QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 30: Đưa tang

Trước khi đoàn khởi hành, trong sân nhà cổ, thầy Nhẫn làm lễ động quan ngắn gọn. Ông đọc văn, dặn con cháu thứ tự đi đứng: người cầm bát hương đi đầu, di…

Nội dung chương

Trước khi đoàn khởi hành, trong sân nhà cổ, thầy Nhẫn làm lễ động quan ngắn gọn. Ông đọc văn, dặn con cháu thứ tự đi đứng: người cầm bát hương đi đầu, di ảnh theo sau, con trưởng chịu tang đi sát áo quan, các chi theo thứ bậc, không ai được chen ngang, không ai được đi tắt qua mặt áo quan. Ông Tứ đi một vòng quanh đòn khiêng, tự tay kiểm tra lại từng mối buộc dây như kiểm tra một chiếc áo quan mình đóng, rồi gật đầu với Lương: chắc rồi, đi được rồi. Suốt mấy ngày tang, ông thợ hòm già ấy vẫn làm đúng một việc: có mặt ở những chỗ cần một bàn tay chắc chắn, nói ít, và chưa một lần nhắc lại chuyện đêm bão trước mặt người ngoài.

Lúc áo quan được khiêng ra khỏi gian giữa, qua bậu cửa gỗ lim nơi cây đục đồng đỏ từng cắm ngập trong đêm mưa, Lương chợt dừng bước nửa nhịp. Gian giữa trống đi trông thấy. Chiếc giường đã được dọn đi. Bàn thờ vẫn nghi ngút hương. Ngôi nhà ba gian dựng từ năm một nghìn chín trăm mười một giờ vắng đi người cuối cùng của thế hệ dựng nó lên. Lương bước qua bậu cửa, tự nhủ việc của gian nhà này chưa hết, và ông là người phải làm cho hết.

Sáu giờ sáng ngày mười tám, sương còn đặc trên mặt sông Đáy khi đoàn đưa tang nhà họ Trần bắt đầu rời khỏi ngõ làng.

Trần Văn Lương đi ở vị trí đầu đoàn, ngay sau bát hương và di ảnh của cha. Ông mặc áo tang, đầu đội mũ rơm theo lệ, tay chống gậy, lưng thẳng. Sau lưng ông là áo quan của cụ cố đặt trên đòn khiêng, sáu người thanh niên trong họ thay nhau đỡ các góc. Sau áo quan là con cháu các chi, họ hàng, rồi đến dân làng Hạ Trạch đi tiễn. Đoàn người dài, lặng lẽ, chỉ có tiếng kèn trống đám tang nổi lên từng hồi và tiếng chân đi trên con đường đất còn ướt sau mấy ngày mưa bão.

Con đường ra nghĩa trang chạy dọc theo bờ sông. Bên trái đoàn là mặt sông Đáy xám bạc trong sương sớm, nước lũ đã rút xuống gần mức cũ, chảy chậm và nặng. Bên phải là những thửa ruộng bãi còn đọng nước, lấp loáng ánh trời vừa hửng. Lương đã đi con đường này không biết bao nhiêu lần trong đời: đi chợ, đi ruộng, đi tiễn những người khác trong họ ra đồng. Hôm nay ông đi tiễn cha mình, và ông cảm thấy con đường quen thuộc ấy dài hơn mọi lần.

Tin đồn đã chạy trước đoàn tang một ngày đường.

Lương nghe thấy chúng dù không ai nói to. Ở những đoạn đường qua cổng làng, người dân đứng xem hai bên, có tiếng thì thầm đủ lớn để lọt vào tai người chịu tang: nhà họ Trần đấy, cụ bị nhập tràng đêm bão đấy, cháu gãy cả tay đấy. Có người nói bằng giọng thương cảm, có người nói bằng giọng của kẻ kể chuyện rùng rợn cho người khác nghe. Lương nghe hết. Ông không đáp một lời, không quay đầu, không liếc ngang. Ông chỉ đi, mắt nhìn về di ảnh của cha đang được Hà bưng đi trang trọng ở phía trước, và tự nhắc mình từng bước một: đi cho hết con đường này đã. Mọi chuyện khác, để sau khi cha nằm xuống.

Ông biết Hà đi phía trước ông đang nghĩ gì. Tối qua, con gái ông đã về nhà với những chiếc ảnh và một cuốn sổ ghi đầy những dòng chữ nhỏ. Ông chưa xem hết mọi thứ con mình giữ, nhưng ông biết đủ để hiểu rằng sau ngày hôm nay, họ này sẽ không còn yên ổn như trước nữa. Ông cũng biết trưởng họ Phúc đã dặn Hà chờ qua đưa tang. Và ông biết, ở cuối đoàn kia, cháu ông đang đi với cánh tay bó bột treo trước ngực, mặt trắng bệch từ lúc ra khỏi nhà.

Đi được nửa đường, đoàn gặp một nhóm người làng bên đi chợ sớm đứng dạt vào lề đường nhường lối. Trong nhóm có người quen cũ của cụ cố, một ông lão đã ngoài tám mươi, chống gậy đứng nhìn theo áo quan đến khi đoàn đi khuất hẳn, miệng lẩm nhẩm câu gì không nghe rõ. Lại có hai người đàn bà trẻ hơn, vừa nhường đường vừa ghé tai nhau, một người nói đủ to trong tiếng kèn trống: nghe bảo cụ nhà này mất không yên đâu, đêm bão còn dậy đi trong nhà cơ mà. Người kia xuýt xoa. Lương đi ngay gần đó. Ông nghe rõ từng chữ. Ông vẫn không quay đầu. Nhưng bàn tay cầm gậy chịu tang của ông siết chặt lại, và ông ghi nhớ cảm giác ấy như ghi nhớ một món nợ nữa phải trả: không phải trả cho hai người đàn bà kia. Mà trả cho cha ông, bằng sự thật, trong một buổi họp họ mà ông đã hứa với trưởng họ sẽ đứng ra chủ trì phần của chi mình.

Ông cũng biết, cái tiếng chết không yên ấy sẽ không dừng lại ở đường làng này. Nó sẽ theo đoàn tang về tận bàn thờ trong gian giữa, ngồi đó chờ ông. Chỉ có một cách duy nhất để đuổi nó đi, và cách ấy không nằm ở việc bịt miệng thiên hạ. Nó nằm ở việc lôi hết những gì đã xảy ra trong đêm bão ra ánh sáng, trước mặt họ tộc, dù ánh sáng ấy có làm đau bất cứ ai.

Đoàn đến nghĩa trang ven sông lúc gần bảy giờ. Huyệt mộ đã được đào sẵn từ hôm trước, đất mới đào còn thơm mùi ẩm, nằm ở vị trí cao nhất của nghĩa trang. Nơi cụ cố lúc còn sống từng tự chọn cho mình trong một buổi đi thăm mộ tổ: chỗ này nhìn ra được mặt sông, gần nhà, con cháu đi thăm tiện.

Nghi lễ hạ huyệt diễn ra trang trọng và nhanh gọn theo lời thầy Nhẫn. Khi áo quan từ từ hạ xuống huyệt, tiếng khóc trong họ bật lên thành một đợt sóng. Bà Hảo khóc lặng đi, phải có người đỡ. Bà Liên khóc lặng, tay run run rắc nắm đất đầu tiên. Ông Bính quỳ sụp xuống bên miệng huyệt, khóc như một đứa trẻ, miệng gọi bố ơi không thành tiếng rõ ràng. Lương đứng ở đầu huyệt, nhìn áo quan của cha khuất dần dưới lớp đất đầu tiên do chính tay con cháu xúc xuống.

Ông thắp một nén hương, cắm lên đầu mộ khi đất đã bắt đầu lấp cao. Trong tiếng kèn trống và tiếng khóc xung quanh, ông thề thầm với cha, một lời thề chỉ hai cha con nghe thấy.

Bố yên tâm nằm xuống. Đất mặt sông và ngôi nhà, con giữ. Chuyện đêm bão, con sẽ làm cho ra lẽ, dù nó chạm vào ai, con cũng làm cho ra lẽ, để không ai còn dám nói bố chết không yên nữa.

Ông cúi lạy ba lạy. Khi ngẩng lên, mắt ông khô. Có những nỗi đau vượt qua được nước mắt, chuyển thành một thứ cứng hơn, bền hơn. Thứ mà người ta gọi là quyết tâm ở một người đàn ông sáu mươi sáu tuổi không còn nhiều thứ để mất ngoài danh dự của cha mình và ngôi nhà của tổ tiên.

Trước khi rời huyệt, ông làm một việc nhỏ mà chỉ Hà đứng gần mới thấy: ông lấy trong túi áo ra một nắm đất ở thửa ruộng bãi phía dưới chân nghĩa trang, phần ruộng ven sông mà cha ông giữ cả đời, rắc thêm lên trên nấm mộ. Đất nhà nằm với người nhà. Ông làm thế không theo lời dặn của thầy cúng nào. Đó là lệ của riêng ông, của người con trưởng tiễn cha bằng thứ cha đã sống chết giữ gìn.

Đất được lấp đầy, nắn thành nấm mộ ngay ngắn. Người nhà cắm hương, bày lễ, làm lễ thổ thần theo lời thầy Nhẫn. Nắng sớm đã lên hẳn, sương tan dần trên mặt sông. Dân làng lần lượt ra về trước, họ hàng ở lại sau cùng với gia đình.

Khi đoàn chuẩn bị quay về, Lương để ý thấy Hiệp vẫn đứng tách ra ở một phía của nấm mộ. Từ lúc ra khỏi nhà đến giờ, người cháu ấy gần như không nói câu nào. Mỗi lần có ai trong đoàn nhắc đến chuyện đêm bão, dù chỉ là một câu bâng quơ của người làng bên đường như "nghe đâu đêm ấy có con mèo". Mặt Hiệp lại trắng thêm một bậc, môi mím chặt, cánh tay lành lặn nắm chặt lấy dây treo của cánh tay bó bột. Giờ đây, đứng trước mộ ông nội vừa đắp, hắn cúi đầu rất thấp, thấp hơn mọi người cháu khác, như thể hắn sợ phải nhìn vào tấm bia tạm ghi tên cụ cố.

Không ai trong họ để ý điều đó ngoài Lương. Và có lẽ ngoài Hà, đang đứng phía bên kia mộ, lặng lẽ nhìn người anh họ của mình bằng ánh mắt của người đã biết gần hết câu chuyện.

Trên đường về, đoàn người đi thưa dần, mỗi người một ngả lo việc hậu sự. Lương đi chậm lại ở đoạn đường cuối, chờ cho Hiệp đi ngang qua. Hắn đi cuối đoàn, đầu cúi, bước chân nặng nề trên đường đất ướt. Khi đi qua nấm mộ mới đắp của ông nội lần cuối trước khi rẽ vào lối mòn về làng, Hiệp dừng lại.

Hắn nhìn ngôi mộ mới. Đất còn tươi, hương còn cháy, khói hương mỏng bay là là trên mặt đất trong nắng sớm. Hắn đứng như thế một lúc lâu, không lạy, không nói. Rồi Lương nhìn thấy, rất rõ ràng, bàn tay trái lành lặn của hắn, bàn tay đang đỡ lấy cánh tay bó bột trước ngực, run lên. Run từng đợt, không kìm lại được, như tay của một người đang cố giữ một thứ sắp vỡ mà biết chắc mình sẽ không giữ nổi.

Lương không nói gì. Ông quay đi, tiếp tục bước về phía làng, về phía ngôi nhà cổ ba gian đang chờ ông ở cuối con đường đất.

Cha ông đã yên nghỉ bên sông Đáy. Tang lễ đã xong phần nặng nhất.

Phần còn lại, phần của người sống, của những chiếc lồng sắt và ổ khóa mới, của những câu hỏi chưa ai dám hỏi thành lời, đang chờ cả họ ở phía trước.

Và Lương biết, nó sẽ bắt đầu ngay khi mở cửa mả xong.

---

Chương khác

Xem thêm