QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 35: Lời của ông Tứ
Ông Tứ ngồi ở hàng ghế bên phải bàn thờ, nghe hết từ đầu buổi tới giờ, không xen vào một câu nào. Hơn năm mươi năm đi đóng áo quan khắp vùng sông Đáy,…
Nội dung chương
Ông Tứ ngồi ở hàng ghế bên phải bàn thờ, nghe hết từ đầu buổi tới giờ, không xen vào một câu nào.
Hơn năm mươi năm đi đóng áo quan khắp vùng sông Đáy, ông đã chứng kiến đủ thứ tang gia: nhà khóc thật, nhà khóc giả. Nhà chia của ngay bên linh cữu người chết còn chưa lạnh, nhà anh em đánh nhau ngoài sân trong lúc khách viếng còn đang thắp hương. Ông quen với việc người sống làm khổ nhau quanh một người chết. Nghề của ông dạy ông một điều mà sách vở không dạy: trong một đám tang, thứ đáng sợ nhất chưa bao giờ nằm trong áo quan. Nó nằm ở những người đang đứng quanh áo quan, ở những tính toán họ mang theo khi cúi đầu thắp nén hương. Ông đã từng thấy một người con trai lén rút bớt tiền phúng điếu ngay trong đêm canh xác, từng thấy hai anh em cãi nhau về thửa đất ngay sau lưng quan tài cha. Nhưng bày mưu mượn chính thi thể người ông để hại người bác ruột, thì hơn năm mươi năm làm nghề, đây là lần đầu tiên ông gặp. Nhưng đêm mười lăm rạng mười sáu vừa rồi, chính ông là người đứng giữa gian nhà này, giật tấm rèm gai bọc lấy thân thể cụ Thịnh đang đi cứng đờ. Và cảm nhận qua lớp vải gai thô cái lạnh và cái cứng khác thường của một thi thể lẽ ra phải nằm yên. Cái cảm giác ấy, ông không quên được, và ông biết cả họ này cũng không quên được, dù họ chỉ nghe kể lại.
Bởi thế, khi thằng Hiệp vừa thú tội xong, quỳ giữa nền gạch khóc nức, khi mấy người họ hàng bắt đầu xì xào những câu như báo công an. Như đuổi khỏi họ, như cụ cố chết không yên nên mới hiện về trừng trị thằng cháu bất hiếu, ông Tứ biết đã đến lúc mình phải nói. Không phải nói để bênh ai. Mà nói để gỡ một cái án oan đang treo trên đầu một người chết không còn tự cãi được cho mình nữa.
Buổi họp lúc ấy đang đứng trước hai ngả rẽ nguy hiểm, ông nhìn thấy rõ. Một ngả là làm to chuyện ra ngoài, báo lên xã, lên huyện, để pháp luật vào cuộc; ngả ấy có thể đúng về lý. Nhưng sẽ kéo theo bao nhiêu hệ lụy cho một họ tộc giữa làng quê, và trên hết, sẽ đóng đinh cái tin đồn quỷ nhập tràng thành một vụ án cho cả vùng bàn tán nhiều năm. Ngả kia là ém nhẹm tất cả, coi như không có chuyện gì, cho qua vì sợ mất mặt họ; ngả ấy còn tệ hơn, vì tội không được xử thì lòng người không phục, anh em nhìn nhau bằng con mắt nghi kỵ đến đời con cháu. Cả hai ngả đều không phải lối ra. Lối ra nằm ở chỗ phân định cho rõ: phần nào là chuyện xác chết động đậy theo cơ chế xưa nay nghề của ông vẫn truyền nhau, phần nào là tội của người sống phải xử bằng lệ họ. Phân định được hai lớp ấy, mọi việc còn lại tự khắc có đường.
Ông chống tay vào đầu gối đứng dậy, chậm rãi vì cái lưng đau của tuổi bảy mươi hai. Trưởng họ Phúc thấy vậy, giơ tay ra hiệu cho cả họ im lặng.
- Trước khi họ nhà mình bàn chuyện phán xử, tôi xin phép các cụ, các anh, cho tôi nói mấy lời. Tôi không phải người họ Trần. Tôi chỉ là thằng thợ hòm làng bên, nhưng đêm ấy tôi ở giữa gian nhà này, và tôi làm nghề này hơn năm mươi năm. Có điều tôi thấy tận mắt, tôi xin nói cho rõ, để người chết được yên và người sống xử nhau cho đúng.
Ông nhìn một vòng khắp gian nhà, rồi nhìn lên di ảnh cụ Thịnh trên bàn thờ.
- Cái bật dậy đêm ấy, không phải cụ cố nhà ta. Tôi nói chắc như đinh đóng cột. Hồn cụ đi ngay từ lúc cụ tắt thở chiều ngày mười bốn rồi, đi thanh thản, mặt cụ lúc khâm liệm tôi nhìn kỹ, hiền và nhẹ như người ngủ. Người già chín mươi tuổi, sống trọn một đời giữ nhà giữ họ, không có oán khí gì mà ở lại trong cái xác ấy cả.
Ông ngừng một nhịp, giọng trầm xuống.
- Cái đứng dậy đi trong gian nhà này tám phút đêm ấy, chỉ là cái xác bị kích lên thôi. Con mèo đen ấy là linh miêu sinh giờ hung, người nó mang điện tích âm mạnh khác thường, các cụ xưa truyền lại nghề của tôi đều biết. Nó đạp đúng lên ngực cái xác chưa khâm liệm, đang trong hai ngày đầu còn tích điện, lại đúng giờ âm thịnh, đúng lúc hàng rào lệ quanh giường bị phá. Bốn thứ ấy gặp nhau, cái xác bật lên như sợi dây đàn bị gảy mạnh. Nó đi cứng đờ, nó đuổi theo hơi người và luồng gió của người chạy gần nhất, nó không biết giận ai, không biết thương ai, nó không nhận ra con trai nó đang chạy trước mặt, cũng không nhận ra thằng cháu đang lao vào. Ai ở gần, nó túm người ấy. Vậy thôi.
- Thế sao ngoài làng người ta cứ bảo cụ nhà tôi chết không yên, hiện về hại con cháu?
Một bà cô phía dưới không kìm được, hỏi chen vào, giọng nghẹn ngào.
Ông Tứ quay sang phía bà, lắc đầu nhẹ.
- Người làng không ở trong gian nhà này đêm ấy, họ đồn theo miệng nhau thôi. Còn tôi ở đây. Tôi bọc rèm gai quanh người cụ, tôi cảm được cái xác ấy trống rỗng thế nào. Nó không phải cụ. Nói cụ hiện về hại con cháu là oan cho cụ, oan lớn. Cụ cả đời giữ đất hương hỏa không cho bán một tấc, lo cho con cháu từng bữa. Chết rồi còn mang tiếng về hại cháu mình, hỏi có đau không. Tội đêm ấy là tội của người sống, một người sống duy nhất bày ra, thì xét người sống là đủ. Đừng bắt người chết gánh thêm một cái tội không phải của mình.
Lời ông rơi xuống, gian nhà im lặng rất lâu. Ông Lương ngồi ở ghế đầu, hai tay ôm mặt, vai run lên. Hà ngồi phía ngoài, mắt đỏ hoe nhìn ông Tứ. Ông biết những lời này không chỉ gỡ tiếng oan cho cụ Thịnh, mà còn gỡ một nút thắt trong lòng người con trưởng suốt mấy ngày qua, người đã tự dằn vặt mình rằng vì con cháu bất hiếu nên cha mới chết không yên.
Ông Tứ nói tiếp, lần này nhìn thẳng xuống người cháu thứ vẫn đang quỳ giữa nền gạch, cổ tay bó bột, trán sưng đỏ vì dập đầu.
- Còn cháu, cháu nghe cho rõ điều này, để sau này cháu đỡ phải sợ ma mà phải nhớ lấy tội của mình. Đêm ấy cái xác túm gãy tay cháu, không phải ông nội cháu trừng phạt cháu đâu. Đừng tự an ủi mình theo kiểu ấy. Nó túm cháu vì cháu là người lao vào gần nó nhất trong lúc mạch âm còn thông. Đơn giản thế thôi, lạnh lùng thế thôi. Tội của cháu là tội tính toán với người sống, hại người sống, thì cháu trả với người sống, từng ngày một, chứ không có ma nào tha cho cháu và cũng không có ma nào phạt thêm cháu được.
Hiệp quỳ dưới nền gạch, nước mắt chảy dài, gật đầu lia lịa không nói nên lời.
Lúc ấy, ở góc trái bàn thờ, ông Bính chống tay vào mép ghế, run rẩy đứng dậy. Ông bước từng bước nặng nề ra giữa gian nhà, đến trước mặt anh trai mình, rồi quỳ sụp xuống, hai đầu gối đập xuống nền gạch, cúi đầu sát đất.
- Anh cả, em quỳ thay con em. Nó là con em sinh ra, em dạy không nổi nó, em nhu nhược cả đời, cái tội này có một nửa là của em. Anh xử nó thế nào em cũng xin chịu, chỉ xin anh đừng đuổi cha con em khỏi họ, đừng để bố dưới kia phải buồn vì anh em mình.
Ông Lương vội đứng dậy, bước tới đỡ em trai lên, nhưng ông Bính cứ quỳ, ôm lấy chân anh mà khóc. Ông Lương cúi xuống, hai tay giữ chặt vai em, giọng vỡ ra.
- Em đứng lên. Chú ngồi xuống đi. Việc thằng Hiệp, họ sẽ xử, nhưng nó là cháu tôi, tôi không đuổi nó khỏi họ này đâu. Bố mình trên bàn thờ kia nhìn xuống, ông cụ không muốn thấy anh em mình thế này.
Hai anh em, một người sáu mươi sáu, một người sáu mươi hai, ôm nhau khóc giữa gian nhà, trước mặt cả họ, trước bàn thờ cha. Nhiều người trong vòng ghế cũng đưa tay lên lau mắt.
Ông Tứ đứng yên nhìn cảnh ấy, trong lòng nhẹ đi một phần. Ông biết phần khó nhất của buổi họp đã qua: sự thật đã nói hết, tiếng oan đã gỡ, lòng người đã mềm xuống đủ để phán một bản án công bằng chứ không phải một bản án trả thù. Ông ngồi xuống ghế, trước khi ngồi hẳn, ông nói thêm một câu cuối, chậm rãi, rõ ràng, như đóng một chiếc đinh cuối cùng vào tấm ván quan tài của cả câu chuyện này.
- Tôi đi đóng hòm mấy chục năm, chứng kiến bao nhiêu đám tang, tôi chỉ nghiệm ra một điều. Lệ canh xác không phải để sợ ma. Lệ là để người sống không hại nhau trong đêm tối. Giữ được cái lệ ấy, nhà nào cũng yên.
Câu nói ấy về sau cả họ Trần còn nhắc lại nhiều lần, mỗi khi có đám tang trong làng và lớp trẻ hỏi vì sao phải thức trắng đêm bên giường người mất. Vì sao phải treo tấm lưới bồ kết và cấm mèo chó bén mảng tới gian giữa. Nhưng tối hôm ấy, nó chỉ rơi xuống gian nhà trong im lặng, như một lời kết cho phần nói về người chết, để mở ra phần phán xử người sống. Trưởng họ Phúc gật đầu với ông Tứ, cảm ơn ông đã nói giúp họ một điều mà người trong họ, vì quá đau và quá giận, chưa ai nói được thành lời rành mạch đến thế.
---