QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 40: Búi lông trên xà nhà
Đầu tháng mười, khi tuần thất thứ hai của cụ cố vừa qua, nhà cổ bước vào đợt tu sửa sau bão. Cơn bão đêm mười lăm tháng chín đã làm tốc một mảng mái ngói…
Nội dung chương
Đầu tháng mười, khi tuần thất thứ hai của cụ cố vừa qua, nhà cổ bước vào đợt tu sửa sau bão.
Cơn bão đêm mười lăm tháng chín đã làm tốc một mảng mái ngói gian giữa, mấy viên ngói vỡ nát rơi xuống sân, nước mưa dột xuống đúng góc giường nơi từng đặt thi thể cụ cố trong hai đêm canh xác. Ông Lương bàn với họ hàng, quyết định thuê thợ lợp lại toàn bộ mái gian giữa và gia cố lại gian nhà cổ một lượt. Nhân tiện cũng là chuẩn bị cho ngôi nhà bước vào những tuần thất tiếp theo cho tới lễ chung thất bốn mươi chín ngày. Thợ lợp là người làng bên, hai cha con làm nghề lâu năm, thêm anh Hiệp với cổ tay còn bó bột chỉ làm được việc nhẹ dưới mặt đất: chuyển ngói, pha vữa bằng tay trái, đưa đồ cho thợ.
Công việc làm từ sáng sớm, khi sương còn đọng trên mái ngói cũ. Người cha thợ lợp trèo lên mái gian giữa, dỡ từng hàng ngói âm dương đã bám rêu xanh sau nhiều mùa mưa nắng. Ông Lương đứng dưới sân, ngửa cổ nhìn lên, thỉnh thoảng lại nhắc thợ cẩn thận với mấy cây xà gỗ lim cũ, của tổ tiên để lại, không được đóng đinh bừa vào.
Khoảng gần trưa, khi hàng ngói cuối cùng phía chái đông được dỡ ra, người thợ già bỗng khựng lại, tay cầm một vật gì đó đen và khô, gọi xuống sân.
- Bác Lương ơi, trên xà nhà có cái này này. Hình như lông con gì khô quắt lại, bám đầy bụi, lâu lắm rồi thì phải.
Ông Lương bước vội lên chiếc thang tre dựa vào hiên, trèo lên mấy bậc, đón lấy vật ấy từ tay người thợ. Đó là một búi lông mèo đen, khô quắt, bết lại thành một mảng nhỏ bằng nửa bàn tay, phủ một lớp bụi xám của nhiều ngày tháng dồn lại trên xà nhà. Ông cầm búi lông trên tay mà đứng lặng hồi lâu trên chiếc thang, gió đầu tháng mười thổi qua mái nhà đang dỡ dở, mát và khô.
Ông hiểu ngay búi lông này là gì.
Đêm bão ấy, con linh miêu sau khi đạp lên ngực thi thể cụ cố, bị ánh đèn pin và tiếng người làm hoảng, đã không chạy ra cửa sổ như mọi người vẫn tưởng. Nó leo thẳng lên xà nhà gian giữa, nằm im trong bóng tối trên cao suốt tám phút kinh hoàng và cả những giờ sau đó, trong khi cả nhà nhốn nháo bên dưới, khi thì khâm liệm, khi thì khóc tang. Rồi có lẽ ngay trong đêm ấy, khi mọi con mắt còn dồn cả vào gian giữa, nó mới theo đường mái dỡ mà thoát ra ngoài, về phía vườn sau, phía triền sông, và biến mất hẳn. Không ai bắt được nó. Không ai nhìn thấy nó thêm lần nào nữa.
- Bác Lương, vứt đi chứ? Lông mèo trên xà nhà thờ, để không hay đâu.
Người thợ trẻ phía dưới hỏi vọng lên. Ông Lương lắc đầu, từ từ tụt xuống thang, tay vẫn cầm chặt búi lông khô.
- Không vứt xuống sân như rác thế được. Để tôi lo.
Ông vào buồng trong, lấy một mảnh vải trắng sạch, gói búi lông lại cẩn thận, buộc bằng sợi dây gai nhỏ. Buổi chiều, khi thợ đã nghỉ tay, ông một mình mang gói vải ra vườn sau, tới gốc cây chuối già ở cuối vườn, gần chỗ ngăn chuồng sau chuồng trâu mà Hà đã khóa lại bằng ổ khóa mới. Ông đào một hố nhỏ dưới gốc chuối bằng chiếc xẻng con, đặt gói vải xuống, lấp đất lại, lấy chân nén nhẹ cho chặt. Bà Hảo đứng ở cửa bếp nhìn theo, không hỏi gì. Chỉ có anh Hiệp, đang ngồi nghỉ ở thềm chuồng trâu với bình nước trong tay, nhìn bác mình làm việc ấy từ đầu tới cuối, mặt tái đi rồi lại lặng lẽ cúi xuống.
Ông Lương phủi tay, đứng dậy, nói một câu đủ cho đứa cháu nghe thấy, giọng không giận dữ mà cũng không mềm yếu.
- Nó cũng chỉ là con vật bị người ta dùng thôi. Tội không ở nó. Tội ở người nuôi nó, người thả nó. Người thì họ xử rồi, còn nó, chôn xuống đất cho yên, thế là xong.
Anh Hiệp gật đầu, không nói được câu nào, hai mắt đỏ hoe nhìn gốc chuối vừa được lấp đất.
Tối hôm ấy, công việc lợp mái tạm dừng ở đoạn dỡ dở, mái gian giữa được che bằng tấm bạt lớn chống mưa dột qua đêm. Ăn cơm tối xong, cả nhà ngồi lại ở gian ngoài bàn chuyện tu sửa những ngày tới: thay mấy viên ngói vỡ ở mái buồng, gia cố lại hàng rào vườn sau bị bão quật đổ. Dọn lại ngăn chuồng sau chuồng trâu mà cả họ đã quyết sẽ phá bỏ hẳn, không giữ lại dấu vết gì của mười bảy tháng nuôi giấu tội lỗi. Anh Hiệp ngồi ở mép bàn, tay trái cầm chén nước, lặng lẽ nghe mọi người bàn bạc, thỉnh thoảng góp một câu về việc sửa chữa đúng nghề điện và việc vặt hắn từng làm. Không ai giao việc nặng cho hắn, nhưng cũng không ai gạt hắn ra khỏi câu chuyện của nhà này nữa. Ông Lương nhìn cảnh ấy mà thấy lòng mình dịu lại: ngôi nhà này đang tự vá lại những chỗ rách của nó, từ mái ngói cho tới lòng người, chậm rãi mà chắc chắn.
Ông Lương ăn cơm tối xong, đi một vòng kiểm tra các cửa nhà như thói quen từ ngày cha mất, rồi về buồng nằm nghỉ sớm vì một ngày leo lên leo xuống trông thợ. Nằm trong bóng tối yên tĩnh của buồng trong, nghe tiếng gió đầu mùa se lạnh lùa qua khe cửa, ông thiếp đi lúc nào không hay.
Và ông mơ.
Ông mơ thấy cha mình ngồi bên chiếc giường gỗ trong gian buồng này, đúng như ngày cha còn sống và còn khỏe, mặc chiếc áo bà ba nâu đã sờn, tay cầm chiếc quạt mo cau phe phẩy. Cha không nói gì cả. Không trách móc, không hỏi han chuyện họp họ, không nhắc một lời nào tới đêm bão hay thằng cháu thứ. Cha chỉ nhìn ông, rồi gật đầu một cái, chậm rãi, hiền hậu, như cái gật đầu ngày xưa mỗi khi ông làm xong một việc đồng áng khó và về báo lại với cha. Rồi hình bóng ấy mờ dần như khói hương tan trong gian nhà.
Ông Lương tỉnh dậy khi trời còn chưa sáng, tiếng gà gáy đầu tiên từ phía cuối làng vọng lại. Ông nằm yên trên giường, mắt mở nhìn lên trần nhà tối, lòng nhẹ đi một cách lạ lùng, nhẹ như vừa đặt xuống một gánh nặng đã mang suốt gần một tháng qua, từ đêm bão mười lăm tháng chín. Ông biết rõ đó chỉ là một giấc mơ, giấc mơ của người con vừa lo xong việc lớn cho cha, đầu óc được thả lỏng thì mơ thấy người thân, chuyện thường tình của người sống. Cha ông đã đi từ chiều ngày mười bốn tháng chín, đi thanh thản, không về trong mơ để phán xét ai cả. Cái gật đầu ấy, có lẽ là chính lòng ông gật đầu với ông, rằng việc nhà đã xử xong, xử công bằng, xử có tình, và ông không còn phải dằn vặt nữa.
Ông ngồi dậy, khoác áo, bước ra gian giữa khi trời còn mờ sương. Bát hương trên bàn thờ cha đã tàn từ đêm, ông rút ba nén hương mới, châm lửa, cắm vào bát hương, khói bay lên thẳng tắp trong gian nhà yên tĩnh. Ông đứng trước bàn thờ một lúc lâu, nhìn di ảnh cha, rồi quay ra nhìn khắp gian giữa: nền gạch đã được tẩy uế sạch sẽ. Bậu cửa gỗ lim nguyên vẹn với vết đục còn hằn sâu, tấm lưới bồ kết đã vá lại treo gọn ở góc nhà chờ những đám tang sau này của làng.
Sáng hôm sau, khi thợ lợp quay lại làm tiếp, ông Lương tuyên bố với cả nhà một quyết định mà ông đã nghĩ suốt đêm: gian giữa này. Từ nay sẽ được tu sửa thành gian thờ trang trọng hơn cho họ Trần, bàn thờ gia tiên đặt trang nghiêm ở chính giữa, hai bên là nơi con cháu họp họ mỗi dịp giỗ chạp. Riêng chiếc bậu cửa gỗ lim cũ của gian giữa, dù thợ có khuyên thay mới cho đồng bộ, ông nhất quyết giữ nguyên, không thay, không bào nhẵn.
- Cái bậu cửa này đã chặn cho nhà mình một đêm dữ. Giữ nó lại, để con cháu đời sau nhìn vào mà nhớ lấy lệ nhà mình.
Thợ lợp lại mái ngói mới đỏ tươi trên gian giữa nhà cổ, nắng đầu tháng mười rải xuống sân gạch từng mảng sáng. Ngôi nhà cổ dựng từ năm một nghìn chín trăm mười một, qua ba đời họ Trần, qua một đêm bão động trời, lại đứng yên bên bờ sông Đáy như nó đã đứng suốt hơn một trăm năm qua.
Đứng giữa sân nhìn lên mái nhà mới, ông Lương bỗng nhớ lại lời cha ông dặn cháu Hà ngày cụ còn khỏe, câu dặn mà cả nhà thuộc lòng: nhà này không bán, nghe chưa. Khi ấy ông chỉ nghe như một lời dặn dò thường ngày của người già. Trải qua một mùa thu đầy biến cố, qua một đêm bão, một buổi họp họ và ba ngày quỳ của đứa cháu thứ, ông mới thấm hết sức nặng của câu dặn ngắn ngủi ấy. Giữ một ngôi nhà chưa bao giờ chỉ là giữ gỗ lim và ngói đỏ. Giữ nhà là giữ cho con cháu trong nhà không ai vì đồng tiền mà đánh mất nhau. Cụ cố đã giữ được điều ấy suốt chín mươi năm đời mình. Phần đời còn lại, đến lượt ông và những người như cháu Hà tiếp tục giữ, bằng lệ, bằng gia phả, và bằng cả những vết đục còn hằn trên bậu cửa kia, không bao giờ được phép quên.
Ông quay vào nhà, bắt tay vào việc đo đạc lại gian giữa cho kế hoạch tu sửa thành gian thờ, tay thước gỗ gõ nhẹ lên từng cây cột gỗ lim, tiếng gõ khô và đanh như tiếng của trăm năm vọng lại.
---