QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 39: Sổ đỏ của ông Bính

Tuần thất đầu của cụ cố diễn ra trong không khí lặng lẽ khác hẳn những ngày viếng tang ồn ã trước đó. Họ hàng các chi lần lượt tới nhà cổ cúng cơm, thắp…

Nội dung chương

Tuần thất đầu của cụ cố diễn ra trong không khí lặng lẽ khác hẳn những ngày viếng tang ồn ã trước đó. Họ hàng các chi lần lượt tới nhà cổ cúng cơm, thắp hương, ngồi lại uống chén nước chè, nói với nhau những câu chuyện nhỏ về cụ cố lúc còn sống. Không ai nhắc lại chuyện họp họ đêm mười chín, cũng không ai nhắc chữ quỷ nhập tràng. Như có một thỏa thuận ngầm trong cả họ: việc đã xử xong thì để nó yên, người đang trả tội thì để người ta yên mà trả.

Chính trong những ngày lặng lẽ ấy, ông Bính làm một việc mà không ai trong họ yêu cầu ông làm thêm ngoài phán quyết.

Buổi sáng ngày thứ ba của tuần thất, khi anh Hiệp còn đang quỳ trong gian giữa. Ông Bính lặng lẽ vào buồng trong, mở chiếc hòm gỗ cũ của gia đình mình kê ở góc buồng, lấy ra một cuốn sổ đỏ đã cũ, bìa nhăn nheo ở các góc vì nhiều năm cất giữ. Đó là sổ đỏ phần ruộng của chi thứ, phần đất cha ông chia cho ông theo di chúc miệng: ruộng ven bãi, kém màu mỡ nhất trong các phần ruộng của họ, nhưng là toàn bộ tài sản đất đai đứng tên ông. Ông cầm cuốn sổ trên tay hồi lâu, vuốt đi vuốt lại mặt bìa, rồi mang ra gian ngoài, đặt lên bàn trước mặt trưởng họ Phúc và bác Lương, bằng cả hai tay, như đặt xuống một vật nặng đã mang trên vai nhiều ngày.

- Thưa anh cả, thưa bác Phúc. Phán quyết của họ bảo cha con tôi giao sổ đỏ làm tin cho món nợ của thằng Hiệp, tôi xin giao hôm nay, trước mặt hai chi đang có mặt ở đây. Sổ đỏ phần ruộng của chi thứ tôi đây, tôi giao cho bác Phúc và anh cả giữ. Thằng Hiệp nó trả nợ được đến đâu, họ ghi nhận đến đấy. Bao giờ nó trả xong, họ trả lại sổ cho nó đàng hoàng tử tế làm ăn.

Bác Lương nhìn cuốn sổ đỏ trên bàn, không cầm lên ngay. Ông nhìn em trai mình, người đàn ông sáu mươi hai tuổi tóc đã bạc quá nửa, mấy ngày qua gầy rộc đi vì ăn không ngon ngủ không yên, và chậm rãi đẩy cuốn sổ lại về phía ông Bính một nửa bàn tay.

- Chú cầm lấy mà nghe anh nói hết đã. Sổ này họ giữ làm tin, đúng như phán quyết, việc ấy không thay đổi. Nhưng phần ruộng của chi thứ, anh với bác Phúc đã bàn nhau rồi: ruộng ven bãi của chú có hai thửa. Một thửa xa bãi bồi, đất tốt hơn, mỗi năm còn trồng được vụ ngô vụ đậu nuôi miệng ăn cho nhà chú với thím và vợ chồng thằng Hiệp. Thửa ấy không tính vào phần bảo lãnh. Chú giữ lại mà làm, coi như phần sinh nhai của chi thứ, không ai động vào. Chỉ thửa ruộng gần đê, phần còn lại, mới tính vào món nợ.

Ông Bính ngẩng lên, mắt ông đỏ hoe, miệng lắp bắp không thành câu.

- Anh cả, nhà em gây ra tội lớn thế, anh còn nghĩ cho nhà em đường ăn ở nữa sao...

- Tội là tội của thằng Hiệp, nó đang trả kia kìa.

Bác Lương hất đầu về phía gian giữa, nơi anh Hiệp đang quỳ yên lặng trước bàn thờ.

- Còn chú là em tôi. Bố mình chia ruộng cho các con không phải để đứa nào đói cả. Họ xử thằng Hiệp nghiêm là để nó nên người, chứ không phải để dồn cả nhà chú vào đường cùng. Đường cùng thì người ta lại sinh liều, anh không muốn nhà mình thêm một lần nào nữa như thế.

Trưởng họ Phúc ngồi bên cạnh gật đầu, tự tay viết biên bản giao nhận sổ đỏ ngay tại bàn, ghi rõ từng thửa ruộng, số hiệu thửa đất. Diện tích, phần nào tính bảo lãnh, phần nào giữ lại làm sinh nhai cho chi thứ, có chữ ký của ông Bính, bác Lương và hai người họ hàng làm chứng. Hà đứng bên cạnh, là người đọc lại biên bản cho cả nhà nghe trước khi ký, theo đúng thói quen văn thư của cô. Nét chữ của ông Bính khi ký run run, nhưng ông ký đầy đủ họ tên, không thiếu một nét.

Cuốn sổ đỏ sau đó được cất vào cùng chiếc hộp gia phả dưới chân bàn thờ, nằm cạnh tờ cam kết của anh Hiệp. Hà nhìn hai vật ấy nằm cạnh nhau trong hộp gỗ mà thấy lòng mình chùng xuống: một tờ giấy ghi tội, một cuốn sổ ghi niềm tin. Họ Trần xử người trong nhà bằng cả hai thứ ấy cùng lúc, nghiêm khắc và giữ đường lui, đúng như cách cụ cố đã sống cả đời với con cháu mình.

Tối hôm ông Bính giao sổ, Hà về buồng muộn, thấy đèn nhà ông Bính bên kia vườn vẫn sáng. Qua cửa sổ, cô nhìn thấy ông ngồi một mình bên bàn, trước mặt là mâm cơm đã nguội, thím Sen ngồi đối diện gắp thức ăn vào bát chồng mà ông chỉ ăn vài miếng lấy lệ. Cô hiểu rằng bản án của họ dành cho anh Hiệp, nhưng người mang nó nặng nhất trong những ngày này lại là cha mẹ anh. Họ không bị tước quyền gì, không phải quỳ ngày nào, nhưng họ sẽ sống phần đời còn lại với ý nghĩ rằng đứa con duy nhất của mình đã từng định hại anh ruột của cha nó vì tiền. Không một phán quyết nào của họ gỡ được gánh nặng ấy xuống cho họ. Chỉ có thời gian, và cách anh Hiệp sống từ nay về sau, mới gỡ dần được.

Những ngày còn lại của tuần thất đầu trôi đi bình yên. Họ hàng bên chi của bà Liên từ làng bên sang cúng cơm, mang theo cả một rổ trứng gà nhà nuôi cho nhà cổ bồi bổ sau những ngày tang lễ dài. Mấy đứa cháu nhỏ trong họ chạy chơi ngoài sân gạch, tiếng cười của chúng làm gian nhà cổ bớt đi vẻ u ám đã kéo dài suốt từ hôm cụ cố mất. Bà Hảo bắt đầu dọn dẹp lại vườn rau sau nhà bị bão quật nát, gieo lại luống cải mới. Cuộc sống, Hà nhận ra, đang tự nó tìm đường trở lại trong ngôi nhà này, chậm rãi như nước sông Đáy rút dần sau những ngày nước lớn.

Một buổi chiều, Hà ngồi ở hiên nhà vá lại tấm lưới bồ kết đã bị gỡ góc trong đêm bão. Tấm lưới cũ bằng sợi gai tẩm bồ kết, mấy chỗ sờn rách sau nhiều năm treo quanh giường người mất của họ. Bà Liên ngồi cạnh, tay thoăn thoắt phụ cô nối lại từng mắt lưới, vừa làm vừa kể chuyện xưa: ngày cụ cố còn trẻ. Chính cụ là người ngồi đan tấm lưới này trong một mùa đông, vừa đan vừa nói với con cháu rằng nhà nào giữ được lệ canh xác chu đáo, nhà ấy con cháu biết thương nhau. Hà nghe, tay vẫn đều đặn luồn sợi gai qua từng mắt lưới, lòng nghĩ tới đêm mười lăm, tới bàn tay đã gỡ chiếc móc phía cửa sổ trong bóng tối. Tấm lưới này bị phá không phải vì nó cũ, mà vì một người trong nhà đã quên mất nó sinh ra để bảo vệ điều gì.

- Cô Liên này, cháu hỏi thật, đêm ấy cô phát hiện góc lưới bị tháo, sao cô không làm ầm lên ngay?

Bà Liên thở dài, lắc đầu.

- Cô nghi thì có nghi, nhưng tang gia bối rối, ai cũng nghĩ gió bão nó làm tuột. Với lại trong bụng cô lúc ấy, không một giây nào cô nghĩ tới người trong nhà mình cả. Ai mà ngờ được.

Chiều khác, chị Phượng sang nhà cổ phụ bếp, lặng lẽ làm mọi việc nặng nhọc nhất như một cách chuộc lỗi thay chồng. Hà thấy chị rửa chồng bát đĩa cao ngất một mình ngoài giếng, bèn xắn tay áo xuống phụ, hai chị em vừa làm vừa nói chuyện nhỏ. Chị Phượng kể từ hôm họp họ, anh Hiệp ngủ yên giấc hơn hẳn, không còn giật mình giữa đêm như những ngày ở viện về. Hà nghe mà không nói gì, chỉ nghĩ rằng con người ta đôi khi chỉ ngủ yên được khi tội lỗi của mình đã được nói ra hết, không còn phải ôm giữ một mình trong bóng tối nữa.

Cũng từ những ngày ấy, Hà bắt đầu một việc riêng của mình. Cô lấy một cuốn sổ tay mới, bìa vải xanh, và mỗi tối sau khi xong việc nhà, cô ngồi ở chiếc bàn nhỏ trong buồng, ghi chép lại toàn bộ sự kiện đêm bão và những ngày sau đó một cách có hệ thống. Cô ghi theo đúng thứ tự bằng chứng đã trình bày tại họp họ: chiếc móng vuốt mèo, dấu chân trên bậu cửa sổ, tấm lưới bồ kết bị gỡ, ngăn chuồng sau chuồng trâu. Lời của bà Tư Lành và trang sổ ghi tên ở chợ huyện, đoạn camera lúc không giờ bốn mươi phút, vỏ gói thuốc ngủ trong xó bếp, tin nhắn trong điện thoại của chị Phượng, và món cọc năm mươi triệu của cò đất vừa trả xong. Chín mắt xích, không thiếu một mắt nào, mỗi mắt cô ghi rõ ngày giờ phát hiện, người giữ, người chứng.

Bác Lương biết việc cô ghi chép, chỉ dặn một câu.

- Cháu ghi cho đúng sự thật, đừng thêm đừng bớt. Cái sổ ấy không phải để khoe với ai. Nó là để đời sau trong họ này, đứa nào nghe đồn thổi sai lệch về cụ, còn có cái mà đối chiếu.

Hà gật đầu. Tối hôm ấy, cô ngồi viết trang đầu tiên của cuốn sổ. Ngoài cửa sổ buồng, tiếng gió sông thổi qua vườn chuối, tiếng côn trùng rả rích, ngôi nhà cổ yên tĩnh trong một đêm bình thường. Cô nắn nót viết dòng đầu tiên lên trang giấy trắng, mực còn ướt và hơi nhòe ở cuối nét bút. Cô viết chậm, như người khắc chữ lên bia, vì cô biết những dòng này sẽ còn ở lại trong hộp gia phả của họ Trần rất lâu sau khi những người chứng kiến đêm ấy lần lượt đi hết.

Đêm bão, nhà có biến, người sống làm, không phải người chết.

---

Chương khác

Xem thêm