RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 13: Đòi Đuổi Gánh
Tin đứa trẻ nhà bán đậu phụ phát bệnh lan đi nhanh hơn tin vở hay rất nhiều. Đêm hôm trước, cả trấn còn bàn tán về cái quay đầu thần sầu của nữ tướng.…
Nội dung chương
Tin đứa trẻ nhà bán đậu phụ phát bệnh lan đi nhanh hơn tin vở hay rất nhiều.
Đêm hôm trước, cả trấn còn bàn tán về cái quay đầu thần sầu của nữ tướng. Sáng ngày thứ tám, người ta đã bàn tán chuyện khác: rằng thằng bé con nhà bán đậu phụ ở phố đông xem diễn về sốt cao cả đêm không hạ, mê sảng gọi tên một người chị nào đó mà nhà ấy không hề có; rằng thầy lang trong trấn tới bắt mạch xong chỉ lắc đầu, bảo mạch của đứa trẻ như mạch người bị kinh hãi quá độ, thuốc thang chỉ là một phần, phần còn lại phải tìm tới gốc của cơn sợ. Người mẹ khóc tới sưng mắt, ngồi ở cửa nhà nói với hàng xóm rằng con bà trước đêm qua vẫn khỏe, vẫn chạy chơi, chỉ từ lúc ở rạp về mới thành ra như thế. Hàng xóm nghe, người này truyền người kia, tới lúc mặt trời lên tới đỉnh mái ngói thì câu chuyện đã thêm thắt đủ điều: có người nói rạp Khánh Phong vốn là rạp có người treo cổ chết oan, gánh rối lạ tới dựng màn là đánh thức cái oan khí mười mấy năm trong rạp dậy; có người nói con rối nữ tướng của gánh này không phải rối thường, vì rối thường không biết quay đầu nhìn người.
Khoảng đầu giờ chiều, đám người đầu tiên kéo tới rạp.
Đi đầu là cha của đứa trẻ, áo còn xắn tay từ buổi bán hàng dở dang, mặt đỏ gay vì giận và vì một đêm thức trắng bên con. Theo sau là mấy người bán hàng quanh rạp, mấy bà hàng xóm của phố đông, và một đám người hiếu kỳ không rõ tới để đòi lẽ phải hay để xem chuyện. Họ đứng chật cả sân trước rạp, tiếng nói át cả tiếng ve cuối mùa. Người cha chỉ tay về phía tấm màn đang treo trong rạp, giọng khàn đặc:
- Con tôi xem diễn của các người mà thành ra như thế. Trước đêm qua nó có bệnh gì đâu. Các người diễn trò gì thì diễn, sao lại để ma quỷ trong rạp này dọa một đứa trẻ con? Tôi nói thật, gánh các người phải rời khỏi trấn này. Ở lại thêm đêm nào, trấn này thêm chuyện đêm ấy.
Mấy người bán hàng hùa theo. Một bà bán hương ở cạnh miếu nói gánh tới mấy hôm nay, sân miếu vắng hẳn người thắp hương vì ai cũng sợ. Một người bán trà nói khách của ông ta ngồi uống trà còn nghe tiếng trẻ con khóc trong rạp lúc nửa đêm. Những lời ấy đúng sai thế nào không ai kiểm chứng, nhưng chúng rơi xuống đám đông như dầu đổ vào lửa. Tiếng đòi đuổi gánh to dần. Có người nói phải đốt tấm màn của gánh đi mới yên. Có người nói phải mời thầy pháp tới trấn rạp lại từ đầu.
Ông Từ giữ rạp chen ra đứng giữa sân, hai tay giơ lên can ngăn. Ông nói đứa trẻ ấy vốn sinh ra đã yếu, năm ngoái cũng từng một lần sốt mê man cả tuần, cả phố đông ai mà không biết. Ông nói gánh người ta diễn rối là nghề lương thiện, tiền vé thu của bà con không thiếu một xu, không thể vì một đứa trẻ ốm mà đổ hết lên đầu người ta.
Nhưng đám đông không nghe. Người cha của đứa trẻ nghe nhắc tới chuyện con mình yếu thì càng giận, nói ông Từ giữ rạp ăn tiền thuê của gánh nên mới bênh. Đám người xô đẩy nhau tới gần cửa rạp hơn. Vương Nhị Hổ cầm cây gậy dựng màn bước ra, mặt hầm hầm, suýt nữa thì cãi tay đôi với người cha, may có Trương Quế Phương kéo lại. Quế Phương nói nhỏ mà rít qua kẽ răng rằng lúc này ai động tay trước là người ấy thua, cả gánh sẽ mang tiếng đánh dân trấn, không còn đường nào ở lại nữa.
Tiểu Sơn đứng ở bậc cửa hậu trường, nhìn đám đông mà mặt nóng bừng.
Trong đám người có kẻ chỉ thẳng mặt hắn mà nói:
- Kìa, thằng nhỏ giữ đèn của gánh kia kìa. Người ta bảo sau màn đứa giữ đèn là đứa gọi ma lên cho rối diễn. Thằng bé nhà người ta nhìn thấy chị nào đứng sau con rối, biết đâu là do nó gọi lên.
Mấy chục ánh mắt đổ dồn về phía hắn. Tiểu Sơn muốn cãi, muốn nói hắn giữ đèn bảy năm nay, hắn chỉ giữ cho ngọn lửa đừng tắt, hắn gọi được cái gì bao giờ. Nhưng lời tới miệng lại nghẹn lại. Vì chính hắn cũng không cãi nổi vào đâu. Chính hắn đã nhìn thấy cái bóng quay đầu trong khi thân rối quay lưng. Chính hắn đã thấy tay sư phụ run và mồ hôi chảy thành dòng. Chính hắn, nếu đêm qua ngồi ở hàng ghế đầu như thằng bé ấy, có lẽ cũng đã nhìn thấy những thứ mà người lớn ngồi quanh chỉ thấy là một tuyệt kỹ hay. Hắn ấm ức tới mức hai tay nắm chặt lại, móng tay bấm vào lòng bàn tay, mà cuối cùng không nói được một lời nào cho ra hồn. Sự im lặng của hắn trong mắt đám đông lại thành một bằng chứng nữa: thằng nhỏ giữ đèn không cãi được, tức là có tật giật mình.
Đúng lúc tiếng ồn lên tới đỉnh, Lão Hứa từ phòng sau bước ra.
Ông không cầm gậy, không mang theo người nào. Ông đi thẳng ra giữa sân, đứng trước mặt người cha của đứa trẻ, và cúi đầu. Một cái cúi đầu rất thấp và rất lâu của một người đã năm mươi sáu tuổi trước một người cha trẻ đang giận dữ. Cả sân lặng đi một phần. Rồi ông nói, giọng không to nhưng ai cũng nghe rõ:
- Việc con anh bị bệnh sau đêm diễn ở rạp của gánh tôi, dù gốc gác thế nào, gánh tôi không chối phần của mình. Anh cho tôi biết thầy lang kê những thuốc gì, nhà anh mất mấy buổi chợ vì trông con, và mấy nhà quanh đây bị ảnh hưởng những gì. Gánh tôi bồi thường. Bồi thường xong, tôi sẽ ra trước miếu Thành Hoàng hứa với bà con một lời.
Người cha sững lại. Hắn tới đây để đòi đuổi gánh, không ngờ người phường chủ lại nhận phần và nói chuyện bồi thường trước. Nhưng giận trong người hắn chưa nguôi, hắn nói bồi thường bao nhiêu cũng không mua lại được sức khỏe của con hắn. Lão Hứa gật đầu, nói đúng, tiền không mua được sức khỏe, nhưng tiền thuốc và tiền chợ mất thì phải có người gánh, và người gánh ấy là gánh của ông. Ông quay sang bảo Tiểu Sơn mở hòm tiền của gánh mang ra giữa sân.
Hòm tiền của gánh Hứa Ký là một hòm gỗ nhỏ khóa đồng, là nơi Quế Phương cất tiền dành dụm của cả mùa diễn: tiền vé các trấn trước, tiền thưởng khán giả ném lên sân khấu, tiền để dành cho những ngày mưa gió không diễn được và cho quãng đường về cuối năm. Tiểu Sơn bê hòm ra, đặt xuống chiếu giữa sân theo lệnh sư phụ, mở khóa trước mặt mọi người.
Rồi trước mắt cả đám đông, Lão Hứa đếm tiền ra thành từng phần. Một phần cho nhà đứa trẻ: tiền thuốc thầy lang kê, tiền thang thuốc bổ sau khi hạ sốt, và tiền bù những buổi chợ mà hai vợ chồng phải nghỉ bán để trông con. Một phần cho mấy hộ bán hàng quanh rạp bị đám đông giẫm nát hàng hóa trong lúc chen nhau sáng nay. Một phần nữa ông tự tay mang sang gửi ông Từ, nói là tiền gánh xin góp vào việc hương khói của miếu trong những ngày tới để bà con yên lòng. Phần nào đếm ra, người cha và những người liên quan đều có mặt nhận, ông Từ đứng ra làm chứng, tiếng xì xào trong sân nhỏ dần theo từng xấp tiền mỏng đi trong hòm.
Tiểu Sơn đứng giữ nắp hòm, nhìn số tiền dành dụm của cả gánh vơi đi từng phần một mà ruột như thắt lại. Hắn biết số tiền ấy là mồ hôi của bao nhiêu đêm diễn, là tiền Quế Phương vẫn nói để dành sửa xe, sắm lại bộ trống đã nứt mặt, và lo cho cả gánh qua mùa đông. Vậy mà chỉ trong một buổi chiều, nó gần như sạch. Tới phần cuối cùng, trong hòm chỉ còn lại một lớp tiền lẻ mỏng nằm ở đáy, và Lão Hứa vẫn bình thản như người vừa trả một món nợ vốn dĩ phải trả, không mặc cả một xu, không xin bớt một phần.
Bồi thường xong, cả gánh theo ông Từ sang sân miếu Thành Hoàng. Lão Hứa thắp ba nén hương trước miếu, nói trước mặt dân trấn kéo theo: gánh ông không trốn, không chạy trong đêm; gánh xin diễn thêm đúng một đêm cuối, một đêm miễn phí ở ngay sân miếu này, để tạ lỗi và để bà con tự mắt mình xem gánh diễn có gì là tà hay không; sau đêm ấy, ở hay đi, gánh sẽ tính tiếp trước mặt mọi người. Đám đông nghe có đêm diễn miễn phí, nghe có lời hứa trước miếu, lại vừa thấy tiền bồi thường đếm ra rõ ràng, nên dần tản đi. Người cha của đứa trẻ ôm phần tiền thuốc, nói một câu rằng nếu con hắn không hạ sốt thì chuyện này chưa xong, rồi cũng quay về.
Buổi chiều muộn, rạp vắng hẳn. Nhị Hổ ngồi ở bậc thềm chửi thề một tràng dài, nói dân trấn được thể làm già, một đứa trẻ ốm mà cả gánh mất trắng cả mùa. Quế Phương ngồi đếm lại chỗ tiền lẻ còn trong hòm, đếm đi đếm lại hai lần rồi lặng lẽ đóng nắp, không nói một lời nào. Tiểu Sơn mang nước vào phòng sau cho sư phụ và thấy ông đang ngồi một mình bên hòm tiền đã mở, tay lật qua lật lại mấy đồng tiền lẻ cuối cùng còn sót lại ở đáy hòm, mặt không một chút tiếc nuối, như thể thứ vừa mất đi trong buổi chiều nay chưa bao giờ là thứ ông quan tâm trong chuyến đi này. Hắn đứng ở cửa nhìn ông một lúc lâu mà không hiểu nổi. Một người lăn lộn cả đời với gánh rối, mất gần hết tiền dành dụm trong một buổi chiều mà mặt vẫn lặng như thế, thì hoặc là ông không còn cần tiền nữa, hoặc là thứ ông chờ ở trấn này lớn hơn tiền rất nhiều.
Đêm xuống, mọi người trong gánh ai về chỗ nấy, không ai nói chuyện với ai thêm. Tiểu Sơn nằm trong buồng nhỏ sau rạp, nghe tiếng dế ngoài sân miếu và tiếng ho khẽ của sư phụ từ phòng bên, lòng rối như một cuộn tơ bị mèo vờn. Hắn nghĩ tới ánh mắt đám đông chỉ vào mặt hắn ban chiều. Hắn nghĩ tới cái bóng quay đầu. Hắn nghĩ tới số tiền đã mất và những ngày sắp tới không biết lấy gì mà ăn nếu gánh bị đuổi thật.
Rồi hắn ngồi dậy trong bóng tối, lôi chiếc bọc vải của riêng mình từ dưới gầm giường ra, gói vào đó đồ nghề và mấy bộ quần áo của bản thân, buộc chặt lại, đặt ngay ngắn bên cạnh chỗ nằm. Hắn quyết định sáng mai, trước khi cả gánh thức dậy, hắn sẽ bỏ gánh về quê, dù hắn chưa biết quê mình bây giờ còn ai.