QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 20: Sau tiếng gào
Sau tiếng gào của Hiệp, gian giữa nhà cổ không còn im lặng được nữa. Mọi âm thanh hậu quả dồn tới cùng một lúc: tiếng Hiệp rên khóc ôm cổ tay gãy, tiếng…
Nội dung chương
Sau tiếng gào của Hiệp, gian giữa nhà cổ không còn im lặng được nữa. Mọi âm thanh hậu quả dồn tới cùng một lúc: tiếng Hiệp rên khóc ôm cổ tay gãy, tiếng bà Hảo chạy đi chạy lại tìm khăn và thanh tre. Tiếng bà Liên gọi người khiêng đèn, tiếng ghế được dựng lại, tiếng mưa vẫn quất đều trên mái như chưa từng có gì xảy ra ngoài kia. Ông Lương ngồi trên nền gạch, lưng dựa vào chân bàn thờ, một bên hông đau nhức vì cú ngã lúc nãy, tay ông vẫn đặt trên vai cháu trai đang khuỵu bên cạnh, mặt ông trắng bệch và ướt, không rõ là mồ hôi, nước mưa hay nước mắt.
Ông Bính tỉnh dậy giữa cảnh ấy. Thuốc ngủ trong người ông chưa tan hết, ông mở mắt lờ đờ, ngơ ngác nhìn gian giữa lộn xộn, nhìn thi thể cha mình nằm nghiêng trên nền gạch trong tấm rèm gai, nhìn ông Tứ quỳ bên cạnh đầu cụ. Rồi nhìn thấy con trai mình ngồi bệt dưới đất ôm cổ tay gập xuống một góc lạ, mặt tái mét, khóc vì đau. Ông Bính ú ớ một tiếng, cố đứng dậy khỏi ghế canh, hai chân mềm nhũn, mắt trợn lên, rồi cả người ông đổ sụp xuống, ngất đi ngay trên nền gạch trước sự chứng kiến của cả nhà.
- Bính, Bính ơi, bà Sen từ buồng bên chạy ra, quỳ xuống ôm đầu chồng, khóc gọi. - Nó ngất vì sốc thôi, với thuốc ngủ chưa tan hết người nó yếu. Để nó nằm yên, kê đầu cao lên, nới cổ áo ra. Một lát nó tỉnh.
Ông Tứ nói nhanh mà chắc, tay ông vẫn không rời thi thể cụ cố. Ông cùng Hà và một người cháu họ vừa vòng vào bằng cửa hông, ba người nâng thi thể bọc trong rèm gai lên, đặt lại lên giường gỗ giữa gian, ngay ngắn, tay chân duỗi thẳng, đầu hơi nghiêng được ông chỉnh lại cho thẳng. Ông Tứ tự tay kéo tấm vải trắng sạch khác phủ lên mặt cụ, vuốt lại mép vải, đứng yên một lúc nhìn người nằm, rồi mới quay ra lo việc người sống.
Hiệp được nẹp tạm cổ tay phải bằng hai thanh tre ngắn bà Hảo tìm được trong bếp, quấn khăn vải quanh ngoài, tay treo lên cổ bằng một chiếc khăn dài. Hắn ngồi dựa vào cột nhà, mặt nhợt, môi cắn chặt mỗi khi ai chạm nhẹ vào cánh tay. Hắn không đi viện ngay được. Trời vẫn mưa bão, đường làng ngập, xe máy không đi nổi, xe của xã cũng chưa vào được ngõ ngập nước. Người nhà quyết định để hắn ngồi yên tới khi trời sáng và mưa ngớt, có người ngồi cạnh trông, thỉnh thoảng cho uống nước ấm. Hắn gật đầu với mọi sắp xếp, không nói một lời nào về việc vừa xảy ra, mắt tránh nhìn về phía giường.
Trong lúc chờ nẹp tay cho Hiệp và chờ ông Bính tỉnh, ông Lương đi một vòng quanh gian giữa bằng đôi chân còn run, tự tay làm những việc mà lẽ ra ông phải làm từ trước nửa đêm. Ông khép chặt cửa sổ, lấy một thanh gỗ chèn ngang hai cánh cửa thay cho chiếc chốt long, buộc thêm dây gai cho chắc. Ông nhặt tấm lưới bồ kết bị tung góc lên, vuốt phẳng, treo lại ngay ngắn quanh giường dù biết chỉ còn mấy giờ nữa là tới lễ khâm liệm. Ông dựng lại chiếc ghế canh bị đổ, xếp lại những chiếc chén trên bàn thờ, thắp lại nén hương đã tắt vì gió. Mỗi việc ông làm đều chậm và cẩn thận quá mức cần thiết, như một cách ông xin lỗi người cha nằm trên giường vì một đêm canh giữ không trọn. Hà đứng gần đó nhìn bác mình làm, không ngăn, cũng không phụ giúp những việc ông muốn tự làm. Cô hiểu có những việc người con trưởng phải tự tay làm cho xong, dù muộn, thì lòng mới yên được phần nào.
Ông Bính tỉnh lại sau chừng mười phút, mở mắt nhìn quanh ngơ ngác, hỏi một câu không đầu không cuối rằng cha đã liệm chưa. Rồi khi nhìn thấy tay con trai đã nẹp tre treo trước ngực, ông lại lặng đi, nước mắt chảy ra mà không thành tiếng khóc. Bà Sen đỡ ông ngồi dựa vào tường, cho ông uống từng ngụm nước ấm. Ông nhìn sang anh cả, miệng mấp máy mấy lần như muốn nói điều gì, cuối cùng chỉ gọi được một tiếng anh ơi rồi cúi đầu. Ông Lương đặt tay lên vai em, không nói tha thứ hay trách móc, chỉ nói một câu rằng còn người là còn nhà, mọi chuyện để sáng mai rồi tính.
Người nhà vòng ra mặt trước nhà bằng lối cửa hông, trèo qua hàng rào ướt, tháo chốt sắt cửa chính từ bên ngoài. Cánh cửa gỗ lim mở ra, gió và mưa lùa vào một lúc rồi dịu lại khi bão bắt đầu ngớt dần về phía sông. Một thanh niên trong họ đội áo mưa, lội nước ra đầu làng đón thầy Nhẫn. Đường đi khó, mất gần một giờ, thầy tới nơi lúc trời còn tối đen. Người ướt sũng từ đầu gối trở xuống, tay xách chiếc túi vải đựng đồ nghề xem giờ và lễ lạt, mặt nghiêm lại ngay khi bước qua bậu cửa gian giữa và thấy cây đục đồng đỏ vẫn cắm ngập trong tấm gỗ lim.
Thầy Nhẫn không hỏi nhiều. Ông đứng bên giường một lúc lâu, nhìn mặt cụ cố đã được phủ vải, nhìn tấm lưới bồ kết bị gỡ góc bay lệch. Nhìn cửa sổ đã được khép lại và chèn chặt, nhìn cây đục ở bậu cửa và tấm rèm gai đang phủ tạm ở chân giường. Rồi ông quay lại nói với ông Lương bằng giọng chậm rãi, rõ từng chữ, để cả nhà cùng nghe.
- Tôi nói điều này cho cả nhà yên lòng. Cụ đã đi ngay từ chiều hôm mười bốn, đi nhẹ nhàng, hồn cụ không còn ở đây đâu. Cái vừa cử động lúc nãy không phải cụ về, không phải cụ oán ai. Xác người mới mất còn tích điện, gặp con linh miêu đạp qua ngực đúng giờ âm thịnh đêm bão. Điện âm kích vào thì xác bật dậy như một cái máy bị chập điện, đuổi theo hơi người và gió động, ai chạm vào thì nó túm lấy, thế thôi. Nó không biết ai là ai, không thù, không oán. Đừng để tiếng đồn ngoài làng làm bẩn danh cụ. - Thế giờ khâm liệm thì sao hả thầy, ông Lương hỏi, giọng ông khàn đặc. Theo lời thầy dặn hôm trước thì phải chờ tới sáng mười bảy mới là giờ hoàng đạo. - Không chờ nữa. Việc đã thế này, để xác nằm thêm hai đêm là dại. Trời vừa sáng là khâm liệm ngay, bảy giờ sáng nay làm lễ, liệm xong nhập quan trong buổi sáng. Giờ hoàng đạo là để cầu tốt lành, mà tốt lành nhất cho cụ lúc này là được nằm yên trong quan tài sớm, không phải nằm giữa gian cho người ta ra vào đồn thổi.
Ông Lương gật đầu, hai tay ông nắm chặt vào nhau. Ông nhìn cha nằm trên giường, nhìn quanh gian nhà bừa bộn sau tám phút kinh hoàng, nhìn em trai vừa tỉnh lại đang ngồi dựa vào tường mặt vẫn chưa hết bàng hoàng, nhìn cháu trai ôm cánh tay nẹp tre ngồi im ở góc cột. Rồi ông ngồi xuống chiếc ghế canh bên giường cha, cúi đầu, và lần đầu tiên từ khi cụ mất, ông khóc thành tiếng. Ông khóc không giấu, hai vai rung lên, nước mắt chảy xuống hai bàn tay chai sần đang úp trên đầu gối. Ông khóc vì cha, vì sợ, vì nhẹ nhõm, vì cảm giác mình vừa được kéo lại từ miệng một vực tối mà ông không gọi tên được. Bà Hảo ngồi xuống bên cạnh, đặt tay lên lưng chồng, không nói gì, để ông khóc cho hết.
Trong lúc mọi người dồn quanh ông Lương và thầy Nhẫn, Hà lặng lẽ quay lại chỗ giữa gian, nơi thi thể đã đổ gục xuống lúc nãy. Vật nhỏ đen sì vẫn nằm trên nền gạch ướt, gần chân giường, lẫn trong vệt nước mưa và bụi, suýt bị chân người qua lại giẫm lên mấy lần mà may mắn vẫn còn nguyên. Cô rút chiếc khăn tay trắng trong túi áo, chiếc khăn cô vẫn mang theo trong những ngày tang, cúi xuống, dùng khăn bọc lấy vật ấy nhặt lên, không để ngón tay chạm trực tiếp vào nó. Cầm qua lớp khăn, cô cảm thấy nó nhỏ, cứng, cong nhọn ở một đầu, đúng hình một chiếc móng vuốt mèo đã gãy, phần gốc còn dính máu đã hơi khô, sẫm lại thành màu nâu đỏ.
Cô vào gian bên, lấy chiếc lọ thủy tinh nhỏ vốn đựng kim chỉ để ở ngăn tủ, đổ kim chỉ ra, tráng nhanh lọ bằng nước sạch, lau khô. Rồi bỏ chiếc móng vuốt còn bọc trong khăn tay vào lọ, sau đó mới rút khăn ra, để một mình chiếc móng nằm trong lọ. Cô đậy nắp thật chặt, cầm lọ lên ngang ánh đèn. Qua lớp thủy tinh, chiếc móng đen cong hiện rõ, vệt máu trên gốc móng cũng hiện rõ. Cô cất lọ vào túi áo trong, kéo khóa túi, tay giữ bên ngoài túi một lúc như kiểm tra nó còn đó.
Trước khi cất lọ, cô đứng một mình trong gian bên một lúc, nghe tiếng mọi người ngoài gian giữa đã dần bình tĩnh lại, tiếng thầy Nhẫn dặn dò, tiếng ông Tứ nói chuyện với bác Lương bằng giọng nhỏ. Cô biết từ giờ phút này, việc của cô trong tang lễ này đã khác. Cô không chỉ là đứa cháu gái về lo tang, ghi sổ, tiếp khách. Cô là người đang giữ trong túi áo một vật chứng mà không ai khác trong nhà để ý tới, một chiếc móng vuốt mèo đen dính máu rơi ra từ miệng người đã mất. Và cô sẽ phải quyết định lúc nào nói ra, nói với ai, và nói như thế nào để sự thật của đêm nay không bị tiếng đồn quỷ nhập tràng nuốt mất. Cô nắm chặt miệng túi áo một lần nữa rồi bước ra gian giữa, mặt bình tĩnh như chưa từng nhặt thứ gì trên nền gạch.
Ngoài gian giữa, thầy Nhẫn đang dặn mọi người chuẩn bị nước ấm, vải liệm và hương đèn cho lễ khâm liệm lúc bảy giờ sáng. Ông Tứ rút cây đục đồng đỏ khỏi bậu cửa, lau khô, tra lại vào thắt lưng, nói sáng mai sẽ quay lại sớm. Mưa đã ngớt hẳn, chỉ còn tiếng nước nhỏ giọt từ mái hiên xuống sân. Đồng hồ quả lắc chỉ hai giờ ba mươi phút. Ông Lương vẫn ngồi bên giường cha, mắt đỏ, tay đặt nhẹ lên thành giường, không rời đi nữa cho tới khi trời sáng.
---