RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 17: Mùi Sáp Ong Trong Tư Dinh

Chiều ngày thứ mười, Trình Dật Phong làm lễ trấn trạch ở hậu viện tư dinh họ Triệu. Đây là buổi lễ thứ hai của ông trong dinh này kể từ ngày tới trấn.…

Nội dung chương

Chiều ngày thứ mười, Trình Dật Phong làm lễ trấn trạch ở hậu viện tư dinh họ Triệu.

Đây là buổi lễ thứ hai của ông trong dinh này kể từ ngày tới trấn. Lần trước, ngay sau khi nhận lời mời của Triệu phu nhân, ông chỉ đi một vòng xem hướng nhà, bấm quẻ và dặn người làm dọn lại bàn thờ gia tiên. Lần này phu nhân cho người sang quán trọ mời ông tới từ sớm, nói trong thư tay rằng lễ mừng thọ của ông chủ sắp tới nơi, khách khứa sắp đổ về đầy nhà, mà lòng bà thì không yên một đêm nào, xin đạo sĩ làm một lễ trấn trạch cho tử tế, để người sống trong nhà được ngủ yên và người tới dự tiệc cũng được bình an.

Hậu viện của tư dinh nằm sau dãy nhà chính, là một khoảng sân nhỏ có giếng nước, cây ngô đồng già và dãy phòng của phu nhân. Dật Phong bày lễ vật lên chiếc bàn nhỏ kê giữa sân: một bát nước sạch, một đĩa gạo muối, ba nén hương và mấy lá bùa trấn trạch do chính tay ông vẽ từ sáng. Ông làm lễ chậm rãi, đúng phép của quán Thanh Hư, đi quanh sân theo đúng phương vị, miệng đọc chú khẽ tới mức người đứng gần cũng không nghe rõ. Người làm trong dinh đứng vòng ngoài xem, vừa kính vừa tò mò. Chỉ có Triệu phu nhân là đứng gần nhất, hai tay chắp trước bụng, mặt không giấu được vẻ mệt mỏi của người đã nhiều đêm không ngủ trọn giấc.

Khi nén hương cuối cùng cháy hết, phu nhân cho người làm lui hết, chỉ giữ lại một bà vú già thân tín, rồi mời đạo sĩ ngồi xuống bộ bàn đá dưới gốc ngô đồng. Bà rót trà bằng tay mình, một cử chỉ khiến bà vú già hơi ngạc nhiên, rồi nói khẽ:

- Đạo sĩ đã làm lễ, tôi cũng xin nói thật hết một lần. Gần một tháng nay, đêm nào tôi cũng mơ một giấc mơ giống nhau. Tôi mơ thấy một cô gái mặc áo trắng đứng ở cuối giường của tôi. Cô ta quay lưng về phía tôi, đứng yên, không nói một lời nào. Tôi nhìn thấy mái tóc đen xõa xuống lưng, thấy hai vai gầy, và thấy trên lưng áo của cô ta, đúng giữa hai xương vai, có một vệt tối, hình thù như một bông hoa. Tôi không nhìn rõ là hoa gì. Tôi chỉ biết mỗi lần tôi cố nhìn kỹ hơn thì tôi lại choàng tỉnh, và khi tỉnh dậy, sau gáy tôi lạnh buốt, lạnh như có người vừa áp một bàn tay ướt vào đó.

Dật Phong đặt chén trà xuống, hỏi rất chậm:

- Phu nhân có từng nhìn thấy mặt cô gái ấy không?

- Chưa từng. Cô ta không bao giờ quay lại. Tôi cũng không dám gọi. Trong mơ, tôi biết rõ nếu mình cất tiếng gọi thì cô ta sẽ quay lại, và tôi sợ cái khoảnh khắc ấy hơn bất cứ điều gì.

- Giấc mơ bắt đầu từ bao giờ, phu nhân còn nhớ không?

Bà im lặng nghĩ một lúc, rồi nói một điều khiến Dật Phong phải ngẩng lên nhìn thẳng vào bà:

- Tính ra thì bắt đầu từ khi trong trấn có tin gánh rối Hứa Ký sắp trở về diễn. Trước đó tôi ngủ yên bao nhiêu năm. Tôi biết nói ra thì kỳ lạ, một gánh rối ở ngoài phố thì liên quan gì tới giấc mơ trong phòng của tôi. Nhưng tôi nằm đêm nghĩ mãi, không tìm được mốc nào khác.

Dật Phong không đáp ngay. Ông nhìn xuống bát nước lễ còn đặt trên bàn đá. Mặt nước phẳng lặng, phản chiếu tán lá ngô đồng. Gần một tháng trước, khi mới tới trấn, ông đã nghe phu nhân kể qua về giấc mơ này và khi ấy chi tiết vệt hoa trên lưng áo chưa hề xuất hiện, hoặc bà chưa dám kể. Một giấc mơ mà các chi tiết cứ rõ dần lên theo từng tuần, theo ông, không còn là giấc mơ thường của người yếu bóng vía nữa. Nó giống một thứ đang tiến lại gần, từ xa tới gần, từ mờ tới rõ, theo một nhịp mà chính người mơ cũng cảm nhận được.

Làm lễ xong, phu nhân ngỏ ý muốn đạo sĩ xem lại khu nhà ngang ở phía tây dinh, nơi mấy hôm nữa gánh rối sẽ dọn vào ở trong những ngày diễn cho nhà họ Triệu, để ông tiện thể xem luôn phong thủy của khu ấy có gì xung khắc với sảnh tiệc hay không. Dật Phong nhận lời. Bà vú già cầm đèn dẫn đường, đưa ông qua dãy hành lang dài nối nhà chính với khu nhà ngang.

Chính ở hành lang ấy, Dật Phong khựng lại.

Trên hai chiếc ghế dài kê sát tường, có một chiếc hòm gỗ dài đặt ngay ngắn, phủ vải điều, khóa đồng còn mới. Đó là hòm rối chính của gánh Hứa Ký, được khiêng vào dinh từ sáng nay khi phường chủ tới bàn việc, và người của dinh chưa kịp chuyển nó vào kho theo lời dặn. Dật Phong chưa cần cúi xuống đã ngửi thấy mùi.

Mùi sáp ong. Rõ, ấm, ngọt ngái, thứ mùi của sáp ong nấu chảy dùng để ngâm thuộc da theo lối cũ của phường rối. Nhưng lẫn trong mùi sáp ong ấy, còn có một mùi khác, rất nhẹ, rất mỏng, mà mũi của một người thường sẽ bỏ qua: mùi tanh của da thuộc lâu năm. Không phải mùi da mới thuộc còn hăng, cũng không phải mùi da lừa đã phơi khô sạch sẽ. Đó là mùi của một tấm da đã được thuộc từ rất lâu, được nuôi dưỡng, lau rửa, giữ gìn qua nhiều năm tháng, tới mức mùi tanh nguyên thủy của nó không mất đi mà chỉ lắng xuống, nằm sâu trong thớ da, và chỉ thoát ra khi có người cúi lại thật gần.

Dật Phong đứng yên trước hòm rối một lúc lâu. Ông từng theo sư phụ đi xem rối bóng ở nhiều trấn, từng ngửi mùi hòm rối của không ít gánh hát. Rối da lừa mới thuộc có mùi da sạch và mùi màu khoáng. Rối cũ của các gánh lâu năm có mùi ẩm mốc của gỗ hòm và vải. Chưa một hòm rối nào ông từng gặp có mùi sáp ong đậm và mùi tanh lắng sâu như chiếc hòm đang đặt trước mặt ông trong hành lang này.

Bà vú già thấy đạo sĩ đứng lâu thì lên tiếng hỏi có điều gì không ổn. Dật Phong lắc đầu, nói chỉ là xem qua hướng đặt hòm, rồi tiện miệng hỏi người làm đi cùng về lai lịch của gánh rối sắp vào ở trong dinh. Người làm ấy là một người đàn ông trung niên đã làm trong dinh nhiều năm, nghe hỏi thì đáp rành rọt: gánh này tên là Hứa Ký Bì Ảnh Ban, phường chủ họ Hứa, người trấn vẫn gọi là Lão Hứa. Gánh nổi tiếng khắp vùng nhờ một vở diễn có con rối nữ tướng múa gươm như người thật. Rồi người làm hạ giọng, như mọi người dân trong trấn này mỗi khi nói tới chuyện cũ:

- Gánh này không phải lần đầu tới Bình Dao đâu, đạo sĩ. Mười hai năm trước họ đã từng diễn ở chính trấn này, đông khách lắm. Rồi sau một đêm mưa, cả gánh bỏ đi không một lời từ biệt. Người trấn hồi ấy đồn đủ thứ chuyện, rồi cũng quên dần. Nay họ quay lại, già cả rồi, mà vở diễn vẫn hay như xưa.

Mười hai năm trước. Một đêm mưa. Lại là hai chi tiết ấy, đúng như ông Từ giữ rạp đã nói với ông bên miếu Thành Hoàng mấy hôm trước. Dật Phong gật đầu cảm ơn, không hỏi thêm, nhưng trong lòng ông, những mảnh rời rạc bắt đầu tự tìm tới nhau: một gánh rối từng bỏ trấn trong đêm mưa mười hai năm trước, một người trong gánh ấy đã chết mà cả trấn quen coi như không có, một cô gái áo trắng quay lưng đứng cuối giường của vị phu nhân giàu có nhất trấn, và một chiếc hòm rối tỏa mùi sáp ong lẫn mùi tanh của da thuộc lâu năm ngay trong hành lang của tư dinh.

Ông cúi xuống nhìn kỹ chiếc hòm một lần nữa, vẫn không đưa tay chạm vào. Khóa đồng của hòm là khóa mới, sáng bóng, rõ ràng mới được thay trong vài năm gần đây. Nhưng gỗ quanh ổ khóa, ở đúng chỗ tay người ta nắm vào mỗi lần mở ra đóng vào, đã mòn nhẵn và sẫm lại thành một vùng bóng loáng. Một chiếc hòm được mở ra đóng vào hàng nghìn lần trong nhiều năm, nhiều tới mức gỗ cũng phải mòn đi, mà chủ của nó vẫn thay khóa mới để giữ cho cẩn thận. Người ta chỉ đối xử như thế với một thứ vừa là của quý, vừa là gánh nặng, vừa không dám rời tay.

Đúng lúc ấy, từ đầu hành lang vang lên tiếng cười khẩy. Triệu Sĩ Văn, con trai thứ của nhà họ Triệu, hai mươi lăm tuổi, áo quần bảnh bao, tay cầm quạt, đi ngang qua cùng hai người bạn. Hắn liếc nhìn bàn lễ nhỏ mà người làm đang thu dọn, liếc nhìn đạo sĩ đứng trước hòm rối, rồi nói đủ lớn cho cả hành lang nghe:

- Nhà này sắp có thọ yến lớn mà việc gì cũng mời thầy, mời đạo sĩ. Trấn trạch, xem hướng, coi ngày. Có khi nên mời luôn phường rối kia làm lễ thay, nghe nói bóng rối của họ còn linh hơn cả người sống.

Mấy người bạn của hắn cười theo. Dật Phong chỉ chắp tay, cúi đầu chào người nhà chủ như lệ, không đáp một lời. Sĩ Văn phe phẩy quạt đi qua, mùi rượu và mùi nước hoa theo hắn ra tới sân. Bà vú già đứng bên thở dài rất khẽ, nói nhị thiếu gia từ nhỏ đã không tin những chuyện này, cũng không sợ miệng lưỡi của mình.

Tối hôm ấy, Dật Phong trở về quán trọ, ghi lại mọi điều nghe thấy trong ngày vào cuốn sổ tay của mình: giấc mơ có vệt hoa trên lưng áo, mùi sáp ong và mùi tanh trên hòm rối, khóa mới trên gỗ mòn, và con số mười hai năm xuất hiện tới lần thứ ba. Ông ngồi trước trang sổ rất lâu, cây bút đặt xuống rồi lại cầm lên. Ông biết có một câu hỏi mà mình chưa dám viết ra, vì viết ra thì sẽ phải đi tìm câu trả lời: nếu tấm da trong chiếc hòm kia không phải da lừa, thì nó là da gì.

Sáng ngày thứ mười một, khi Dật Phong vừa dùng xong bữa sáng ở quán trọ, người của tư dinh đã tới chờ sẵn ở cửa, nói phu nhân cho mời đạo sĩ vào dinh ngay, có chuyện cần thưa. Tới nơi, ông thấy Tôn Ngọc Liên ngồi ở phòng khách nhỏ phía hậu viện, mặt nhợt nhạt hơn hôm qua rõ rệt, hai tay ôm một chén trà đã nguội mà không uống. Bà không vòng vo:

- Đêm qua tôi lại mơ, đạo sĩ ạ. Vẫn là cô gái ấy, vẫn đứng cuối giường, vẫn quay lưng lại. Nhưng đêm qua, lần đầu tiên trong gần một tháng, cô ta hơi quay đầu lại. Chỉ một chút thôi, đủ để tôi thấy được một phần sườn mặt và một con mắt nhìn nghiêng về phía tôi. Rồi tôi tỉnh dậy, sau gáy lạnh buốt, và tôi nằm mở mắt tới sáng, không dám ngủ lại nữa.

Chương khác

Xem thêm