QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 36: Phán quyết của họ Trần
Đêm đã về khuya. Đồng hồ treo tường trong gian giữa nhà cổ chỉ mười một giờ, rồi mười một giờ rưỡi. Buổi họp họ kéo dài từ lúc trời sập tối, qua bao…
Nội dung chương
Đêm đã về khuya. Đồng hồ treo tường trong gian giữa nhà cổ chỉ mười một giờ, rồi mười một giờ rưỡi. Buổi họp họ kéo dài từ lúc trời sập tối, qua bao nhiêu lời trình bày, bằng chứng, thú tội và nước mắt, mà không một ai trong vòng ghế đứng dậy bỏ về. Ông Lương đỡ em trai về lại ghế ngồi, tự tay rót cho ông Bính một chén nước chè đã nguội, rồi quay lại ghế của mình. Ông biết phần việc nặng nhất của buổi tối nay giờ mới bắt đầu: phán xử.
Trưởng họ Phúc hắng giọng, mở cuốn gia phả bọc vải đỏ đặt trước mặt, nhưng không đọc ngay. Ông nhìn khắp một vòng người, giọng chậm rãi.
- Sự thật đã rõ. Giờ họ ta bàn chuyện xử. Tôi nói trước để cả họ nghe: đây là việc trong họ, xảy ra trong nhà thờ của họ, người sai là con cháu trong họ, người bị hại cũng là con cháu trong họ. Ta xử theo lệ họ, có người chứng, có giấy tờ, xử một lần cho công bằng, không xử theo giận, cũng không bỏ qua theo tình. Ai có ý kiến, nói lần lượt, không chen ngang.
Một ông chú thuộc chi dưới đứng dậy trước tiên, giọng còn nóng.
- Thưa bác Phúc, việc này to quá. Nó bỏ thuốc ngủ cho bố nó, nó thả mèo hại bác cả nó, may mà bác cả còn sống. Theo tôi, cứ đưa lên xã, giao cho pháp luật, họ mình không bao che tội ác.
Vài tiếng đồng tình nổi lên. Nhưng một bà cô lớn tuổi khác lại lắc đầu.
- Đưa lên xã thì cả làng cả tổng biết, tiếng nhà mình có cháu hại bác vì đất đai còn nặng hơn tiếng quỷ nhập tràng gấp mười lần. Cụ dưới kia cũng không yên. Tôi bảo xử trong họ, thật nghiêm vào là được.
Tiếng bàn tán chia làm hai ngả đúng như nỗi lo từ đầu buổi. Ông Lương ngồi nghe hết, không chen vào. Ông nhìn đứa cháu đang quỳ giữa nhà, từ lúc thú tội tới giờ nó vẫn quỳ nguyên ở đó, không ai bảo đứng lên, nó cũng không dám tự đứng. Cổ tay bó bột của nó đặt trên đùi run không ngừng, phần vì đau, phần vì sợ. Ông nhìn sang em trai mình đang ngồi cúi đầu, hai tay bấu vào nhau. Rồi ông nhìn lên bàn thờ cha.
Ông nhớ lại tháng bảy năm nay, ngày cha ông còn minh mẫn, gọi trưởng họ Phúc và thầy Nhẫn tới nhà, nói lời di chúc miệng trước mặt con cháu: nhà cổ và đất mặt sông giao chi trưởng giữ hương hỏa, cấm bán. Lúc ấy cha ông nói xong, quay sang nắm tay ông Bính, dặn một câu mà đến giờ ông vẫn nhớ từng chữ: phần ruộng ven bãi tuy kém hơn. Nhưng là phần của con, con giữ lấy mà làm ăn, anh em có thế nào cũng phải nhìn nhau mà sống. Cha ông chia đất không đều, nhưng chia tình thì chưa bao giờ thiếu phần ai. Một người cha như thế, nếu còn sống tới hôm nay, ngồi giữa gian nhà này, sẽ xử thằng cháu đích tôn của chi thứ ra sao?
Ông Lương biết câu trả lời. Cha ông sẽ không đuổi nó. Cha ông sẽ phạt nó thật nặng, nặng đến mức cả đời không quên, nhưng phạt để nó sửa, không phải phạt để nó mất đường quay về.
Ông đứng dậy. Cả gian nhà im bặt.
- Thưa bác Phúc, thưa cả họ. Tôi là người bị hại trong chuyện này, tôi xin nói ý của tôi trước khi họ quyết. Tôi không đồng ý đưa thằng Hiệp lên xã. Không phải tôi bao che cho nó. Đêm ấy người bị cái xác đuổi quanh gian nhà này là tôi, cái hông bầm tím là của tôi, tôi có quyền giận nó nhất ở đây. Nhưng tôi nghĩ thế này: đưa nó đi, họ mình mang tiếng đời đời, bố tôi mang tiếng đời đời, mà nó vào tù ra tội rồi về làng cũng không làm lại được người tử tế nữa. Tôi xin họ xử nó ở đây, trước bàn thờ bố tôi, xử thật nghiêm, nhưng cho nó một đường ở lại trong họ mà trả tội.
Ông ngừng lại, nhìn thẳng vào Hiệp, giọng rắn lại.
- Nhưng nghiêm là phải nghiêm. Nó mưu hại tôi vì đất mặt sông. Vậy thì cái nó mất đầu tiên phải là quyền với mảnh đất ấy. Nó nợ nần vì cờ bạc, vậy thì nợ phải tự nó trả bằng sức của nó, không ai trong họ này bán một tấc đất tổ tiên để trả thay cho thói cờ bạc của nó. Và nó phải tạ tội trước bàn thờ cụ, cho cả họ thấy, không phải một lời xin lỗi nói khơi khơi là xong.
Trưởng họ Phúc gật đầu, lật cuốn gia phả tới trang ghi phần thừa kế của các chi, rồi đứng dậy, tuyên phán quyết bằng giọng trang trọng như đọc một văn bản đã cân nhắc kỹ.
- Họ Trần nghe đây. Việc của Trần Văn Hiệp, họ quyết như sau. Một: tước quyền thừa kế của Hiệp đối với phần đất mặt sông của họ. Phần đất ấy treo mười năm, giao trưởng họ và chi trưởng cùng quản lý giữ hương hỏa, Hiệp không được bén mảng tới việc mua bán, cầm cố, chia chác mảnh đất ấy trong mười năm. Hết mười năm, họ sẽ họp lại xem xét tư cách của nó sau. Hai: Hiệp phải quỳ tạ tội trước bàn thờ cụ cố ba ngày liên tiếp trong tuần thất đầu, mỗi ngày từ sáng tới trưa, trước mặt hai chi, không ai được thay, không ai được giảm. Ba: Hiệp ký giấy cam kết không tranh chấp thừa kế, tự trả món nợ bốn trăm hai mươi triệu đồng bằng sức lao động của mình. Cha mẹ nó chỉ đứng ra bảo lãnh bằng phần ruộng của chi thứ, giao sổ đỏ cho trưởng họ giữ làm tin, tuyệt đối không bán nhà đất tổ tiên trả thay. Bốn: việc này không báo công an, xử trong họ, nhưng giấy cam kết có trưởng họ, thầy Nhẫn và ông Tứ ký chứng. Ai nuốt lời, làm trái cam kết, sẽ bị xử theo lệ họ, nặng nhất là gạch tên khỏi gia phả.
Cả gian nhà lặng đi nghe từng điều. Thầy Nhẫn ngồi bên phải gật đầu, tay lần tràng hạt. Ông Tứ cũng gật đầu chậm rãi.
Ông Lương nghe từng điều một mà lòng vừa nặng vừa nhẹ. Nặng, vì đứa cháu ruột của mình, đứa cháu ông từng bế trên tay khi nó còn đỏ hỏn, từ hôm nay chính thức mất quyền với mảnh đất mặt sông mà nó đã đánh đổi cả lương tâm để giành lấy. Nhẹ, vì bản án ấy giữ lại cho nó tất cả những gì cần để làm lại: nó vẫn là người họ Trần, vẫn còn cha mẹ để phụng dưỡng, vẫn còn đôi tay, dù một tay đã yếu, để lao động trả nợ. Mười năm treo quyền không phải là cánh cửa đóng sập. Nó là một khoảng thời gian đủ dài để cả họ nhìn xem nó sống ra sao, và đủ dài để chính nó hiểu cái giá của lòng tham không phải tính bằng tiền.
Ông Bính nghe tới điều giao sổ đỏ phần ruộng làm tin, người ông khẽ giật mình, rồi lại gật đầu lia lịa, miệng lẩm bẩm cảm ơn anh trai, cảm ơn cả họ. Bà Sen phía sau đưa khăn lên chấm mắt không ngừng. Còn chị Phượng, vợ Hiệp, ngồi ở góc nhà ôm mặt khóc, lần này là khóc vì nhẹ nhõm: chồng chị không phải đi tù, nhà chị không tan, món nợ dù lớn vẫn còn đường trả dần bằng sức người.
Một ông chú chi dưới, người lúc nãy đòi đưa việc lên xã, lúc này cũng chậm rãi gật đầu.
- Xử thế này tôi phục. Nghiêm mà không tuyệt đường sống của nó. Đúng là lệ họ mình từ đời cụ tổ để lại.
- Giấy cam kết đã soạn sẵn theo đúng những điều vừa tuyên. Hiệp, cháu đứng dậy, lại đây ký.
Hà là người mang tờ giấy cam kết cùng cây bút tới đặt trên chiếc bàn nhỏ giữa gian nhà, ngay trước bàn thờ. Hiệp lảo đảo đứng lên sau mấy giờ quỳ, hai chân tê dại, phải vịn vào mép bàn mới đứng vững. Hắn cầm bút bằng tay trái, bàn tay lành lặn mà run lẩy bẩy, nắn nót ký tên mình xuống cuối tờ giấy, nét chữ xiêu vẹo khác hẳn ngày thường. Tay phải bó bột của hắn đặt trên đùi, run không ngừng suốt từ lúc bản án được tuyên cho tới khi nét bút cuối cùng khô mực.
Ký xong, hắn không quay về ghế. Hắn lại quỳ xuống trước bàn thờ, dập đầu một lần nữa, lần này không khóc thành tiếng.
- Cháu xin nhận hết. Cháu cảm ơn bác cả, cảm ơn cả họ đã không đuổi cháu.
Ông Lương bước tới, đặt tay lên vai đứa cháu, không nói gì thêm. Mọi lời cần nói tối nay đã nói hết rồi.
Trưởng họ Phúc cầm tờ cam kết đã ký, thổi nhẹ cho khô mực, gấp lại cẩn thận theo nếp, rồi mở chiếc hộp gia phả bằng gỗ để dưới chân bàn thờ, đặt tờ giấy vào trong, ngay dưới cuốn gia phả bọc vải đỏ. Ông đóng nắp hộp lại, tiếng gỗ khép vào nhau nghe khô và chắc giữa gian nhà đã qua nửa đêm.
- Từ giờ phút này, việc coi như đã xử xong trong họ. Ra khỏi gian nhà này, ai còn mang chuyện quỷ nhập tràng ra đồn thổi, người ấy tự chịu tội với cụ. Trong họ từ nay chỉ nói một câu: đêm ấy là việc của người sống làm, họ đã xử xong rồi.
Ngoài sân, gió sông thổi qua vườn chuối rào rạo. Mấy người họ hàng lần lượt đứng dậy ra về trong đêm, tiếng dép lặng lẽ trên con đường làng. Buổi họp họ dài nhất trong đời ông Lương khép lại khi đồng hồ điểm mười hai tiếng.
Ông Lương ở lại sau cùng, tự tay thay nước trong ấm chè trên bàn thờ, thắp thêm một nén hương cho cha. Khói hương bay thẳng lên trong gian nhà yên tĩnh, không còn bị gió bão quật như đêm nào nữa. Ông đứng nhìn di ảnh cha một lúc lâu, thì thầm một câu chỉ đủ cho mình nghe.
- Bố ơi, việc nhà con xử xong rồi. Bố yên nghỉ nhé.
Rồi ông quay ra, khóa cánh cửa gian giữa lại bằng chiếc chốt mới đã thay từ hôm sau đêm bão, và bước ra sân trong tiếng côn trùng rả rích của một đêm tháng chín bình thường như bao đêm khác ở làng Hạ Trạch.
---