QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 9: Góc lưới bị tháo

Chiều ngày mười lăm tháng chín, trời sông Đáy tối sẫm lại từ rất sớm. Mây bão kéo về từng lớp, đen và thấp, che kín cả dải trời phía thượng nguồn, gió…

Nội dung chương

Chiều ngày mười lăm tháng chín, trời sông Đáy tối sẫm lại từ rất sớm. Mây bão kéo về từng lớp, đen và thấp, che kín cả dải trời phía thượng nguồn, gió thổi qua làng Hạ Trạch mang theo mùi nước sông và mùi đất ẩm của một cơn mưa lớn sắp trút xuống. Trong nhà cổ họ Trần, không khí vừa là của một đám tang đang ở đêm canh thứ hai, vừa là của một ngôi nhà trăm tuổi đang chuẩn bị chống chọi với cơn bão được báo là lớn nhất từ đầu mùa.

Ông Lương phân công mọi người từ sau bữa trưa. Đàn ông trong nhà trèo lên mái kiểm tra lại ngói, chằng thêm dây thép qua những hàng ngói đã xô lệch từ mùa mưa trước, chất bao cát lên mái nhà bếp phụ. Người ở dưới sân thu dọn củi khô, kê cao những đồ đạc để ở hiên, buộc lại cánh cổng gỗ bằng dây thừng. Trần Thu Hà cùng bà Hảo và bà Liên lo phần trong nhà: cất những giấy tờ quan trọng của họ vào hộp thiếc đặt lên kệ cao. Bọc lại hộp gia phả bằng ni lông, kiểm tra đèn dầu, nến, dầu hỏa dự trữ cho một đêm có thể mất điện bất cứ lúc nào. Ai cũng làm việc trong im lặng gấp gáp, thỉnh thoảng lại ngẩng lên nhìn trời qua khoảng sân, rồi cúi xuống làm tiếp nhanh hơn.

Giữa buổi chiều, khi Hà đang phụ cha kê lại bộ trường kỷ cho gọn lối đi ở gian giữa, bà Liên bỗng gọi cô lại gần chiếc giường đặt thi thể cụ cố, giọng bà hạ thấp mà gấp gáp.

- Hà, ra đây cô bảo. Cháu nhìn tấm lưới này xem, có thấy gì lạ không?

Hà bước tới, nhìn theo tay bà Liên chỉ. Tấm lưới bồ kết treo quanh giường cụ cố, tấm lưới mà chính tay ông Lương và cô đã treo kín bốn phía từ đêm đầu tiên, giờ ở góc phía cửa sổ gian giữa, một góc lưới đã bị tháo ra. Mấy chiếc móc treo ở góc ấy không còn móc vào khung nữa, đầu lưới rủ xuống, để hở một khoảng trống nhỏ ngay phía đầu giường, đủ rộng cho một vật gì nhỏ luồn qua nếu nó muốn. Hà sững người. Cô nhớ rất rõ, đêm qua khi phiên canh của hai cha con kết thúc, tấm lưới vẫn còn nguyên vẹn, cô đã tự tay kiểm tra lần cuối trước khi sang buồng nghỉ. Sáng nay người nhà ra vào gian giữa thắp hương liên tục, không ai để ý tới góc lưới khuất phía cửa sổ ấy.

- Ai lại tháo ra thế này hả cô? Hà hỏi khẽ, tay đã đưa lên treo lại góc lưới. Hay người nhà mình sáng nay dọn dẹp vướng vào?

- Cô không biết, bà Liên lắc đầu, nét mặt đăm chiêu. Sáng giờ cô ở gian giữa gần như suốt, người ra vào chỉ thắp hương rồi ra, không ai động vào giường của cụ cả. Gió thì không thể làm bung móc treo trong nhà thế này được. Lạ lắm cháu ạ. Thôi, treo lại cho kín đi, treo cho chắc vào, rồi nhớ lấy việc này, đến tối bàn với bố cháu.

Hà treo lại góc lưới cẩn thận, móc từng móc một, kéo thử cho chắc, rồi lùi lại nhìn toàn thể tấm lưới một lượt nữa cho yên tâm. Trong lòng cô, một nỗi bất an mỏng manh vừa nhen lên. Cô tự tìm cách giải thích ngay: có thể từ chiều qua, khi cả nhà gia cố nhà cửa, ai đó vô tình làm bung góc lưới mà không biết. Có thể chiếc móc ở góc ấy vốn đã yếu, tự tuột ra trong đêm. Những cách giải thích ấy đều hợp lý, nhưng không cách nào làm cô quên được hình ảnh góc lưới rủ xuống ấy. Và nhất là vị trí của nó, đúng phía cửa sổ gian giữa, đúng như lời cụ cố dặn trong buổi chiều cuối cùng còn tỉnh táo: đóng kín cửa sổ, đừng để con gì nhảy qua người tao.

Cô mở sổ tay, ghi lại việc này bằng mấy dòng ngắn gọn và chính xác như ghi một biên bản: chiều mười lăm tháng chín. Phát hiện lưới bồ kết bị tháo một góc phía cửa sổ gian giữa, bà Liên là người thấy trước, đã treo lại kín, chưa rõ nguyên nhân. Ghi xong, cô kiểm tra luôn cánh cửa sổ gian giữa. Cô đẩy thử, cửa vẫn khép, chốt vẫn cài. Cô ấn mạnh thêm một lần vào chiếc chốt sắt cho chắc, nghe tiếng kim loại kêu khẽ. Rồi mới quay ra sân phụ mọi người làm nốt việc chống bão, dù trong đầu vẫn vương mãi hình ảnh góc lưới bị tháo ấy như một câu hỏi chưa có lời đáp.

Cuối chiều, ông Tứ thợ hòm đội mưa lất phất sang nhà cổ. Ông đến kiểm tra lại chiếc áo quan đặt ở hiên, xem vải liệm người nhà chuẩn bị đã đủ chưa, và dặn ông Lương mấy việc cần làm trước giờ khâm liệm sáng ngày mười bảy. Ông đi một vòng quanh gian giữa, mắt người thợ già dừng lại ở tấm lưới bồ kết một lúc, gật đầu khi thấy lưới đã treo kín. Ông bảo, đêm nay là đêm canh cuối, cũng là đêm bão, người nhà phải cẩn thận hơn đêm đầu gấp nhiều lần, đèn dầu phải có người trông, cửa nẻo phải kiểm tra từng chiếc.

Trước khi về, ông Tứ để lại bộ đồ nghề mộc của mình ở góc hiên nhà cổ, chiếc hộp gỗ dài quen thuộc mà Hà đã thấy hôm ông mang áo quan đến.

- Tôi để hộp nghề ở đây, ông nói với ông Lương. Sáng mai tôi qua sớm, đỡ phải mang đi mang lại trong mưa bão. Trong hộp toàn đồ nghề của tôi, các anh chị cứ để yên ở hiên, đừng ai động vào, sáng mai tôi dùng đến việc gì tôi khắc lấy.

Hà đứng gần đó, nghe ông dặn, mắt vô thức nhìn về chiếc hộp gỗ. Cô nhớ trong hộp ấy có cây đục bằng đồng đỏ mà ông quý nhất, cây đục theo ông hơn năm mươi năm làm nghề. Không hiểu sao chi tiết ấy lại ở lại trong đầu cô giữa bao nhiêu việc của một buổi chiều chống bão, như một trong những điều nhỏ nhặt mà trí nhớ tự giữ lấy, không cần lý do.

Trong lúc cả nhà chống bão, Hà để ý thấy Hiệp cũng có mặt, làm việc như mọi người. Hắn phụ cánh đàn ông chằng lại mái nhà bếp, leo lên leo xuống thoăn thoắt, miệng nói cười bàn chuyện bão với mấy người cháu họ. Có lúc Hà bắt gặp hắn đứng một mình ở hiên, nhìn cơn mưa đang kéo về phía sông, nét mặt trầm ngâm như người đang lo lắng cho đám tang của cụ, một nét mặt hoàn toàn bình thường của một người cháu trong nhà có tang. Cô tự trách mình đa nghi. Từ ngày về nhà cổ, hết tiếng mèo gào trong đêm, tới góc lưới bị tháo, việc gì cô cũng ghi vào sổ, việc gì cũng làm cô giật mình. Có lẽ cô đã để những câu chuyện lệ làng của bà Liên ngấm vào đầu óc nhiều hơn mình tưởng. Và một cô văn thư xã như cô thì nên phân biệt rõ việc nào có giấy tờ chứng cứ, việc nào chỉ là cảm giác của một người đang mệt mỏi vì nhiều đêm thức trắng bên người thân sắp mất.

Cô đem ý nghĩ ấy nói nhỏ với bà Liên lúc hai cô cháu kiểm tra lại gian giữa lần cuối trước bữa tối. Bà Liên nghe xong, không cười cháu gái như cô tưởng. Bà chỉ nói, ghi lại là tốt, cháu ạ, việc tang ma qua đi rồi, muốn nhớ lại cũng không nhớ nổi nếu không có người ghi. Còn tin hay không thì để sau hẵng hay, cứ giữ cho lệ được trọn, thế là đủ. Lời bà làm Hà yên tâm hơn một chút. Cô cất sổ tay vào túi áo, tự dặn mình đêm nay sẽ chỉ tập trung vào phiên canh của mình, không để những ý nghĩ vẩn vơ làm phân tâm nữa.

Bữa tối của nhà có tang dọn vội trong tiếng mưa. Cơm canh đạm bạc, người ăn đứng ăn ngồi, phần lớn tâm trí đều để ở cơn bão đang đến và đêm canh sắp bắt đầu. Ông Lương ăn rất ít, chỉ dặn đi dặn lại các phiên canh đêm nay không được thay đổi, ai đến phiên người ấy phải có mặt, mưa bão thế nào cũng không được bỏ trống gian giữa. Ông Bính ngồi cạnh con trai, gật đầu theo từng lời anh cả, nét mặt hiền lành và mệt mỏi. Ngoài sân, nước mưa đã bắt đầu đọng thành vũng, phản chiếu ánh đèn từ gian giữa hắt ra, chập chờn theo từng cơn gió mạnh dần lên từ phía sông Đáy.

Trời tối hẳn, mưa bắt đầu nặng hạt, quất vào mái ngói nhà cổ thành từng đợt rào rào. Ông Tứ đội nón, đứng ở hiên nhìn ra màn mưa và bầu trời đen đặc phía sông, rồi quay vào nói với cả nhà một câu làm mọi người đều im lặng nghe.

- Đêm nay mà mất điện thì nhà này phải thức hết, đừng ai ngủ. Đêm cuối canh cụ, lại đúng đêm bão, có vất vả cũng ráng cho trọn. Tôi ở làng bên, có việc gì cứ cho người sang gọi, mưa to đến đâu tôi cũng đội sang.

Nói rồi ông bước xuống sân, bóng người thợ già gầy gò khuất dần trong màn mưa đầu bão. Hà đứng ở hiên nhìn theo, nghe tiếng mưa mỗi lúc một lớn trên mái nhà trăm tuổi, trong lòng đếm thầm những việc của đêm nay: phiên canh đầu của cha và cô, tấm lưới đã treo lại kín, cửa sổ đã cài chốt, đèn dầu đã châm đầy. Mọi thứ hình như đều đã sẵn sàng cho đêm canh cuối cùng trước giờ khâm liệm, chỉ trừ một câu hỏi nhỏ vẫn nằm im trong cuốn sổ tay cô vừa gấp lại: góc lưới kia, rốt cuộc là ai đã tháo ra. Và tháo ra từ lúc nào, trong chính ngôi nhà này, giữa ban ngày đông người ra vào như thế.

---

Chương khác

Xem thêm