QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 43: Cây đục đồng đỏ ở bậu cửa
Cuối tháng mười, ông Tứ sang nhà cổ họ Trần sớm hơn thường lệ. Lễ chung thất còn mấy ngày nữa mới tới, nhưng ông muốn đến trước, khi nhà còn yên, để làm…
Nội dung chương
Cuối tháng mười, ông Tứ sang nhà cổ họ Trần sớm hơn thường lệ. Lễ chung thất còn mấy ngày nữa mới tới, nhưng ông muốn đến trước, khi nhà còn yên, để làm một việc ông đã nghĩ đi nghĩ lại từ đêm bão. Trong chiếc túi vải mang theo, ngoài bộ đồ nghề quen thuộc, ông gói riêng một tấm rèm gai mới, sợi gai thô được đan đều tay, và một chiếc hộp gỗ nhỏ vừa bằng bàn tay người lớn, nắp hộp bào nhẵn, không sơn vẽ gì.
Ông Tứ năm nay bảy mươi hai tuổi, làm nghề đóng áo quan hơn năm mươi năm. Ông đi khắp các làng ven sông Đáy, thuộc từng nhà có người già yếu, thuộc từng lệ tục nhỏ của mỗi họ. Nhà nào người mất đặt ở gian giữa, nhà nào đặt ở chái. Nhà nào kiêng tiếng khóc lớn trong giờ khâm liệm, nhà nào phải mời thầy từ sớm. Ông nhớ hết, không phải vì trí nhớ hơn người, mà vì ông luôn cho rằng nghề của mình không chỉ là đóng gỗ. Đóng một chiếc áo quan cho vừa người mất là một việc. Giữ cho người sống trong những đêm tang không làm điều dại dột với nhau, đó là việc lớn hơn.
Sáng ấy, ông Lương đang quét sân, thấy ông Tứ vào cổng thì đặt chổi xuống.
- Bác Tứ sang sớm thế. Chung thất còn mấy hôm nữa cơ mà.
- Tôi sang trước để treo lại tấm rèm cho gian thờ, anh Lương ạ. Rèm cũ dùng đêm ấy, bọc qua thi thể, theo lệ không treo lại trước bàn thờ nữa. Tôi đan tấm mới này từ tháng trước, sợi gai ngâm bồ kết cẩn thận, treo lên cho trang trọng trước ngày bốn mươi chín.
Ông nói rồi đi thẳng vào gian giữa. Gian thờ đã khác nhiều so với những ngày phát tang. Không còn giường đặt thi thể, không còn lưới bồ kết treo quanh, không còn mùi dầu đèn cháy suốt đêm. Bàn thờ cụ cố đặt ngay ngắn, di ảnh nhìn xuống, hai bên là lọ hoa và đĩa quả mới. Bậu cửa gỗ lim nguyên tấm vẫn nằm đó, trên mặt gỗ còn dấu của cây đục cắm ngập trong đêm mười sáu tháng chín, một vết sâu nhỏ, sẫm màu.
Ông Tứ treo tấm rèm gai mới lên trước bàn thờ, chỉnh từng nếp cho thẳng, rồi đứng lùi lại ngắm một lúc. Tấm rèm cũ, sau đêm bão, đã được nhà họ Trần gói lại, mang ra sau vườn đốt cùng những vật đã chạm vào thi thể, theo lời thầy Nhẫn dặn. Việc ấy làm lặng lẽ, không ai nhắc lại. Nay rèm mới treo lên, gian thờ như được khép lại một chương cũ.
Xong việc rèm, ông mới lấy chiếc hộp gỗ nhỏ trong túi ra, mở nắp. Bên trong, nằm trên một lớp vải đỏ đã sờn, là cây đục mộc bằng đồng đỏ của ông. Thân đục ánh lên màu đồng trầm, cán gỗ mun đen bóng vì hơn năm mươi năm cầm nắm. Đây là cây đục theo ông từ khi còn là thợ học việc, là cây đục ông đã cắm ngập vào bậu cửa gỗ lim trong đêm bão để ngắt luồng âm khí, cứu cả gian nhà khỏi tám phút kinh hoàng ấy.
Ông đặt hộp lên bàn nhỏ bên bậu cửa, gọi ông Lương lại gần.
- Anh Lương, cây đục này tôi để lại cho nhà.
Ông Lương sững người.
- Bác nói gì thế. Đồ nghề của bác, lại là đồ theo bác cả đời, nhà em sao dám nhận.
- Anh nghe tôi nói hết đã. Tôi già rồi, tay cũng yếu dần, đóng áo quan thêm được vài năm nữa thôi. Cây đục này ở với tôi thì sau này tôi đi, con cháu tôi không làm nghề này, nó cũng chỉ nằm trong góc tủ. Để ở nhà anh, bên bậu cửa gian thờ này, nó có chỗ của nó. Đêm ấy nó đã cắm ở đây, đã giữ cho nhà này qua cơn biến. Từ nay nó là vật trấn của gian thờ họ Trần. Đời sau con cháu mở hộp ra, nhìn thấy nó, sẽ có người hỏi vì sao nó ở đây. Lúc ấy người lớn trong nhà kể lại, và nhắc lại lệ canh xác cho chúng nghe.
Ông Lương im lặng rất lâu. Ông đưa tay chạm nhẹ lên nắp hộp, không mở ra ngay.
- Bác để lại vật này, nhà em mang ơn bác không biết để đâu cho hết. Đêm ấy không có bác ở chái nhà, không biết nhà em còn ra sao.
- Ơn nghĩa gì. Tôi ngủ lại vì mưa bão, việc xảy ra thì người làm nghề như tôi phải biết cách xử trí. Anh đừng nghĩ đó là ơn. Anh cứ nghĩ, cái đục này nó muốn ở lại chỗ nó đã làm xong việc của nó.
Hà lúc ấy từ buồng bên đi ra, nghe được câu chuyện, đứng yên ở cửa gian giữa không xen vào. Cô thấy bác cả của mình, người đàn ông sáu mươi sáu tuổi cứng rắn suốt những ngày tang, lúc này mắt đỏ lên khi nhận chiếc hộp từ tay ông Tứ bằng cả hai tay.
Ông Tứ dặn thêm, giọng chậm và rõ.
- Không cần đặt lên bàn thờ như đồ cúng. Cứ để hộp ở bên bậu cửa gian thờ, chỗ trang trọng, khô ráo. Ai vào gian thờ cũng nhìn thấy. Mỗi lần trong làng có tang, con cháu nhà này sang phụ giúp, nhìn thấy nó mà nhớ: canh xác là phải thức, phải có hai người một phiên, lưới bồ kết phải treo kín, cửa sổ phải chốt chặt, mèo chó không được bén mảng vào gian đặt giường. Lệ không tự giữ được mình. Lệ phải có người nhớ và người làm.
Buổi chiều, họ hàng gần xa biết tin ông Tứ để lại cây đục, có mấy người sang xem. Ông Bính đến, đứng trước hộp gỗ rất lâu, không nói gì. Hiệp cũng sang, tay phải vừa gần tới ngày tháo bột, lớp bột đã mỏng và bẩn hơn trước. Hắn nhìn cây đục trong hộp, nhớ lại cảm giác cổ tay bị túm chặt trong đêm bão, nhớ tiếng hô của ông Tứ giữa gian nhà tối. Hắn cúi đầu chào ông.
- Cháu chào bác Tứ ạ.
- Ừ. Tay sắp tháo bột rồi chứ?
- Dạ, ít hôm nữa ạ. Tháo xong cháu muốn sang xin bác cho cháu theo phụ việc ở xưởng, bác ạ. Cháu nói trước một câu như vậy, khi nào bác thấy được thì bác nhận.
Ông Tứ nhìn hắn một lúc, không gật ngay, cũng không từ chối.
- Việc ấy để sau chung thất hãy bàn. Nghề này không nhận người bằng một câu nói lúc đang xúc động. Nhưng mày đã mở lời, tao ghi nhận.
Khi mọi người đã ngồi xuống hiên uống trà, ông Lương mới hỏi điều ông giữ trong lòng từ lâu.
- Bác Tứ này, bác đi đóng hòm khắp vùng bao nhiêu năm, cái lệ canh xác này, nó có từ bao giờ mà nhà nào cũng giữ khắt khe thế?
Ông Tứ đặt chén trà xuống, nhìn ra sân, nơi nắng cuối tháng mười trải mỏng trên gạch.
- Tôi nghe ông nội tôi kể lại, rồi đến đời cha tôi, rồi đến tôi. Ngày xưa, ở vùng sông này, có những đêm tang mà người sống lợi dụng lúc nhà có người mất, đèn đuốc leo lét, người thức người ngủ, để làm việc xấu với nhau. Trộm cắp của cải để trong buồng người mất. Trả thù nhau giữa lúc tang gia bối rối. Có cả chuyện người trong nhà giấu vật gì đó vào quan tài để hại chi khác. Sau những đêm như thế, các cụ mới đặt ra lệ canh xác cho chặt: hai người một phiên không rời mắt, gậy tre để ngay tay, lưới treo kín quanh giường, cửa nẻo chốt chặt, không cho mèo chó vào, cũng là không cho người lạ lảng vảng. Lệ sinh ra là để canh người sống, anh ạ. Người chết nằm đó, họ còn làm hại được ai nữa.
Cả hiên im lặng. Hà nghe mà nhớ lại từng chi tiết của đêm bão: lưới bị gỡ, cửa sổ bị nới chốt, ấm chè bị bỏ thuốc, con mèo bị thả vào vườn. Không một việc nào trong số đó là do người chết làm. Tất cả đều do bàn tay người sống chuẩn bị từ trước, trong nhiều tháng, nhiều ngày.
Ông Tứ nói tiếp, lần này ông nhìn khắp cả nhà, từ ông Lương sang ông Bính, sang Hiệp, rồi dừng lại ở Hà.
- Tôi nói câu này ở họp họ một lần rồi, nay trước ngày chung thất, tôi nói lại cho đầy đủ, để đời sau nhà này ghi nhớ. Lệ canh xác không phải để sợ ma. Lệ là để người sống không hại nhau trong đêm tối.
Trước khi ra về, ông Tứ còn đi một vòng quanh gian giữa, tay chạm lên từng cánh cửa sổ đã thay chốt mới, gật đầu khi thấy then cài chắc chắn. Ông dặn Hà, người sẽ chép gia phả đời này, rằng khi ghi lại chuyện của họ Trần, không cần ghi cây đục như một vật thần bí. Cứ ghi đúng nó là đồ nghề của một người thợ mộc già, đã dùng đúng chỗ trong một đêm bão, và được nhà này giữ lại để nhớ lệ. Ghi đúng như thế, đời sau đọc mới hiểu, mới không sợ hãi vô cớ, và mới biết việc cần làm khi nhà có tang là thức cho tỉnh, giữ cửa cho chặt, thương nhau cho thật.
Hà dạ vâng, tiễn ông ra cổng. Ông đi chậm qua ngõ, chiếc túi vải nhẹ hơn lúc đến, vì tấm rèm và chiếc hộp đã ở lại nhà cổ. Dáng ông nhỏ lại dần sau hàng cau, nhưng trong gian thờ, lời ông nói còn ở lại nguyên vẹn, rõ ràng như vết đục trên bậu cửa.
Ông nói xong câu chủ đề, nâng chén trà lên uống một ngụm, như người vừa đặt xuống một gánh đã mang suốt đời nghề. Ngoài sân, gió sông thổi qua, tấm rèm gai mới treo trước bàn thờ khẽ lay một nhịp rồi đứng yên. Chiếc hộp gỗ đựng cây đục đồng đỏ nằm trang trọng bên bậu cửa gỗ lim, ở đúng chỗ của nó, từ ngày hôm ấy.
---