Quỷ Nhập Tràng - Chương 11: Ôm Cha Trưởng Nam Lê Văn Hậu
Cánh cửa gỗ sao ngăn cách gian chái sau với nhà giữa rung lên từng chập dữ dội, chốt then lim ken két nghiến vào ổ khóa như muốn nứt toác. Phía bên kia…
Nội dung chương
Cánh cửa gỗ sao ngăn cách gian chái sau với nhà giữa rung lên từng chập dữ dội, chốt then lim ken két nghiến vào ổ khóa như muốn nứt toác. Phía bên kia tấm ván dày ba phân, tiếng móng tay cào rột rột hòa lẫn hơi thở phì phò đặc quánh tử khí đập thẳng vào màng nhĩ chúng tôi. Mỗi cú thúc mạnh vào mặt gỗ đều làm bụi trên mái ngâm rơi lả tả xuống vai áo bạc màu của cha Hậu.
"Mở cửa hông ra! Mau lên Tùng!"
Tôi hạ thấp giọng quát khẽ, một tay tôi bấu chặt lấy thành vách ván, tay kia kéo giật vạt áo thằng Tùng đang co quắp dưới nền đất. Má Hoa vẫn mê man bất tỉnh, đầu bà gục sang một bên, hơi thở mỏng manh dứt quãng sau cơn kinh hoàng nhìn tận mắt cỗ thi hài cha chồng bật dậy. Cha Hậu nghiến chặt hàm răng đến mức hai bên quai hàm bạnh ra, gân xanh nổi chằng chịt trên trán. Cha dùng trọn bờ vai vững chãi ghì sát vào mép cửa lim, từng thớ cơ run bần bật theo từng cú va đập từ gian nhà giữa dội sang.
Thằng Tùng lồm cồm bò dậy, hai đầu gối nó va vào nhau lộp cộp. Nó run rẩy kéo then cài cánh cửa hông trổ ra mé vườn sau - lối đi nhỏ dẫn thẳng về phía rạp tang dựng tạm ngoài sân đất.
Gió đêm từ mé rạch Mỹ Trà thốc vào mang theo vị bùn non tanh nồng cùng hơi sương ẩm ướt rười rượi. Chưa kịp để thằng Tùng bước chân qua bậu cửa, một bóng người cao gầy, mặc chiếc áo bà ba màu xám tro đã vội vã xộc thẳng vào bên trong.
Người vừa bước vào là ông Hai Thìn, người lớn tuổi nhất trong ban tang của ấp 4, người đảm nhiệm việc cúng tế và coi sóc lễ nghi ma chay khắp xã Mỹ Trà suốt bốn chục năm qua. Trên tay ông Hai cầm sẵn một bó nhang xạ lớn chưa đốt cùng chiếc túi vải bạt bạc màu đựng đồ cúng đám. Gương mặt đầy nếp nhăn của ông xám ngoét lại, đôi mắt già nua trợn tròn nhìn chòng chọc vào cánh cửa buồng đang nảy lên bần bật.
"Thằng Hậu! Có chuyện gì vậy tụi bay? Tiếng gãy đổ với tiếng la hét rền vang ra tận rạp trước là cớ làm sao?" Giọng ông Hai Thìn run rẩy, khô khốc như rơm rạ mùa nắng hạn.
"Chú Hai... Cứu... Cứu nhà con với chú Hai ơi..." Cha Hậu thều thào, bàn tay bám chặt vào then cửa ướt đẫm mồ hôi nhờn nhợt. "Cha con... Cha con sống lại rồi... Xác cụ Thời... Cụ Thời bật dậy rồi!"
Nghe đến mấy chữ đó, thân hình gầy guộc của ông Hai Thìn bỗng giật nảy một cái. Ông bước giật lùi hai bước, lưng đập mạnh vào cột cái của gian chái. Bó nhang trên tay ông suýt nữa rớt xuống nền đất ẩm.
"Mày nói cái giống gì vậy Hậu? Người chết nằm xuống hai ngày, đã làm lễ nhập quan chưa mà bảo sống lại?" Ông Hai gắt khẽ, nhưng trong âm giọng của bậc trưởng bối lão làng đã lộ rõ sự run rẩy tột cùng.
Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt mặn chát, cố đè nén cơn run rẩy nơi lồng ngực để cất tiếng:
"Ông Hai, con mèo đen ngoài ruộng nhảy qua áo quan! Nó nhảy vọt ngang ngực ông nội con. Đèn dầu phụt tắt một cái là ông nội bật dậy liền, mắt mở trừng trừng, lao tới bóp cổ thằng Tùng với cha con!"
Lời tôi vừa dứt, phía sau cánh cửa gỗ lim lại phát ra một tiếng rầm chấn động. Cả khung bao cửa oằn sang một bên, những vụn gỗ mục từ trên xà ngang rụng rào rào. Một tiếng rít khàn đặc, the thé như tiếng rống của loài dã thú bị bóp nghẹt cuống họng rền vang qua khe nứt:
"Khè... Hừ... Ự..."
Sắc mặt ông Hai Thìn từ xám ngoét chuyển hẳn sang màu trắng bệch như tàu chuối héo. Bàn tay gân guốc của ông run lên bần bật, vội vã nắm chặt lấy cổ tay cha Hậu, giật mạnh cha lùi ra xa cánh cửa gỗ.
"Trời đất quỷ thần ơi... Quỷ Nhập Tràng! Đích thị là nghiệp chướng Quỷ Nhập Tràng rồi!" Ông Hai Thìn rên lên một tiếng nghẹn ứ nơi cổ họng. "Tao đã dặn dò kĩ càng từ bữa trước, người già chín mươi hai tuổi chết vào giờ linh, tuyệt đối phải xua đuổi hết chó mèo trong ấp, không để một con súc vật nào lảng vảng gần cỗ linh cữu. Sao tụi mày lại để con linh miêu chui vào nhà giữa?"
"Nhà con... Nhà con cài then hết các ngách rồi..." Cha Hậu nghẹn ngào, nước mắt ứa ra nơi khóe mắt đỏ ngầu vì thức trắng ba đêm. "Ai ngờ liếp tre chái sau bị mục thủng một lỗ, con súc sinh đó từ ngoài đồng phóng vụt qua..."
Ông Hai Thìn thở dốc từng cơn nặng nhọc. Ông vội vàng đặt túi vải bạt xuống chiếc bàn gỗ mít con kê ở góc buồng chái, hai tay cuống cuồng lục lọi bên trong. Nỗi sợ hãi hằn rõ trên từng nếp nhăn sâu hoắm nơi vầng trán của người đàn ông đã tiễn đưa hàng trăm người chết về lòng đất sâu. Ông lôi ra một bát sành đựng đầy gạo muối trắng muốt, một nắm lá ngải khô đã ngả màu nâu sẫm và một chiếc nghiên mực tàu đỏ au.
"Nghe tao nói đây, cả nhà tụi bay gom hết lại đây mau!" Ông Hai Thìn cất giọng trầm đục, từng câu từng chữ nặng nề đè lên tâm trí chúng tôi. "Loài linh miêu sinh ra nơi đồng trũng, đêm ngày rình mò ăn thịt rắn rết, uống nước đọng đáy mương, bản thân nó chứa cái tính âm cực kỳ hung hiểm. Khi trời chuyển sấm sét hoặc gió chướng thổi dồn, lông của nó tích tụ tà khí và luồng điện âm lạnh ngắt. Xác người vừa mới tắt thở, ba hồn bảy vía chưa kịp đi xa, gân cốt còn mềm rũ. Con súc sinh đó nhảy vọt qua ngực người chết, luồng điện tích và âm khí cực mạnh từ lông nó phóng thẳng vào tim, truyền ngược vào các khớp xương tử thi."
Tôi đứng nép bên cạnh manh chiếu nơi má Hoa đang nằm mê mệt, hai bàn tay tôi ghì chặt lấy bả vai run rẩy của thằng Tùng. Từng lời ông Hai nói rót vào tai tôi rành rọt, lạnh toát như những gáo nước đá dội thẳng vào sống lưng.
"Vậy... Vậy người chết có nhận biết được con cháu không hả ông Hai?" Tôi vừa thở dốc vừa cố nuốt nỗi sợ đang bóp nghẹt khí quản, run rẩy hỏi dồn. "Ông nội con nhìn thấy cha con, nhìn thấy thằng Tùng, sao ông nội lại nhắm vào tụi con mà cào xé?"
Ông Hai Thìn ngẩng đầu lên, ánh mắt đục ngầu của ông nhìn thẳng vào mặt tôi, trong đó không có lấy một tia hy vọng nào, chỉ toàn sự bi thiết và kinh hãi tột cùng:
"Nó không còn là cụ Thời của tụi mày nữa đâu con ơi! Xác thịt thì là của ông nội mày, nhưng cái thứ đang điều khiển đống gân cốt đó là tà khí của con ác miêu kết hợp với uế khí của tử thi! Người chết bị nhập tràng biến thành một khối tà vật hung bạo, mất hết linh hồn, mất sạch nhân tính."
Ông dừng lại một nhịp, nuốt khan một ngụm nước bọt rồi nói tiếp, từng chữ như mũi kim đâm thẳng vào tim tôi:
"Tà vật nhập tràng không có mắt nhìn như người sống. Nó di chuyển cứng đờ, nó nhìn bằng tử khí, và tai hại nhất là nó chỉ đói hơi ruột thịt! Nó chỉ nhằm vào người thân có cùng huyết thống gần nhất để ôm bắt! Máu mủ càng đặc, huyết thống càng gần thì luồng dương khí tỏa ra càng nồng nặc trong mũi nó. Nó lần theo mùi máu huyết đó để tìm đến, ôm chặt lấy người sống cho đến khi hút cạn hơi thở cuối cùng, bắt người thân cùng tắt thở theo nó mới hả cơn tà niệm!"
Ruột gan tôi thắt lại từng cơn buốt nhói. Cả người tôi lạnh ngắt từ đỉnh đầu xuống tận gót chân.
Huyết thống gần nhất. Máu mủ ruột thịt cùng dòng.
Cha Hậu là con trai trưởng duy nhất của cụ Thời. Thằng Tùng là cháu đích tôn mang họ Lê. Còn tôi là cháu gái ruột thịt lớn lên từ bầu sữa và tình thương của gia đình này. Chúng tôi chính là những mồi ngon bốc ra thứ mùi huyết thống nồng đượm nhất đối với cỗ thi hài đang lồng lộn ngoài kia. Thảo nào lúc ở gian nhà giữa, đôi mắt đục ngầu lân tinh xám tro của cỗ thi hài chỉ dán chặt vào mặt cha Hậu và thằng Tùng, hai cánh tay khô khốc giương thẳng chỉ nhằm hướng chúng tôi mà chụp tới.
"Trời ơi là trời... Tội nghiệp cha tôi..." Cha Hậu quỳ sụp xuống nền đất nện, hai tay ôm lấy đầu gối, tiếng khóc nghẹn lại trong lồng ngực không dám bật to thành tiếng. "Cả đời cha ăn ở hiền lành, nuôi nấng con cháu nên người, sao đến lúc nhắm mắt xuôi tay lại phải chịu cái nghiệp chướng đoạn tràng này..."
"Đừng khóc nữa Hậu! Khóc lúc này là rước cái chết về cho cả bầy con!" Ông Hai Thìn quát khẽ, giọng đanh lại. "Xác chết đang tìm mùi máu của mày đó. Im mồm hết cho tao!"
Tiếng cào cấu bên ngoài bỗng nhiên dừng bặt.
Sự im lặng đột ngột ập xuống gian chái sau còn đáng sợ hơn ngàn vạn âm thanh rầm rộ ban nãy. Chúng tôi nín thở, không một ai dám cựa quậy dù chỉ một đầu ngón chân. Gian buồng chái chỉ còn lại tiếng thở khò khè yếu ớt của má Hoa và tiếng tim tôi đập thình thịch liên hồi bên lồng ngực trái.
Rọt... Rọt...
Tiếng vải liệm cọ xát dưới nền gạch tàu ở gian nhà giữa bắt đầu di chuyển. Từng bước chân trơ khấc nện nặng nề xuống nền đất: "Bịch... Bịch... Bịch...". Cái xác đang lầm lũi đi dọc theo vách ván, áp sát thân hình lạnh ngắt vào từng thớ gỗ để rà soát.
"Mau, phụ tao lập bàn hương án dã chiến ngay mé này!" Ông Hai Thìn thì thầm thật nhanh, tay kéo chiếc bàn gỗ mít áp sát vào vách buồng, đối diện với hướng cửa hông. "Phải dùng nhang xạ và gạo muối trấn tạm thời, cầu xin tổ tiên khai ân che mắt cỗ thi hài, không để tử khí tràn qua vách buồng. Chậm một khắc nữa là nó phá toang cánh cửa xông vào đây thì không ai sống sót nổi đâu!"
Tôi vội vã nhào tới, run rẩy đỡ lấy bát sành đựng gạo muối đặt lên chính giữa mặt bàn mít. Bàn tay tôi chạm vào những hạt gạo trắng lạnh ngắt, lòng bàn tay ứa mồ hôi ướt đẫm. Thằng Tùng cũng bò lại gần, hai mắt nó sưng húp, môi mím chặt không dám thốt lên một lời nào.
Ông Hai Thìn thọc tay vào túi áo bà ba, rút ra chiếc bật lửa bằng đồng cũ kỹ. Ngọn lửa vàng le lói bốc lên soi rõ gương mặt hốc hác, căng thẳng tột độ của người cúng đám già. Ông rút từ bó nhang ra ba nén nhang đại - loại nhang xạ to bằng ngón tay cái chuyên dùng để cắm vào lư hương lớn trong những đêm canh tân trọng thể của vùng đất Cao Lãnh này.
Ngọn lửa liếm vào đầu ba nén nhang lớn. Những đốm than đỏ rực bùng lên, tỏa ra một làn khói trắng dày đặc mang theo mùi trầm hương nồng đậm, át đi phần nào mùi tử khí tanh tưởi đang luồn qua các khe nứt của vách gỗ.
Ông Hai Thìn chắp hai tay lại, kẹp ba nén nhang cháy đỏ giữa các ngón tay gầy guộc. Đôi môi ông mấp máy thật nhanh, đọc lầm rầm những bài kinh chú cổ truyền dùng để giải trừ ác khí và định thần cho vong linh:
"Càn khôn định vị, âm dương phân minh... Hồn về nẻo thiện, phách lánh u minh... Lê tộc tiên tổ chứng giám lòng thành, giữ gìn huyết mạch, che chắn hậu nhân..."
Giọng khấn của ông Hai Thìn lúc trầm lúc bổng, hòa lẫn với tiếng gió rít qua rặng tre ngoài vườn sau tạo nên một không khí trang nghiêm và rợn ngợp đến thắt ruột. Tôi chắp hai tay trước ngực, mắt nhìn chăm chú vào ba đốm lửa đỏ đang lập lòe trên tay ông Hai, trong lòng thầm van vái chín phương trời mười phương Phật, van vái linh hồn hiền từ của ông nội hãy thức tỉnh để buông tha cho con cháu.
Khói nhang cuộn tròn lại, từ từ bốc thẳng lên xà nhà, tạo thành một tấm màn mỏng manh che chắn phía trước mặt bốn người chúng tôi. Mùi trầm xạ cay nồng xông thẳng vào cánh mũi làm tôi hơi choáng váng, nhưng mang lại một cảm giác an toàn mong manh giữa đêm tối mịt mùng.
Ông Hai Thìn hít một hơi thật sâu, hai bàn tay run rẩy nhưng dứt khoát cắm ngập chân ba nén nhang đại vào chính giữa bát sành đựng gạo muối.
"Tạ ơn trời đất... Ba nén nhang đứng vững rồi..." Cha Hậu khẽ thở phào một tiếng nhẹ bẫng sau lưng tôi, dường như chút hy vọng mong manh vừa le lói trong đôi mắt tuyệt vọng của người đàn ông trụ cột.
Thế nhưng, lời nói của cha Hậu vừa rơi xuống mặt đất, biến cố kinh hoàng bỗng ập đến.
Một luồng gió âm lạnh buốt từ đâu thốc mạnh qua khe hở dưới chân vách ván. Luồng gió không mang theo hơi ẩm của đồng ruộng, mà mang theo mùi thịt thối rữa và mùi lông khét tanh nồng đặc quánh. Gió thổi tạt ngang qua mặt bàn hương án dã chiến, làm ngọn khói nhang đang bốc thẳng đứng bỗng chốc đảo lộn dữ dội, xoáy tít lại thành một vòng tròn đen sì ma quái.
Rắc! Rắc!
Hai tiếng gãy giòn tan, khô khốc vang lên rành rọt trong gian buồng chái im phăng phắc.
Thân của cả ba nén nhang đại to bằng ngón tay cái, được làm từ bột gỗ trầm kiên cố, bỗng nhiên gãy gập làm đôi ngay sát gốc chân nhang cắm trong bát gạo.
Ba phần thân nhang đang cháy đỏ rực không rơi xuống mặt bàn mít phía trước, mà dưới một lực hút vô hình ghê rợn, chúng bị giật ngược ra phía sau, văng thẳng về hướng góc buồng nơi má Hoa đang nằm và nơi cha con tôi đang co cụm ẩn nấp.
Xèo...
Những tàn nhang đỏ rực rơi vãi tung tóe lên mép manh chiếu cói, bốc lên những sợi khói khét lẹt. Tàn nhang rụng ngược, vạch ra những vệt xám đen kéo dài trên nền đất ẩm, chĩa thẳng mũi tên tàn tro về phía ngực áo của cha Hậu.
Bát sành đựng gạo muối trên bàn nứt toác ra làm đôi, những hạt gạo trắng nhuốm đầy tàn nhang đen rơi vãi lả tả xuống sàn đất.
Sắc mặt ông Hai Thìn lúc này hoàn toàn xám xịt, không còn một giọt máu. Đôi bàn tay ông buông thõng xuống hai bên sườn, cả người run lên bần bật như người trúng gió độc. Ông trố mắt nhìn ba đoạn nhang gãy gập nằm trơ trọi dưới chân tôi, miệng lắp bắp từng tiếng đứt quãng:
"Đoạn hương... Tàn nhang rụng ngược... Hỏng rồi... Trời ơi hỏng thật rồi..."
"Sao... Sao vậy ông Hai?" Tôi run rẩy bò lùi lại một bước, giọng lạc hẳn đi.
"Nhang gãy trỏ về đâu, tà khí đuổi theo tới đó!" Ông Hai Thìn thì thào, ánh mắt kinh hoàng tột độ nhìn trừng trừng vào cha Hậu và thằng Tùng. "Tổ tiên không đỡ nổi luồng âm khí này! Ba nén nhang đại bị bẻ gãy tức là tà vật đã ngửi thấy mùi huyết thống của tụi mày rồi! Nó biết rõ người mang dòng máu của nó đang trốn ngay sau bức ván này!"
Lời cảnh báo của bậc trưởng bối ban tang vừa dứt, âm thanh cào cấu ngoài gian nhà giữa vốn đã ngưng bặt bỗng nhiên thay đổi hoàn toàn.
Không còn tiếng đập cửa rầm rầm như trước nữa.
Thay vào đó, ngay sát mép ván gỗ ngăn cách buồng chái, một tiếng khịt mũi kéo dài vang lên rợn óc:
"Khịt... Hít... Khịt..."
Âm thanh hít thở khô khốc, thèm thuồng của cỗ thi hài ghé sát mũi vào đường nứt của thớ gỗ lim, từng đợt hơi lạnh từ cuống họng người chết thổi phù phù qua khe hở, phả thẳng vào gáy tôi buốt giá. Nó đang ngửi. Nó đang hít trọn mùi mồ hôi, mùi máu mủ, mùi hơi ấm của những đứa con, đứa cháu ruột thịt đang run rẩy sau bức vách mỏng manh.