh đầu tối của đêm cuối cùng này là phiên ông phải tự mình ngồi cho trọn. Như một cách ở bên cha thêm một đoạn nữa trước khi giờ khâm liệm sáng ngày mười bảy đưa cha ông vào áo quan, khép lại vĩnh viễn những ngày còn được nhìn thấy cha nằm trong căn nhà này. Ông không nói những điều ấy ra với con gái, chỉ nói một câu gọn gàng như mọi quyết định của ông.
- Cha ngồi đây. Đến nửa đêm đổi ca, cha mới nghỉ.
Trong những giờ đầu của ca canh, hai cha con tranh thủ bàn bạc những việc của ngày mai và ngày kia bằng giọng khẽ khàng. Sáng mười bảy, đúng năm giờ, thầy Nhẫn sẽ chủ trì giờ khâm liệm hoàng đạo, ông Tứ lo phần áo quan, người nhà phải có mặt đủ từ bốn giờ sáng. Sau khâm liệm là nhập quan, phát tang, rồi lễ viếng bắt đầu, họ hàng và làng xóm sẽ đến đông, rạp ngoài sân phải dựng lại sau bão, bàn ghế mượn của nhà văn hóa thôn phải kê sẵn. Hà ghi từng việc vào sổ, đánh dấu việc nào đã có người phụ trách, việc nào còn thiếu người. Ông Lương nghe con gái đọc lại danh sách, gật đầu, bổ sung thêm mấy việc nhỏ: người đón thầy, người lo nước nôi cho khách viếng, người giữ sổ tang. Giọng hai cha con đều đều trong tiếng mưa, như một cuộc họp nhỏ của gia đình diễn ra ngay bên giường người cha, người ông của họ, trang nghiêm mà ấm áp một cách lạ thường giữa đêm bão.
Khoảng mười một giờ, điện trong nhà bắt đầu chập chờn. Bóng đèn ở gian giữa mờ đi rồi sáng lại hai ba lần, ánh sáng trên bàn thờ chao đảo. Ông Lương đứng dậy kiểm tra lại đèn dầu, châm thêm dầu cho đầy, đặt thêm một cây nến dự phòng ở đầu giường cha. Ông dặn Hà, nếu mất điện hẳn thì cứ bình tĩnh thắp nến lên, đừng chạy ra ngoài trong mưa, việc đầu tiên vẫn là ngồi yên bên giường và giữ cho đèn ở đầu giường không tắt. Hà gật đầu, tự tay kiểm tra lại diêm và bật lửa để sẵn trên bàn. Cả hai cha con đều đã nghe lời ông Tứ dặn lúc chiều, và đều hiểu đêm nay có thể là một đêm mất điện thật sự, khi cơn bão ngoài kia mỗi lúc một tiến gần đất liền.
Ông Lương đi một vòng quanh gian giữa như lệ mỗi canh giờ của người canh xác. Ông kiểm tra từng móc của tấm lưới bồ kết, từ phía bàn thờ vòng qua phía cửa ra vào, rồi tới góc phía cửa sổ gian giữa. Ông đưa tay kéo thử góc lưới mà ban chiều bà Liên phát hiện bị tháo ra và Hà đã treo lại. Móc treo vẫn chắc, đầu lưới vẫn kín, ông gật đầu yên tâm rồi quay lại. Ông đâu biết rằng những chiếc móc ở góc ấy chỉ cần một bàn tay quen thuộc thò tới trong bóng tối là có thể gỡ ra nhẹ nhàng đến mức nào. Ông cũng dừng lại ở cửa sổ, ấn thử chiếc chốt sắt một lần. Chốt vẫn ở nguyên vị trí, có phần hơi rít như mọi cửa gỗ cũ trong đêm ẩm, và ông hài lòng quay về ghế ngồi. Không hề hay biết dưới lớp rít ấy là một chiếc chốt đã long sẵn từ mùa xuân, chờ một cơn gió đủ mạnh của đêm bão này.
Trong một khoảng lặng giữa hai đợt gió, ông Lương bỗng kể cho con gái nghe chuyện ngày ông mới mười mấy tuổi, lần đầu được cha cho ngồi canh xác trong một đám tang của họ. Ông bảo lúc ấy ông sợ lắm, ngồi co ro cả đêm không dám nhìn vào giường người mất, sáng ra bị cha mắng cho một trận, không phải vì sợ, mà vì để ngọn đèn dầu suýt tắt lúc nửa đêm. Cha ông dạy, canh xác không phải ngồi cho có mặt, canh là giữ cho đủ mọi thứ quanh người mất được nguyên vẹn như lúc đầu hôm: lửa không tắt, lưới không hở, cửa không mở, người không vắng. Ông nhắc lại lời cha dạy bằng giọng trầm trầm, tay vô thức đưa lên sửa lại cổ áo của mình. Hà nghe cha kể, bỗng thấy hai đêm canh này như một sợi dây nối ba đời người trong căn nhà: đời cụ cố dạy đời cha cô, đời cha cô đang dạy lại cho cô, bằng chính những đêm thức trắng như thế này.
Cô tự hỏi sau này, khi cha cô nằm xuống, ai sẽ là người ngồi canh như thế này và nhớ những lời này để dạy lại. Ý nghĩ ấy lướt qua làm cổ họng cô nghẹn lại, nhưng cô không để nó ở lại lâu. Đêm nay không phải đêm để nghĩ về những mất mát chưa tới. Đêm nay, việc của cô chỉ là ngồi cho vững bên giường cụ cố, giữ đèn, giữ lưới, và chờ tới giờ đổi ca.
Ông Lương hình như cũng đang nghĩ ngợi điều tương tự. Ông nhìn con gái một lúc, rồi nói khẽ, giọng ông ít khi mềm như vậy.
- Sau này cha có đi, con cứ theo đúng lệ này mà lo cho cha, như nhà mình đang lo cho cụ. Đừng bày vẽ thêm, cũng đừng bớt đi thứ gì. Lệ của họ mình, giữ được là giữ được cả nhà, con ạ.
Hà gật đầu, không đáp thành lời, chỉ rót thêm cho cha một chén chè nóng. Hai cha con lại ngồi vào im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng, trong khi ngoài kia bão đang dồn sức cho những giờ dữ dội nhất của đêm.
Gần mười hai giờ đêm, mưa quất mạnh nhất từ đầu tối tới giờ, một cơn gió lớn quét qua làm cả căn nhà rung lên một hồi, ngói trên mái kêu lạch cạch thành một tràng dài. Bóng đèn gian giữa phụt tắt hẳn. Gian nhà tối om trong một thoáng ngắn, chỉ còn ánh đèn dầu ở đầu giường và hai ngọn nến trên bàn thờ cháy leo lét. Hà khẽ gọi cha một tiếng, ông Lương đáp lại ngay, giọng bình tĩnh, bảo con cứ ngồi yên, để cha thắp thêm nến. Ông vừa đứng dậy, cầm cây nến dự phòng châm vào ngọn đèn dầu, thì điện lại vụt có trở lại, bóng đèn sáng lên yếu ớt rồi ổn định dần.
Đồng hồ treo tường chỉ mười một giờ năm mươi phút.
Chính trong lúc điện vừa trở lại ấy, khi mọi con mắt trong gian giữa còn đang nheo lại vì thay đổi ánh sáng và mọi tâm trí còn dồn vào ngọn nến trên tay ông Lương. Ở hành lang tối phía ngoài gian giữa, Trần Văn Hiệp đi ngang qua. Hắn nói với vào một câu rất đỗi bình thường, rằng hắn ra xem lại cửa hông phía bếp đã cài chắc chưa trước khi vào ca canh lúc nửa đêm. Không ai trong gian giữa ngẩng lên nhìn hắn lâu, không ai thấy được bàn tay hắn khi đi ngang phía cửa sổ gian giữa đã khẽ đưa lên. Chạm đúng vào chiếc móc giữ góc tấm lưới bồ kết phía cửa sổ, gỡ nó ra khỏi khung bằng một động tác nhanh và lặng như đã tập trước. Góc lưới rủ xuống một chút trong bóng tối ở phía khuất của chiếc giường, vừa đủ mở ra một khoảng hở như ban chiều, mà không một ai trong hai người đang canh xác lúc ấy trông thấy. Hiệp bước tiếp về phía bếp, bóng hắn khuất sau cửa hông, gian giữa trở lại yên tĩnh với tiếng mưa bão, tiếng hương cháy và hai cha con nhà họ Trần ngồi canh bên người đã khuất. Hoàn toàn không hay biết rằng hàng rào lệ cuối cùng quanh giường cụ cố vừa bị phá vỡ bởi chính một bàn tay trong nhà, ngay trước giờ đổi ca lúc nửa đêm. Khi cơn bão ngoài sông đang bước vào những giờ dữ dội nhất, đen tối nhất, dài nhất của nó.
---