QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 21: Khâm liệm lúc trời sáng

Bão tan lúc trời còn chưa sáng hẳn. Trần Thu Hà bước ra sân lúc năm giờ rưỡi, chân giẫm lên một lớp lá ướt dày như thảm mục. Cành bưởi sau nhà gãy một…

Nội dung chương

Bão tan lúc trời còn chưa sáng hẳn.

Trần Thu Hà bước ra sân lúc năm giờ rưỡi, chân giẫm lên một lớp lá ướt dày như thảm mục. Cành bưởi sau nhà gãy một cành lớn, đổ chéo qua lối ra chuồng trâu. Mái ngói nhà cổ rụng mất mấy viên ở phía đông, nước mưa đọng thành vũng trong sân gạch, phản chiếu mảng trời xám vừa hửng. Mùi đất ẩm, mùi lá dập và mùi nhang trong nhà quyện vào nhau, nặng trĩu.

Đêm qua, sau khi thầy Nhẫn được đón đến trong mưa, cả nhà gần như không ai ngủ. Ông Tứ ngồi ở thềm trong tới gần sáng, tay vẫn nắm cây đục đồng đỏ, mắt nhìn vào gian giữa không chớp. Bác cả Lương ngồi bên giường cụ cố, hai tay đặt trên đầu gối, lưng còng xuống như người vừa gánh một gánh quá nặng rồi đặt xuống mà vai vẫn chưa thẳng lại được. Hà ngồi ở mép giường phía chân, chiếc lọ thủy tinh đựng móng vuốt mèo đã được cô cất sâu vào túi trong của áo, thỉnh thoảng cô lại chạm tay vào để chắc chắn nó còn đó.

Thầy Nhẫn xem lại giờ, giọng khàn vì thiếu ngủ.

- Trời sáng là khâm liệm ngay. Không chờ giờ hoàng đạo nữa. Cụ đã đi hẳn rồi, để lâu thêm chỉ khổ người sống.

Không ai hỏi lại. Trong nhà lúc này, không ai còn bụng dạ nào nhắc tới hai chữ giờ giấc. Đêm qua đã dạy cả nhà một bài học mà không cuốn sách lễ nào ghi: có những cái chờ đợi không phải vì lệ, mà vì người ta chưa kịp sợ đủ.

Sáu giờ, người nhà bắt đầu chuẩn bị nước tắm cho cụ. Bà Hảo đun nồi nước lớn ngoài bếp, bỏ lá bưởi và lá sả như lệ vẫn làm. Bà Liên trải tấm vải liệm trắng lên chiếc chõng tre kê giữa gian. Hà đứng ghi vào cuốn sổ nhỏ của mình, theo thói quen người làm văn thư: giờ bắt đầu, người có mặt, đồ dùng đã đủ. Thầy Nhẫn nhìn cô ghi, gật đầu mà không nói gì. Trong đám tang, một người nhớ thay cả nhà cũng là một cách giữ lệ.

Khi tắm rửa cho cụ, Hà đứng ở phía đầu giường. Khuôn mặt cụ cố sau một đêm đã trở lại vẻ yên tĩnh của người già ngủ say. Đôi mắt nhắm khít. Đôi môi khép lại bình thường, không còn dấu vết gì của cái miệng đã há ra trong bóng tối và nhả xuống sàn một chiếc móng vuốt đen. Hà nhìn thật kỹ, như muốn tự thuyết phục mình rằng những gì xảy ra lúc một giờ sáng chỉ là một cơn ác mộng tập thể. Nhưng cổ tay phải của anh Hiệp đã gãy. Vai bác cả còn in vết bầm tím. Và chiếc lọ thủy tinh trong túi áo cô là thật.

- Hà, đỡ tay cụ.

Tiếng bà Liên kéo cô về. Hà đỡ cánh tay trái của cụ cố lên để người nhà luồn áo liệm. Cánh tay nhẹ và lạnh, mềm như tay người ngủ. Không còn cứng đờ như đêm qua. Cô chợt rùng mình, không phải vì sợ, mà vì sự tương phản quá lớn: cũng bàn tay nhà này, đêm qua đã túm gãy xương người sống; sáng nay nằm yên trong tay cháu gái, nhẹ như một cành khô.

Khâm liệm bắt đầu đúng bảy giờ. Thầy Nhẫn chủ trì, đọc từng đoạn văn khấn chậm rãi. Ông Tứ đứng ở đầu phía bậu cửa, lặng lẽ xem người nhà quấn vải liệm, thỉnh thoảng nhắc một câu ngắn.

- Quấn đều tay. Đừng chặt quá ở ngực.

- Gót chân để thẳng.

Hà ghi nhớ những câu ấy. Sau này cô mới hiểu, trong một đám tang, người thợ hòm là người giữ cho mọi thứ không rối. Người sống đang hoảng, đang đau, tay chân thừa thãi. Chỉ cần một người biết việc đứng yên và nói ít, cả gian nhà sẽ tự tìm lại được nhịp của nó.

Trước giờ khâm liệm, thầy Nhẫn đi một vòng quanh giường, tự tay kiểm tra lại từng thứ một. Ông xem tấm vải liệm đã giặt sạch chưa, xem bộ áo liệm xếp ngay ngắn chưa, rồi cúi xuống nhìn sát mặt cụ cố một lúc lâu. Cả nhà nín thở chờ. Đêm qua chính ông là người được đón đến trong mưa, cũng chính ông khẳng định cái vừa cử động chỉ là xác bị kích, hồn cụ đã đi ngay từ chiều mười bốn. Lúc này ông kiểm tra lại lần cuối, như người gác cửa kiểm tra khóa trước khi giao chìa khóa.

- Mặt mũi yên rồi. Tay chân mềm rồi. Không còn gì vương lại đâu.

Ông nói khẽ, chỉ đủ cho người trong nhà nghe. Bác cả Lương thở ra một hơi dài, vai chùng xuống. Hà để ý, từ lúc một giờ sáng tới giờ, đây là lần đầu tiên bác cả thở ra được như thế.

Rồi thầy Nhẫn quay sang dặn việc nhập quan lúc mười giờ và việc phát tang, giọng trở lại đều đều như mọi đám tang khác trong làng. Ông nói giờ giấc, nói thứ tự con cháu đứng, nói ai cầm bát hương, ai đi trước áo quan khi đưa tang ngày mười tám. Nghe ông dặn, Hà bỗng thấy biết ơn cái giọng đều đều ấy. Đám tang cần những người nói chuyện tang lễ như nói chuyện mùa màng, bình thường và chắc chắn, để người nhà tin rằng đời vẫn còn một trật tự để bám vào sau một đêm trật tự vỡ tung.

Ông Bính lúc này mới rụt rè lên tiếng, giọng nhỏ như người xin phép.

- Thầy xem giúp, việc đêm qua... có ảnh hưởng gì tới cụ không ạ?

Thầy Nhẫn nhìn ông một lúc.

- Cụ mất lúc sáu giờ bốn mươi chiều mười bốn, đi yên lành trong giấc ngủ. Cái xảy ra đêm qua là chuyện của cái xác và của người sống trong nhà này. Đừng gán cho cụ. Gán cho cụ là bất hiếu thêm một lần nữa.

Ông Bính cúi đầu, hai tay xoắn vào nhau. Hà nhìn bác hai của mình, thấy thương nhiều hơn giận. Đêm qua ông ngủ gục trên ghế canh vì ấm chè của chính con trai mình pha. Ông tỉnh dậy giữa tiếng gào, thấy con ôm tay gãy, thấy anh cả ngồi khóc bên giường cha. Với một người hiền lành nhu nhược cả đời, chừng ấy là quá sức chịu đựng của một đêm.

Bảy giờ bốn mươi, khâm liệm xong. Thi thể cụ cố được bọc kín trong vải liệm trắng, đặt ngay ngắn trên giường gian giữa, chờ giờ nhập quan lúc mười giờ. Gian nhà bỗng trở nên yên tĩnh theo một cách khác hẳn đêm qua: cái yên tĩnh của việc đã xong, của một cánh cửa đã khép lại và không còn mở ra nữa. Hà biết, từ giờ phút này, dù có chuyện gì xảy ra ngoài kia, trong này sẽ không còn gì động đậy. Điều kiện cuối cùng của đêm kinh hoàng đã bị chính nghi lễ này xóa bỏ.

Ông Tứ rửa tay ở chậu nước ngoài thềm, rồi quay vào nói với bác cả.

- Xong rồi anh Lương. Cụ yên rồi. Phần còn lại là việc của người sống, làm cho tròn là được.

Bác cả gật đầu, mắt đỏ hoe.

- Nhờ chú cả đêm qua. Họ này mang ơn chú.

- Ơn nghĩa gì. Tôi ăn cơm nghề này năm mươi năm, gặp chuyện thì phải xử. Lệ canh xác đặt ra không phải để sợ ma. Nó đặt ra để người sống không hại nhau trong đêm tối, anh ạ.

Câu nói ấy Hà nghe lần thứ hai trong đầu suốt buổi sáng, dù ông Tứ chỉ nói một lần. Cô ghi nó vào sổ, gạch chân.

Song song với việc khâm liệm, người nhà giội nước vôi tôi khắp sàn và thềm gian giữa để tẩy uế. Nước vôi trắng đục chảy thành dòng dọc theo các rãnh gạch, cuốn theo tro nhang, bùn đất và những vệt nước mưa đọng từ đêm bão. Mùi vôi hăng lên, át mùi ẩm mốc. Bà Hảo vừa giội vừa khóc lặng, thỉnh thoảng lại đưa tay áo lên lau mắt. Hà biết bà không chỉ tẩy sàn. Sau một đêm như đêm qua, ai cũng cần một việc gì đó cụ thể để làm bằng tay, để tin rằng gian nhà này đã sạch lại, đã là nhà của người sống.

Anh Hiệp được đưa đi viện huyện từ lúc trời vừa sáng, trên chiếc xe bán tải của người em họ bên làng bên. Lúc đi, tay phải của anh được nẹp tạm bằng hai thanh tre và vải xé từ áo cũ, mặt anh trắng bệch, môi mím chặt không kêu một tiếng. Chị Phượng đi theo chăm. Trước khi xe lăn bánh, Hà đứng ở cổng nhìn theo, thấy anh Hiệp quay đầu nhìn lại gian giữa một lần, rất nhanh, rồi quay đi. Cái nhìn ấy không giống nhìn nhà có tang. Nó giống nhìn một nơi mình vừa thoát ra.

Khoảng tám giờ, điện thoại của chị Phượng gọi về. Bà Liên nghe máy, mở loa ngoài cho cả nhà cùng nghe, giọng bác sĩ huyện ở đầu dây bên kia đều đều, không cảm xúc, như đọc một dòng trong sổ khám.

- Gãy xương quay cổ tay phải. Gãy đóng, không phải mổ, nhưng phải bó bột cố định ít nhất sáu tuần. Trong thời gian bó bột tuyệt đối không dùng tay phải làm việc nặng. Sau tháo bột phải tập phục hồi, tay sẽ yếu đi một phần là chuyện thường gặp ở ca gãy vị trí này.

Gian nhà im lặng nghe hết. Bác cả ngồi trên ghế đẩu, hai tay đan vào nhau. Ông Bính ngồi ở góc, mặt cúi gằm, từ sáng tới giờ chưa nói câu nào ra hồn. Hà ghi vào sổ: gãy xương quay cổ tay phải, bó bột ít nhất sáu tuần, có giấy của bệnh viện huyện.

Cô ghi xong, nhìn dòng chữ của chính mình một lúc lâu. Đêm qua, trong tám phút, bao nhiêu thứ đã đổi thay không quay lại được. Cụ cố đã đi. Tay anh Hiệp đã gãy. Và trong túi áo cô, một chiếc móng vuốt mèo đen dính máu đang nằm yên trong lọ thủy tinh, chờ đến lượt được nói lên điều nó biết.

Hà đóng sổ lại. Ngoài sân, nắng đầu tiên sau bão đã lên, hong khô dần những vũng nước trong sân gạch. Tiếng người làng bắt đầu rậm rịch ngoài ngõ, họ đến giúp dựng rạp, kê bàn ghế cho lễ nhập quan lúc mười giờ. Đám tang, sau một đêm lạc khỏi đường ray, đã trở lại đúng nhịp của nó.

Chỉ có Hà biết, có một việc chưa xong. Và nó nằm ngay trong gian nhà này, bắt đầu từ chiếc móng vuốt trong túi áo cô.

---

Chương khác

Xem thêm