QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 17: Lùa bắt trong gian giữa

Ông Lương không nhớ mình đã chạy vòng đầu tiên quanh gian giữa như thế nào. Ông chỉ nhớ hai cánh tay cứng đờ ấy tiến thẳng về phía mặt mình, nhớ bà Hảo…

Nội dung chương

Ông Lương không nhớ mình đã chạy vòng đầu tiên quanh gian giữa như thế nào. Ông chỉ nhớ hai cánh tay cứng đờ ấy tiến thẳng về phía mặt mình, nhớ bà Hảo hét tên ông. Và nhớ chân mình tự nó lùi lại, quay người, chạy dọc theo cạnh bàn thờ về phía cửa chính trong một phản xạ mà cả đời làm ruộng ông chưa từng dùng tới. Thi thể ở sau lưng ông bước đều, đế chân kéo lê trên gạch, tiếng sột soạt không nhanh không chậm, bám theo ông như một cái bóng nặng nề không biết mệt.

Gian giữa nhà cổ không rộng. Từ giường tới bàn thờ chỉ mấy bước, từ bàn thờ tới cửa chính cũng mấy bước, ngày thường đi lại thong thả, đêm nay trong bóng tối và hoảng loạn nó biến thành một vòng chật hẹp không lối thoát. Ông Lương chạy tới cửa chính, hai tay đập vào cánh cửa gỗ lim, đẩy mạnh. Cửa không nhúc nhích. Ông đẩy lần nữa, dồn cả vai vào, cửa chỉ rung lên. Bên ngoài, tiếng sắt kêu loảng xoảng. Chốt sắt ngoài cửa, thứ chốt dùng để khóa nhà khi cả nhà đi vắng, vừa bị cơn gió bão cực mạnh quật cánh cửa sập vào và chốt tự rơi xuống, khóa chặt cửa từ bên ngoài. Họ bị nhốt trong gian nhà cùng với thi thể đang đi lại.

- Cửa sập chốt rồi. Mở không được. Hà, gọi người ngoài sân, gọi ông Tứ ở chái nhà. - Ông Tứ ơi, có ai ngoài ấy không, cứu nhà cháu với.

Hà gào qua khe cửa sổ mở toang, giọng lạc đi trong tiếng gió. Không có tiếng đáp. Chái nhà ở bên hông, cách một khoảng sân, mưa và gió nuốt hết tiếng người. Bà Liên ôm bà Hảo lùi sát vào góc bàn thờ, hai người phụ nữ níu chặt tay nhau, bà Liên miệng không ngừng lẩm bẩm, bà Hảo thì khóc nấc, vừa khóc vừa gọi tên chồng mỗi khi thi thể đổi hướng.

Thi thể đổi hướng theo ông Lương. Đó là điều ông nhận ra sau vòng chạy thứ hai, nhận ra bằng cả thân người chứ không phải bằng suy nghĩ. Khi ông đứng yên nép sau cột nhà, thi thể khựng lại, đầu quay qua quay lại chậm chạp như mất dấu. Khi ông nhúc nhích, khi hơi thở của ông phả ra mạnh vì mệt, khi vạt áo của ông quệt vào cạnh bàn tạo một luồng gió nhỏ, thi thể lập tức quay về phía ấy và bước tiếp. Nó không nhìn ông như người nhìn người. Nó bám theo hơi người và luồng gió mỗi khi ông di chuyển, bám một cách mù quáng và đều đặn, càng ông chạy nó càng bám sát, như thể chính sự chạy của ông đang kéo nó đi.

Vòng chạy thứ ba ngắn hơn, vì chân ông đã mỏi và hơi thở đã đứt từng đoạn. Ông Lương cả đời quen việc đồng áng, quen gánh nặng đi đường dài, nhưng ông chưa bao giờ chạy trong chính gian nhà của mình, giữa bàn thờ và giường cha, trong bóng tối chỉ có một ngọn đèn dầu và một cây đèn pin run rẩy. Mỗi lần ông vòng qua chân giường, tấm lưới bồ kết bay lệch lại quệt vào mặt ông, sợi gai ráp và mùi bồ kết khô xộc vào mũi, nhắc ông rằng hàng rào lệ mà cả nhà tin tưởng đã hỏng từ trước khi đêm nay bắt đầu. Ông nghĩ tới chiều hôm qua, lúc Hà treo lại góc lưới bị tháo, ông còn đứng ở sân nói vọng vào rằng treo cho chắc vào là được, mai liệm rồi thì thôi. Ông không kiểm tra lại bằng tay mình. Ông không hỏi vì sao góc lưới ấy tự nhiên bị tháo. Những việc không hỏi ấy giờ xếp hàng trong đầu ông giữa tiếng chân kéo lê sau lưng, việc nào cũng nhỏ, cộng lại thì thành cánh cửa mở toang cho chuyện này bước vào nhà.

Có một lúc, khi vòng qua phía cửa sổ, ông thoáng thấy ngoài vườn tối đen có một vệt sáng rất nhỏ quét qua hàng chuối rồi tắt. Như ai đó ngoài ngõ vừa đi qua với đèn pin, hoặc như mắt của một con vật nào vừa phản quang trong mưa. Ông không dừng lại được để nhìn kỹ. Thi thể ở sau lưng ông chỉ còn cách mấy bước, hai cánh tay giơ thẳng đã gần chạm vào vai áo ướt mồ hôi của ông. Ông né sang trái, vai quệt vào khung cửa sổ, chiếc khăn chèn khe cửa rơi xuống nền gạch ướt. Gió thốc vào mạnh hơn, mưa hắt lên mặt ông lạnh buốt, và chính luồng gió ấy, cùng hơi người của ông, lại kéo thi thể rẽ theo đúng hướng ông vừa né.

- Đứng yên. Mọi người đứng yên hết, đừng chạy nữa.

Hà hét lên từ phía cửa sổ, giọng cô vang rõ trong một nhịp gió ngớt. Cô cũng vừa nhận ra điều ấy từ chỗ đứng của mình, nơi cô cầm đèn pin và nhìn toàn cảnh gian giữa rõ hơn người trong cuộc. Bà Hảo nghe lời cô, đứng chết trân ở góc bàn thờ, kéo cả bà Liên đứng yên. Ông Bính vẫn mê man trên ghế canh ở góc kia, đầu gục xuống, không biết gì về cảnh tượng quanh mình, và sự mê man ấy lúc này lại thành may mắn. Vì thi thể không hề hướng về phía ông, một người ngồi yên không động đậy và hơi thở đều nhẹ như không có ai ở đó.

Nhưng ông Lương không đứng yên được. Thi thể đã tiến quá gần, hai cánh tay giơ thẳng chỉ còn cách ngực ông một khoảng ngắn. Bản năng sống trong ông mạnh hơn mọi lời dặn. Ông quay người chạy vòng qua phía giường, định vòng về phía cửa hông ở gian bên, nơi có lối ra chái nhà. Chân ông vướng vào chân chiếc ghế canh đã đổ. Ông loạng choạng, cố vịn vào thành giường, tay trượt trên tấm vải liệm ướt, cả người ngã xuống nền gạch ngay trước bàn thờ, một bên hông đập mạnh xuống đất, đau điếng, hơi thở bật ra thành tiếng kêu.

Cú ngã làm một bên hông ông đau buốt tới tận lưng, khuỷu tay ông đau rát vì quệt xuống gạch, nhưng ông không kêu to, chỉ rít một hơi qua kẽ răng. Về sau khám lại, chỗ hông ấy chỉ bầm tím một mảng lớn, tím bầm suốt mấy ngày lễ viếng, không gãy xương, không chảy máu trong. Một cái may mắn mà ông vẫn nhắc là nhờ cha còn thương, dù chính ông cũng biết nói thế không đúng với những gì thầy Nhẫn sẽ phân định sau này. Lúc nằm trên nền gạch, ông nghe rõ hơn bao giờ hết tiếng đế chân thi thể kéo lê tới gần, từng tiếng sột soạt một ngắn dần theo khoảng cách thu hẹp, và ông nghe cả tiếng tim mình đập vào nền gạch lạnh qua lồng ngực.

Ông ngã một lần ấy thôi, nhưng là lần ngã làm cả gian nhà như ngừng thở. Thi thể bước tới, không nhanh hơn, vẫn nhịp bước đều đều kéo lê, và dừng lại ngay bên cạnh ông Lương đang nằm trên nền gạch. Nó đứng đó, cao và gầy trong ánh đèn dầu, hai cánh tay giơ thẳng từ từ hạ thấp xuống theo hướng đầu ông, các ngón tay cứng đờ cong lại như sắp ôm lấy đầu người nằm dưới. Ông Lương nhìn lên, nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu của cha mình ở khoảng cách gần nhất, và trong lúc ấy ông không còn thấy cha nữa. Chỉ thấy một cái xác bị thứ gì đó kéo đi, một cái xác không nhận ra con, không nghe tiếng gọi, không có gì của người cha đã dặn dò ông giữ nhà giữ đất.

- Cha ơi, ông gọi, giọng vỡ ra. Cha ơi, con là Lương đây, cha có nghe con không.

Thi thể không đáp. Nó chưa bao giờ đáp. Hai cánh tay vẫn hạ xuống chậm rãi. Bà Hảo gào lên, định lao ra khỏi góc bàn thờ để kéo chồng dậy thì Hà giữ chặt lấy bà.

- Đừng chạy, bác gái, chạy là nó quay sang bác đấy. Đứng yên.

Đúng lúc ấy, từ phía cửa hông gian bên, một bóng người lao vào giữa gian giữa. Bóng người ấy cao gầy, tóc ướt, tay giơ cao một tấm vải gai thô lớn, miệng gào to át cả tiếng mưa.

- Tất cả đứng yên, không ai được chạy. Chạy là nó đuổi theo gió người đấy.

Ông Tứ đã tới. Ông vào nhà qua cửa hông từ chái nhà, giật tấm rèm gai treo trước bàn thờ xuống, tấm rèm sợi gai thô mà ban ngày vẫn treo trước bàn thờ gia tiên. Mắt ông, đôi mắt của người thợ mộc hơn năm mươi năm đi đóng áo quan khắp vùng, quét một vòng gian giữa trong ánh đèn chập chờn, dừng lại ở thi thể đang cúi xuống ông Lương, rồi dừng lại ở bậu cửa gỗ lim sau lưng ông. Trong một giây, ông đã hiểu phải làm gì, hiểu rõ như người thợ nhìn một mối mộng bị bung biết phải đóng chốt vào đâu.

Ông cố chống tay ngồi dậy mà hông đau quá, đành nằm yên, mắt không rời tấm rèm gai trên tay ông Tứ. Trong đầu ông lúc ấy chỉ còn một ý nghĩ duy nhất, rõ ràng tới lạ giữa cơn hoảng loạn: người thợ hòm già này biết việc mình làm. Cả nhà ông từ lúc cửa sổ bật tung tới giờ chỉ biết chạy, hét và khóc, những phản ứng của người sống trước một điều vượt ngoài mọi lệ thường. Riêng ông Tứ bước vào nhà như bước vào một việc nghề đã định sẵn cách làm, không một động tác thừa. Ông Lương bám vào ý nghĩ ấy như bám vào một chiếc phao, và ông tự hứa trong lòng, ngay trên nền gạch lạnh của gian giữa, rằng nếu đêm nay cả nhà qua được. Ông sẽ không bao giờ để ai trong họ coi nhẹ lệ canh xác nữa, dù là một chiếc chốt cửa, một góc lưới, hay một phiên canh bị bỏ ngủ.

Ông Lương nằm trên nền gạch, nhìn ông Tứ bước thẳng về phía thi thể, tấm rèm gai giơ cao trong tay, và lần đầu tiên từ lúc cửa sổ bật tung, ông thấy một người trong gian nhà này không hề run.

---

Chương khác

Xem thêm