QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 32: Trình bày theo dòng sự kiện

Gian giữa nhà cổ tối mười chín tháng chín đông kín người mà không một tiếng ồn. Ba mươi mấy con cháu họ Trần ngồi thành vòng tròn quanh gian nhà, từ các…

Nội dung chương

Gian giữa nhà cổ tối mười chín tháng chín đông kín người mà không một tiếng ồn. Ba mươi mấy con cháu họ Trần ngồi thành vòng tròn quanh gian nhà, từ các cụ cao niên tóc bạc tới lớp cháu chắt mới lớn, ai nấy mặt nghiêm lại. Trên bàn thờ, hương cháy đỏ, khói cuộn lên trần nhà gỗ lim rồi tản ra. Ông Lương ngồi ở ghế đầu phía phải bàn thờ, lưng thẳng, hai bàn tay đặt lên đầu gối. Ông đã chuẩn bị cho buổi tối này suốt từ hôm đưa tang cha, chuẩn bị như người nông dân chuẩn bị cho một vụ mùa khó, biết trước là mất mát nhưng không thể không làm.

Trưởng họ Phúc ngồi ghế chủ tọa, cuốn gia phả bọc vải đỏ đặt trên đùi. Ông là em họ của cụ cố, năm nay bảy mươi tuổi, giọng nói chậm rãi mà có trọng lượng trong họ từ bao năm nay.

- Họ ta họp tối nay vì một việc. Đêm mười lăm rạng mười sáu, trong gian nhà này có chuyện động xác. Ngoài làng đồn là quỷ nhập tràng. Trong họ, ta phải biết rõ đêm ấy đã xảy ra những gì, từng giờ từng khắc, ai làm gì, ở đâu. Xong việc này, họ ta mới yên, bác cả ta dưới suối vàng mới yên. Anh Lương là chi trưởng, lại là người ở giữa gian nhà đêm ấy. Anh trình bày trước.

Ông Lương đứng dậy. Ông không nhìn ai khác ngoài bàn thờ cha một lúc lâu, rồi mới quay ra vòng người, giọng khàn đi vì mấy ngày khóc tang và thiếu ngủ.

- Tôi xin thưa lại từ đầu, theo đúng thứ tự giờ giấc, không thêm không bớt. Bố tôi mất lúc sáu giờ bốn mươi chiều ngày mười bốn, giờ Dậu. Thầy Nhẫn xem giờ, phán phạm trùng tang, giờ khâm liệm hoàng đạo phải đợi tới năm giờ sáng ngày mười bảy. Vậy là nhà phải canh xác hai đêm theo lệ. Đêm đầu, tôi với cháu Hà canh, lưới bồ kết treo kín quanh giường, không có chuyện gì, chỉ có gió sông làm lưới rung lúc gần sáng.

Ông ngừng lại, nuốt khan.

- Đêm thứ hai, ngày mười lăm, bão về. Ca đầu tối, từ mười giờ, tôi với cháu Hà trực. Tới mười hai giờ mười phút đêm thì đổi ca, cháu Hiệp với chú Bính vào canh. Hiệp nó pha ấm chè mới mang vào, nói để hai cha con uống cho tỉnh táo. Chú Bính uống chè một lúc thì gục xuống ghế ngủ say, gọi không tỉnh. Tôi ở buồng bên, gần một giờ sáng nghe tiếng sấm to quá thì dậy sớm ra thay ca, ngồi vào ghế canh cạnh giường bố tôi.

Cả gian nhà im lặng đến mức nghe được tiếng tàn hương rơi xuống bát.

- Một giờ đúng, điện mất hẳn. Gió bão quật bật tung cửa sổ gian giữa. Tôi chưa kịp đứng dậy thì một bóng đen từ cửa sổ lao vào, đạp thẳng lên ngực bố tôi đang nằm trên giường. Rồi bố tôi mở mắt, ngồi bật dậy.

Giọng ông Lương run lên. Dù đã kể lại trong đầu trăm lần, đến lúc nói ra trước cả họ, cổ họng ông vẫn nghẹn lại.

- Bố tôi bước xuống giường, hai tay giơ thẳng, đi cứng đờ. Bố đuổi theo tôi quanh gian nhà. Tôi ngã một lần ở góc bàn, bầm cả hông. Cửa chính lúc ấy bị gió sập chốt sắt, không mở ra được, trong nhà tối om. Tôi nói cho rõ để cả họ nghe: bố tôi không gọi tên ai, không nói một tiếng nào, không biết tôi là con hay là người dưng. Bố chỉ đi theo hơi người và luồng gió mà thôi. Tôi chạy đường nào, bố đi theo đường ấy, như cái bóng bị gió đẩy.

- Thế rồi ông Tứ ở đâu vào?

Trưởng họ Phúc hỏi, giọng đều đều.

- Ông Tứ ngủ lại chái nhà vì mưa to không về được. Nghe tiếng động, ông vào bằng cửa hông, giật tấm rèm gai trên bàn thờ xuống, bọc kín người bố tôi lại, hô mọi người đứng yên không được chạy. Rồi ông cắm cây đục đồng đỏ của ông ngập vào bậu cửa gỗ lim này.

Ông Lương đưa tay chỉ xuống bậu cửa gian giữa ngay trước mặt vòng người. Vết đục cắm đêm ấy còn hằn trên mặt gỗ lim, một lỗ sâu sẫm màu giữa thanh gỗ bóng loáng trăm năm.

- Bố tôi ngã xuống lúc một giờ tám phút. Từ đầu tới cuối, tám phút. Sau đó bố nằm yên hẳn, không cử động nữa, không bao giờ nữa.

Ông Lương ngồi xuống, hai tay run nhẹ. Trước khi Hà đứng lên, trưởng họ Phúc quay sang phía thầy Nhẫn và ông Tứ đang ngồi ở hàng ghế danh dự bên phải bàn thờ.

- Thầy Nhẫn, giờ giấc anh Lương vừa thưa, có đúng với giờ thầy đã xem và chủ trì không?

Thầy Nhẫn vuốt chòm râu bạc, gật đầu chậm rãi.

- Đúng từng giờ. Cụ mất giờ Dậu ngày mười bốn, phạm trùng tang, tôi phán khâm liệm năm giờ sáng ngày mười bảy. Sau chuyện đêm bão, tôi đổi lại, khâm liệm bảy giờ sáng ngày mười sáu, nhập quan mười giờ cùng ngày. Giờ giấc trong họ này, tôi xin chứng.

- Còn ông Tứ, đoạn bọc xác và cắm đục, có đúng như anh Lương kể không?

Ông Tứ ngồi thẳng người, chiếc tráp gỗ để bên chân, giọng khàn đặc của người thợ già.

- Đúng. Tôi vào qua cửa hông, thấy cụ đang đi cứng đờ trong nhà, tôi giật rèm gai bọc lại, cắm cây đục này xuống bậu cửa. Sau đó cụ nằm yên. Tôi làm nghề hòm hơn năm mươi năm, tôi chỉ thưa một điều cho cả họ yên tâm: từ lúc tôi bọc rèm cho tới khi khâm liệm sáng hôm sau, cụ không hề cử động thêm lần nào nữa.

Mấy lời chứng ấy rơi xuống gian nhà như những viên đá đặt lên mặt bàn cân. Ông Lương nghe mà sống mũi cay xè. Suốt mấy ngày qua, điều ông sợ nhất không phải là ai hỏi tội ai, mà là không ai đứng ra nói cho rõ ràng những gì đã xảy ra trong tám phút ấy, để cha ông mang mãi cái tiếng chết không yên trong miệng người làng. Giờ thì từng giờ từng khắc đã được nói ra, có người chứng, có lệ chứng.

Trưởng họ Phúc gật đầu, quay sang phía Hà đang ngồi ở vòng ngoài cùng tập hồ sơ để trên đùi.

- Cháu Hà. Mấy hôm nay cháu là người giữ các thứ liên quan. Cháu trình bày cho cả họ nghe, theo thứ tự cháu tìm thấy.

Hà đứng dậy, tay ôm chiếc túi hồ sơ và một lọ thủy tinh nhỏ. Cô không nói nhanh, giọng rõ ràng như người đọc lại một biên bản mà chính cô là người ghi chép.

- Thưa các bác, các chú. Đêm ấy, khi cụ ngã xuống và nằm yên, từ miệng cụ rơi ra một vật. Cháu nhặt bằng khăn tay ngay trong đêm, cho vào lọ thủy tinh này, giữ từ đó tới giờ, chưa rời tay cháu.

Cô đưa chiếc lọ lên cao. Trong lọ, một chiếc móng vuốt mèo đen cong và sắc, đầu móng còn dính vệt máu đã khô sẫm. Vòng người xôn xao khẽ, mấy bà cô đưa tay lên miệng. Ông Bính ngồi góc trái cúi gằm mặt xuống, vai run bần bật.

- Đây là móng của con mèo đã đạp lên ngực cụ. Nó gãy và mắc lại trong miệng cụ khi con mèo nhảy qua mặt cụ. Nếu là mèo hoang ngoài đồng lạc vào, nó không để lại nguyên một chuỗi như những thứ cháu sắp thưa đây.

Hà mở tập hồ sơ, lấy ra mấy tấm ảnh in khổ lớn.

- Thứ hai, sáng hôm sau cháu quay lại gian giữa trước khi ai dọn dẹp, trên bậu cửa sổ còn in dấu chân mèo ướt, bốn dấu đệm chân rõ ràng, hướng từ ngoài vườn vào thẳng giường cụ. Cháu chụp lại trước khi vết khô hẳn. Ảnh đây, cả họ xem.

Tấm ảnh được chuyền tay nhau quanh vòng ghế. Những dấu chân nhỏ xíu in trên mặt gỗ sẫm màu, nhìn qua ai cũng thấy lạnh gáy.

- Thứ ba, lưới bồ kết. Chiều ngày mười lăm, cô Liên phát hiện lưới treo quanh giường cụ bị tháo mất một góc. Cháu cùng cô treo lại. Nhưng tối hôm ấy, lúc mười một giờ năm mươi phút, có người gỡ nốt chiếc móc lưới phía cửa sổ. Lưới không tự rách, móc không tự tuột. Có người đã mở đường cho con mèo vào đúng chỗ cửa sổ ấy.

Tiếng xì xào nổi lên rồi tắt nhanh khi trưởng họ Phúc giơ tay. Cả gian nhà như nín thở. Mọi ánh mắt, không ai bảo ai, đều dời dần về phía góc trái bàn thờ, nơi cha con ông Bính ngồi cạnh nhau, và dừng lại ở người cháu thứ đang bó bột cổ tay phải, mặt trắng như tờ giấy.

Ông Lương nghe câu hỏi ấy mà bàn tay đặt trên đầu gối siết chặt lại. Đây là câu hỏi ông đã tự hỏi mình suốt bốn ngày qua, từ lúc cháu Hà đưa cho ông xem tấm ảnh ngăn chuồng sau chuồng trâu ở buồng trong, tối mười bảy. Ông đã biết trước một phần câu trả lời, biết đến mức đau, nhưng ông vẫn chờ nghe nó từ miệng người cháu ruột của mình, trước bàn thờ cha, trước cả họ. Trong nhà này, sự thật phải được nói ra bằng miệng người làm, chứ không phải bằng lời buộc tội của người khác.

Trưởng họ Phúc đặt cuốn gia phả xuống, nhìn thẳng vào Hiệp, hỏi câu đầu tiên của buổi họp, rõ ràng từng tiếng.

- Hiệp. Con mèo đen ấy, ở đâu ra?

Câu hỏi của trưởng họ Phúc treo lơ lửng trong gian giữa hồi lâu không có tiếng trả lời. Hà nhìn sang phía anh Hiệp. Hắn ngồi co người trên chiếc ghế đẩu, cổ tay phải bó bột treo trước ngực, tay trái bấu chặt vào mép ghế đến trắng cả đốt ngón tay. Mồ hôi rịn trên trán hắn dù trời đêm đã mát. Hắn mở miệng mấy lần rồi lại ngậm lại, mắt đảo quanh gian nhà như tìm một lối thoát nào đó trong vòng người kín mít.

- Con mèo ấy, cháu không biết. Đêm bão gió to, mèo hoang ở đâu chạy vào cũng nên. Làng mình thiếu gì mèo hoang.

Giọng hắn khàn và nhỏ, không nhìn vào mặt trưởng họ.

---

Chương khác

Xem thêm