QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 18: Đục đồng đỏ
Ông Tứ tỉnh dậy ở chái nhà không phải vì tiếng hét. Tai người già ngủ nông, nhưng mưa bão ầm ầm cả đêm thì tiếng hét từ gian chính vọng qua một khoảng…
Nội dung chương
Ông Tứ tỉnh dậy ở chái nhà không phải vì tiếng hét. Tai người già ngủ nông, nhưng mưa bão ầm ầm cả đêm thì tiếng hét từ gian chính vọng qua một khoảng sân cũng dễ bị nuốt mất. Ông tỉnh vì sự im lặng bất thường của con chó. Con chó nhà họ Trần nằm ở hiên chái, cả đêm hễ gió mạnh là rên ư ử, hễ sấm nổ là sủa một tiếng. Vừa rồi nó tru lên một hồi dài rồi im bặt, im theo kiểu con vật ngửi thấy thứ gì khiến nó sợ tới mức không dám kêu nữa. Ông Tứ ngồi dậy trên chiếc chõng tre trong chái nhà, lắng tai. Qua tiếng mưa, ông nghe tiếng ghế đổ, tiếng chén sứ rung trên bàn thờ, và tiếng bà Hảo khóc gọi tên chồng. Từng ấy đủ cho một người đã đi canh và đóng hòm hơn năm mươi năm hiểu rằng trong gian giữa đang có chuyện không phải chuyện thường.
Ông không kịp mặc áo mưa. Ông khoác vội chiếc áo bông, xỏ chân trần vào dép, một tay cầm đèn pin của nhà để ở chái, tay kia theo thói quen nghề nghiệp nắm lấy thắt lưng nơi dắt cây đục mộc, rồi lao ra sân. Mưa quất vào mặt đau rát, sân gạch trơn, ông chạy vòng qua hông nhà, vào cửa hông gian bên. Cửa hông không khóa, chỉ khép hờ chống gió, ông đẩy mạnh bước vào, và cảnh tượng trong gian giữa đập vào mắt ông dưới ánh đèn dầu chập chờn.
Thi thể cụ cố đứng giữa gian, đã rời khỏi giường mấy bước, hai tay giơ thẳng, đang cúi xuống phía ông Lương nằm ngã trên nền gạch trước bàn thờ. Mấy người phụ nữ đứng chết trân ở góc nhà. Ông Bính ngủ mê man trên ghế. Con bé Hà cầm đèn pin, mặt trắng bệch mà vẫn còn đứng vững. Ông Tứ nhìn một vòng, nhìn tấm lưới bồ kết bị bay lệch, nhìn cửa sổ mở toang, nhìn vết ướt trên ngực áo liệm của thi thể. Và trong đầu ông, những câu chuyện người xưa trong nghề kể lại xếp thành một hàng rõ ràng: mèo nhảy qua xác, xác bị điện tích âm kích hoạt, canh xác thất thủ. Ông không cần ai giải thích, cũng không có thì giờ để sợ theo kiểu người thường.
Ông đã thấy những xác động đậy nhỏ trong đời làm nghề, một lần ở làng bên xác co tay lại khi người nhà tắm rửa vì hơi lạnh. Một lần khác xác phát ra tiếng thở dài khi khí trong bụng thoát ra lúc khâm liệm, những chuyện có giải thích cả, người trong nghề nhìn là biết. Nhưng cảnh trước mắt ông khác hẳn. Xác đứng giữa gian, đi lại, đuổi theo người sống, mắt mở trừng đỏ ngầu, đó là chuyện ông chỉ nghe các cụ thợ đời trước kể lại bên bếp lửa những đêm đi đóng hòm xa, kể như một bài học nghề chứ không phải chuyện khoe khoang. Các cụ dặn: gặp xác bị linh miêu kích thì đừng có chạy, đừng có đánh, đừng có gọi tên người chết, vì xác ấy không nghe ai cả. Việc phải làm chỉ có hai việc, phủ gai để cách ly, cắm đồng đỏ xuống bậu cửa để ngắt luồng. Ông thuộc bài học ấy từ năm mười mấy tuổi theo cha đi phụ nghề, thuộc như thuộc kích thước các loại ván áo quan, và ông chưa từng nghĩ có ngày mình phải dùng tới nó trong một gian nhà toàn người đang hoảng loạn.
- Tất cả đứng yên. Ông gào lên, giọng ông vang và đanh, át tiếng mưa một nhịp. Không ai được chạy. Chạy là nó đuổi theo luồng gió người đấy. Đứng yên, nín thở một lúc, nó mất dấu ngay.
Mọi người nghe ông như nghe một mệnh lệnh đã chờ sẵn từ lâu. Bà Hảo thôi vùng vẫy, bà Liên đứng yên, Hà hạ đèn pin xuống một chút cho ánh sáng khỏi quét loạn. Ông Tứ bước nhanh qua gian bên, tới sát bàn thờ, đưa tay giật mạnh tấm rèm gai treo trước bàn thờ. Tấm rèm sợi gai thô, dệt dày, treo ở đó từ ngày thầy Nhẫn dặn chuẩn bị, móc sắt trên xà kêu rầm một tiếng, cả tấm rèm rơi xuống tay ông, nặng và ráp. Ông cầm rèm bằng hai tay, bước vòng ra phía sau lưng thi thể, giữ khoảng cách vừa đủ để hơi thở của mình không phả thẳng vào nó.
Kinh nghiệm của ông mách rằng xác bị kích hoạt thì phải cách ly điện tích trước, như người ta phủ chiếu lên một vật đang tích điện lạ. Sợi gai thô là thứ các thầy trong nghề vẫn dùng, rèm gai bàn thờ lại là sợi gai đã treo lâu trong gian thờ, khô và dày. Ông hít một hơi ngắn, bước tới một bước cuối, choàng tấm rèm từ phía sau, bọc kín thi thể từ vai xuống tới chân, hai tay ông vòng nhanh, túm hai mép rèm chéo qua trước ngực thi thể và giữ chặt ở phía sau lưng nó. Thi thể khựng lại. Hai cánh tay giơ thẳng của nó giật nhẹ một cái trong lớp rèm, như một cỗ máy vừa bị phủ một tấm chăn dày lên bộ phận đang quay.
- Lương, lết ra khỏi chỗ ấy, chậm thôi, đừng đứng dậy chạy. Lết về phía góc bàn thờ với vợ anh.
Ông Lương nghe lời, chống tay lết chậm trên nền gạch, từng chút một, rời khỏi khoảng ngay trước mặt thi thể. Thi thể trong lớp rèm gai đầu quay qua quay lại, bước chân kéo lê nửa bước về phía luồng động vừa rồi rồi dừng, như bị tấm rèm làm nhiễu dấu hơi người. Ông Tứ giữ rèm bằng một tay và sức của cả thân người già, tay kia rút cây đục mộc bằng đồng đỏ từ thắt lưng ra. Cây đục theo ông hơn năm mươi năm, thân đồng đỏ đã lên nước bóng ở chỗ tay cầm, lưỡi đục sáng, nặng trịch trong tay một cách quen thuộc.
Ông biết bước tiếp theo phải làm ở đâu. Bậu cửa gian giữa bằng gỗ lim nguyên tấm, thanh gỗ ngang dưới khung cửa chính, là nơi luồng khí trong gian nhà thoát ra và tụ lại theo cách nói của nghề mộc tang lễ. Muốn ngắt mạch âm thì phải chặn ngay tại bậu cửa, cắm kim loại đồng đỏ ngập vào gỗ lim, như đóng một cái chốt xuống đường đi của luồng khí. Ông quỳ một gối xuống bên bậu cửa, ngay trong tầm với mà vẫn giữ được mép rèm bằng tay trái, đặt mũi đục lên mặt gỗ lim đã cũ, và dồn sức ấn xuống.
Ông chọn đúng giữa bậu cửa, nơi tấm gỗ lim dày nhất và cũng là nơi bước chân người sống qua lại nhiều nhất trong gian nhà này suốt hơn một trăm năm. Trong nghề của ông, bậu cửa không chỉ là một thanh gỗ. Đó là ranh giới giữa trong và ngoài, giữa gian thờ và sân, giữa phần nhà dành cho người sống và phần đường mà khí lạ theo vào. Cắm cây đục xuống đó, ông không làm một việc biểu diễn cho ai xem. Ông làm đúng như người thợ đóng một chiếc chốt cuối cùng vào mối ghép quan trọng nhất, chậm, chắc, và biết rằng nếu chốt ấy không ăn, mọi thứ khác mình làm đều vô ích.
Lớp gỗ lim già cứng như đá. Ông Tứ phải đứng dậy một phần, dùng cả sức vai và sức nặng thân người, ấn cây đục từng chút một. Đồng đỏ ăn vào gỗ kêu ken két. Mồ hôi và nước mưa trên trán ông chảy xuống mắt cay xè, ông không đưa tay lau được. Tay trái ông giữ rèm bắt đầu mỏi và run, thi thể trong rèm lại cựa mình, một cánh tay trong lớp vải gai đẩy ra làm tấm rèm căng lên. Hà bước tới một bước định giúp giữ rèm thì ông quát khẽ.
- Đứng yên đấy cháu. Cháu lại gần là nó cảm thấy hơi người mới. Để một mình bác làm.
Trong lúc dồn sức ấy, ông Tứ nghe thấy chính hơi thở của mình khò khè trong lồng ngực già, nghe tiếng tim đập vào tai, và ông nghĩ rất nhanh về người cha đã dạy nghề cho mình. Người từng nói thợ hòm giỏi không phải là người đóng quan tài đẹp nhất, mà là người giữ được bình tĩnh khi nhà người ta đang loạn nhất. Vì chỉ cần thợ cũng loạn theo thì lễ nghi sụp hết, người sống sẽ làm những việc mà sau này ân hận cả đời. Ông giữ hơi thở đều, dồn sức xuống vai, xuống cánh tay, xuống cán đục, từng chút một, không vội, không giật cục, như cách ông vẫn đóng một chiếc mộng gỗ khó suốt năm mươi năm qua. Gỗ lim kêu một tiếng rắc nhỏ, rồi một tiếng nữa, sợi gỗ tách ra quanh lưỡi đục đồng đỏ, mùi gỗ lim tươi vừa bị tách phả lên. Một mùi ngai ngái quen thuộc của nghề mộc mà giữa gian nhà đầy mùi nhang và mùi ẩm, riêng mùi ấy làm ông vững tay hẳn.
Ông dồn sức lần cuối. Cây đục đồng đỏ ngập xuống bậu cửa tới tận cán, cắm chặt vào tấm gỗ lim nguyên tấm, thân đục rung lên trong tay ông một nhịp mạnh rồi đứng yên. Ngay lúc ấy, một cảm giác rất lạ chạy qua gian giữa, không ai gọi tên được, như một sợi dây căng vô hình vừa bị cắt đứt. Không khí trong gian nhà như nhẹ đi một phần, ngọn đèn dầu đang nghiêng ngả bỗng đứng lửa thẳng lại dù cửa sổ vẫn mở và gió vẫn lùa vào.
Thi thể trong tấm rèm gai khựng lại hẳn giữa gian. Hai tay nó còn giơ, đầu nó từ từ, rất từ từ, quay về phía cửa hông nơi vừa có tiếng động mới, tiếng chân người lao vào và tiếng gọi tên bác cả vọng từ hiên trước. Ông Tứ vẫn quỳ bên bậu cửa, một tay giữ cán đục đồng đỏ đang rung khẽ, tay kia giữ mép rèm, ngẩng lên nhìn theo hướng đầu thi thể vừa quay, và ông nghe rõ tiếng Hiệp đang gào gọi từ ngoài cửa hông, mỗi lúc một gần.
Cả gian nhà im phăng phắc trong một nhịp, im tới mức nghe rõ tiếng mưa rơi trên mái ngói và tiếng đồng đỏ rung rất khẽ trong tấm gỗ lim dưới tay ông Tứ.
---