QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 11: Ấm chè của ông Bính
Đồng hồ quả lắc trong gian giữa gõ mười hai tiếng rồi thêm mấy nhịp lẻ, kim chỉ sang mười phút sau nửa đêm. Mưa ngoài sân đã nặng hạt từ chập tối, đến…
Nội dung chương
Đồng hồ quả lắc trong gian giữa gõ mười hai tiếng rồi thêm mấy nhịp lẻ, kim chỉ sang mười phút sau nửa đêm. Mưa ngoài sân đã nặng hạt từ chập tối, đến giờ này thì quất thành từng đợt lên mái ngói, nước từ máng xối đổ xuống sân gạch nghe như có người dội thùng liên hồi. Gió sông Đáy lùa qua vườn chuối sau nhà, lá chuối đập vào nhau phần phật, thỉnh thoảng một tàu lá rách toạc kêu xoạc một tiếng dài rồi tắt. Trong gian giữa, ngọn đèn dầu đặt trên chiếc bàn con cạnh giường vẫn cháy, lửa nhỏ mà đều, hắt lên tấm lưới bồ kết một quầng vàng đục. Cụ cố nằm trên giường, mặt phủ tấm vải trắng mỏng, hai tay đặt xuôi theo thân, im lìm như đã im lìm suốt từ chiều hôm trước.
Hà ngồi ở gian bên, trên tay là cuốn sổ ghi chép những việc tang đã làm và những việc còn phải làm. Nét chữ của cô nhỏ, ngay ngắn, ghi rõ giờ nào ai đến viếng, nhà nào gửi vòng hoa, mâm cơm cúng đã chuẩn bị đến đâu. Đó là thói quen của người làm văn thư xã, cũng là cách cô giữ mình khỏi nghĩ ngợi lung tung trong những đêm dài như thế này. Bác Lương vừa rời ghế canh, lưng áo đẫm mồ hôi dù trời mưa mát, ông đi ngang qua chỗ Hà ngồi, khẽ gật đầu.
- Con vào buồng nằm một lát đi. Tới ca của chú Bính và thằng Hiệp rồi. - Bác có ngủ được không bác. - Ngủ sao được. Nhưng cũng phải nhắm mắt cho lại sức, mai còn bao nhiêu việc. Con cũng thế, đừng thức trắng đêm thứ hai liền.
Hà dạ một tiếng, nhưng chưa đứng dậy ngay. Cô nhìn vào gian giữa. Ông Bính bước vào trước, dáng người gầy, vai hơi khom, tay cầm chiếc khăn mặt vắt vai. Theo sau là Hiệp, tay bưng một ấm chè còn bốc khói, cùng hai chiếc chén nhỏ đặt trên chiếc khay gỗ đã sờn. Hiệp đi rất nhẹ, khay không kêu một tiếng, đặt xuống bàn con cạnh giường một cách cẩn thận như sợ làm động đến người nằm.
- Cha uống chén chè nóng cho ấm bụng đã. Đêm nay mưa to, ngồi canh đến ba giờ không có gì vào bụng là lạnh lắm. - Ừ, rót đi con.
Giọng ông Bính khàn, mệt. Ông đã ngoài sáu mươi, hai ngày tang sự chạy đi chạy lại ngoài sân, tiếp khách, lo việc, mặt hốc hẳn đi. Hiệp rót chè, hai tay bưng chén đưa cho cha, thái độ ân cần mà Hà ít khi thấy ở người cháu này. Ngày thường Hiệp nói năng cộc, việc nhà hay đùn cho vợ, gặp cha cũng chỉ hỏi vài câu rồi đi. Đêm nay hắn ngồi xuống chiếc ghế thấp bên cạnh cha, tự rót cho mình một chén, thổi nhẹ rồi uống cạn.
- Chè hôm nay đậm đấy. Mẹ Phượng pha à. - Con tự pha. Chè Thái Nguyên nhà bác Lương còn trong hộp thiếc ấy, con lấy hai nắm. Cha uống thêm chén nữa đi, còn cả ấm. - Thôi, một chén đủ rồi. Uống nhiều lại buồn đi tiểu, bỏ phiên canh thì không được. - Thì con trông, cha cứ uống cho tỉnh. Đêm còn dài.
Ông Bính đón chén thứ hai, uống chậm rãi. Hà nhìn qua khe cửa gian bên, thấy Hiệp ngồi thẳng lưng bên giường, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhìn vào tấm lưới bồ kết treo phía cửa sổ. Tấm lưới chiều qua cô vừa treo lại góc bị tháo, sợi gai tẩm bồ kết sẫm màu, đung đưa rất nhẹ theo hơi gió lọt qua khe cửa. Hiệp nhìn nó một lúc lâu, rồi quay sang cha, nói chuyện phiếm bằng giọng đều đều.
- Hôm nay ngoài chợ người ta hỏi thăm cụ nhiều lắm cha ạ. Ai cũng bảo cụ thọ thế là có phúc, con cháu được nhờ. - Phúc thì phúc, mà đi rồi thì nhà vắng hẳn. Cha mày với bác Lương mày từ mai không còn ai gọi dậy ăn sáng nữa. - Cha đừng nghĩ buồn. Cụ đi thanh thản, không đau đớn gì. - Ừ. Mày ngồi đây, cha chợp mắt một tí trong lúc chưa đến giờ thắp hương. Đánh thức cha ngay nếu cha ngủ quên.
Đó là câu nói lúc khoảng mười hai giờ hai mươi. Hà ghi vào sổ theo thói quen, không vì ý gì đặc biệt, chỉ vì cô ghi mọi mốc giờ trong đêm canh. Rồi cô đứng dậy, gấp sổ, đi về phía buồng trong để nằm nghỉ theo lời bác Lương. Đi ngang qua cửa gian giữa, cô ngửi thấy mùi chè nóng lẫn mùi nhang và mùi bồ kết khô, một mùi riêng của những đêm canh xác mà sau này cô không bao giờ quên được.
Buồng trong tối, chỉ có ánh sáng hắt qua khe cửa. Hà nằm xuống chiếc giường tre, kéo tấm chăn mỏng lên ngang ngực, lắng nghe mưa. Tiếng mưa trên mái ngói dồn dập như trống làng gõ trong đêm hội, lúc nhanh lúc chậm theo từng cơn gió. Cô nghĩ về ngày mai, về việc phải dậy sớm lo mâm cơm, về danh sách họ hàng ở xa sẽ về, về lời thầy Nhẫn dặn giờ khâm liệm phải chờ tới sáng ngày mười bảy. Hai đêm canh xác, đêm đầu đã qua yên tĩnh, đêm nay là đêm thứ hai, chỉ cần qua được đêm nay và đêm mai ngắn nữa là tới giờ liệm. Cô tự nhủ như thế và cố nhắm mắt.
Nhưng mắt nhắm mà tai vẫn mở. Cô nghe tiếng ghế tre trong gian giữa khẽ kêu khi có người trở mình. Nghe tiếng chén đặt xuống bàn. Rồi một lúc sau, không còn tiếng nói chuyện nữa. Sự im lặng ấy ban đầu làm cô yên tâm, nghĩ hai cha con đang ngồi lặng như mọi phiên canh khác. Người canh xác vốn ít nói, phần vì mệt, phần vì trọng người nằm. Thế nhưng im lặng kéo dài quá, và trong im lặng ấy thiếu một thứ rất nhỏ: tiếng ông Bính ho khan. Ông Bính hút thuốc lào từ trẻ, đêm nào ngồi lâu cũng phải ho mấy tiếng, có khi ho thành cơn phải uống nước. Từ lúc cô về buồng đến giờ, dễ đã hai mươi phút, không một tiếng ho nào vọng sang.
Hà mở mắt, nhìn lên trần nhà tối đen. Cô nghĩ có thể mình lo xa, người mệt quá thì ngủ thiếp đi một lúc cũng là thường, huống hồ ông Bính đã quá đuối. Nhưng lệ canh xác cấm người canh ngủ gật. Thầy Nhẫn dặn đi dặn lại, ông Tứ cũng nói, người canh phải thức, phải để mắt tới giường, tới lưới, tới cửa ra vào. Nếu một người ngủ thì người còn lại phải gọi dậy, đó là lệ, không phải chuyện khắt khe vô cớ.
Cô ngồi dậy rất khẽ, xỏ chân vào dép, đi ra gian bên. Cửa buồng không cài, cô đẩy nhẹ, bước qua thềm. Ánh đèn dầu từ gian giữa hắt ra đủ để cô nhìn rõ cảnh trước mắt, và cảnh ấy làm cô đứng yên một nhịp.
Ông Bính ngồi trên ghế canh, đầu gục xuống ngực, hai tay buông thõng hai bên, hơi thở đều và sâu, sâu một cách khác thường. Chiếc khăn mặt trên vai ông đã tuột xuống một nửa, rơi vắt lên đùi. Ông ngủ không phải kiểu chợp mắt của người già ngồi ghế, mà là giấc ngủ nặng, cả thân người chìm xuống, gọi khẽ chắc cũng không tỉnh ngay. Bên cạnh ông, Hiệp vẫn ngồi thẳng lưng như lúc đầu, không hề có ý định lay cha dậy. Hắn ngồi quay nửa người về phía giường, một tay đặt lên thành giường, mắt không rời tấm lưới phía cửa sổ.
Hà khẽ cất tiếng từ ngưỡng cửa gian bên, đủ nghe mà không làm giật mình người ngủ.
- Anh Hiệp, sao anh không gọi chú Bính dậy. Chú ngủ lâu chưa. - Mới chợp mắt một lúc thôi em. Cha mệt quá, để cha ngủ thêm mươi phút, anh trông một mình cũng được. - Lệ không cho người canh ngủ anh ạ. Bác Lương mà biết thì bác mắng đấy. - Mắng thì anh chịu. Em nhìn cha anh xem, hai ngày nay có được chợp mắt đâu. Ngủ một giấc ngắn dậy mới có sức canh tiếp.
Lời hắn nói nghe có lý, giọng lại nhỏ nhẹ, thành ra Hà không cãi thêm được ngay. Cô nhìn ấm chè trên bàn. Ấm còn bốc hơi nhẹ, hai chiếc chén, một chén của ông Bính đã cạn, một chén của Hiệp còn lưng chừng. Mùi chè đậm, có lẫn một mùi gì rất nhẹ, ngọt ngai ngái mà cô không gọi tên được, có thể chỉ là mùi chè để lâu trong ấm đất. Cô không nghĩ gì thêm lúc ấy. Về sau, mỗi lần nhớ lại đêm này, cô đều dừng ở đúng chi tiết mùi chè và tự trách mình đã không nghĩ gì thêm.
- Thế anh nhớ gọi chú dậy đấy. Em vào nằm, có gì anh gọi em. - Ừ, em cứ nghỉ đi. Ngoài này có anh rồi.
Hà quay vào buồng, nhưng lòng đã không yên như trước. Cô nằm xuống, nghe mưa, đếm từng cơn gió. Cô nghĩ về ông Bính, người chú hiền lành, cả đời ít nói, làm ruộng và nghe lời vợ con, chưa bao giờ to tiếng với ai trong họ. Ông ngủ gật trong phiên canh của chính cha mình, nếu mai bác Lương biết, ông sẽ xấu hổ lắm. Cô định bụng lát nữa sẽ ra nhắc Hiệp lần nữa, hoặc tự mình gọi ông dậy, pha cho ông chén nước gừng, để ông tỉnh táo ngồi hết phiên.
Thời gian trong đêm mưa trôi rất chậm. Đồng hồ quả lắc gõ một tiếng, là mười hai giờ rưỡi hay một giờ kém, cô không phân biệt được trong cơn nửa tỉnh nửa mê. Cô không ngủ, chỉ nằm nghe. Nghe tiếng mưa ngớt một nhịp rồi lại dồn. Nghe tiếng con chó nhà ai ngoài ngõ sủa vu vơ rồi im. Nghe trong gian giữa tuyệt nhiên không có tiếng người, chỉ thỉnh thoảng tiếng ghế tre kêu kẽo kẹt rất khẽ, như có người đứng lên rồi lại ngồi xuống.
Rồi cô nghe một thứ tiếng khác, xa và nhỏ, từ phía sau nhà vọng lại qua màn mưa, tiếng bản lề sắt của một cánh cửa nào đó mở ra rồi khép lại. Chuồng trâu sau nhà, hay cửa bếp, cô không đoán được. Tiếng ấy chỉ thoáng qua, mưa đã át đi ngay. Hà trở mình, kéo chăn lên cao hơn. Trong đầu cô hiện lên hình ảnh ông Bính gục đầu ngủ và Hiệp ngồi thẳng lưng mắt dán vào cửa sổ, một hình ảnh càng nghĩ càng thấy không đúng, mà không đúng ở đâu thì cô chưa nói ra được.
Cô quyết định đợi thêm một lát nữa sẽ ra gian giữa. Nằm trong tối, cô mở cuốn sổ tay trong trí nhớ, rà lại những điều người lớn dặn về lệ canh xác: hai người một phiên, không ai được ngủ, lưới bồ kết phải treo kín, cửa sổ phải khép, mèo chó không được bén mảng. Đêm nay, trong những điều ấy, đã có một điều bị phá ngay trước mắt cô, một người canh đang ngủ say như không còn biết gì. Và người canh còn lại thì tỉnh táo một cách lạ lùng, tỉnh như người đang chờ một điều gì sắp đến chứ không phải người ngồi canh cha ông trong đêm mưa.
Mưa vẫn quất lên mái ngói, dồn dập như trống, không có dấu hiệu ngớt. Hà nằm yên, mắt mở trong bóng tối, chờ nhịp đồng hồ tiếp theo để lấy cớ đứng dậy ra ngoài gian giữa một lần nữa.
---