RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 20: Hồ Sơ Thiếu Trang Cuối
Ngày thứ mười hai, Trình Dật Phong tới văn thư phòng của huyện nha Bình Dao. Ông tới được nơi này là nhờ một mối quan hệ cũ. Nhiều năm trước, khi còn…
Nội dung chương
Ngày thứ mười hai, Trình Dật Phong tới văn thư phòng của huyện nha Bình Dao.
Ông tới được nơi này là nhờ một mối quan hệ cũ. Nhiều năm trước, khi còn theo sư phụ hành đạo quanh vùng Sơn Tây, ông từng giúp viên thư lại của huyện nha trừ một vụ nhà có tiếng khóc trong giếng, chuyện nhỏ nhưng khiến gia đình ấy mang ơn mãi không quên. Nay viên thư lại ấy đã về hưu, tóc bạc trắng, mắt đã mờ, nhưng tiếng nói của ông trong huyện nha vẫn còn trọng lượng. Nghe Dật Phong thưa rằng mình cần xem lại chồng hồ sơ án cũ của hơn mười năm trước vì một việc liên quan tới trấn trạch cho một nhà lớn trong trấn, ông già không hỏi sâu, chỉ dặn người cháu đang làm thư lại hiện tại mở kho văn thư, rồi dặn thêm một câu: xem thì xem, chép thì chép, nhưng không được mang giấy tờ gốc ra khỏi phòng, và xem xong phải xếp lại đúng chỗ cũ như chưa từng có ai động vào.
Kho văn thư của huyện nha nằm ở dãy nhà sau, ẩm và tối, mùi giấy mốc xộc lên ngay từ ngưỡng cửa. Những chồng hồ sơ buộc dây gai xếp trên kệ gỗ cao tới trần, bìa ngoài ghi năm bằng mực đã phai. Dật Phong đi dọc các kệ, ngón tay lướt trên gáy từng tập hồ sơ của những năm quanh năm Giáp Dần. Ông không biết chính xác mình đang tìm gì. Ông chỉ biết có một người đã chết ở trấn này vào khoảng mười hai năm trước, một người mà cả trấn quen coi như không có, và cái chết ấy, nếu từng được quan nha ghi lại, thì phải nằm đâu đó trong căn phòng ẩm mốc này.
Người cháu thư lại đi cùng vào kho, thấy đạo sĩ lật tìm ở kệ năm Giáp Dần thì nói khẽ rằng chồng hồ sơ của những năm ấy gần như không ai động tới nữa, giấy đã mục, có tập mở ra là vụn. Anh ta nói xong thì lui ra ngoài canh cửa, để lại một mình Dật Phong với những chồng giấy cũ và thứ mùi mốc đã ngấm vào gỗ kệ không biết bao nhiêu năm.
Ông tìm thấy tập hồ sơ ấy ở chồng dưới cùng của kệ năm Giáp Dần, năm 1914.
Đó là một tập hồ sơ mỏng tới mức đáng ngờ. Những vụ án chết người khác cùng năm, dù kết luận thế nào, cũng dày gấp mấy lần: có biên bản khám nghiệm, có lời khai, có danh sách vật chứng. Tập này chỉ có vài trang giấy đã ố vàng, mép giấy giòn, buộc bằng một sợi dây gai nhỏ. Trên bìa, nét chữ của viên thư lại năm ấy vẫn còn rõ: vụ nữ hát rối chết treo cổ tại rạp Khánh Phong, xử lý xong, không khiếu nại.
Dật Phong đặt tập hồ sơ lên chiếc bàn nhỏ kê dưới cửa sổ duy nhất của kho, hít một hơi dài rồi mới mở trang đầu.
Trang đầu ghi rõ, bằng văn phong khô khan của giấy tờ quan nha: người chết là nữ hát rối của gánh Hứa Ký Bì Ảnh Ban, tên Hứa Tú Nương, mười bảy tuổi. Phát hiện chết trong tư thế treo cổ tại buồng hậu trường của rạp hát Khánh Phong, vào một buổi sáng sau đêm diễn. Người phát hiện đầu tiên là phường chủ của gánh và mấy người làm công của rạp. Trên người chết không có dấu vết xô xát nào khác ngoài vết hằn ở cổ. Kết luận của huyện nha khi ấy viết gọn trong hai dòng: tự vẫn vì thất tiết, xấu hổ không dám nhìn mặt người đời, nên tìm tới cái chết. Vụ việc khép lại tại đây. Không người thân nào đứng ra khiếu nại. Không ai yêu cầu khám nghiệm thêm.
Dật Phong đọc đi đọc lại hai chữ thất tiết mà lòng nặng dần. Trong giấy tờ quan nha của thời ấy, hai chữ ấy là một cái nắp đậy tiện lợi nhất cho cái chết của một cô gái trẻ không tiền, không thế, không người chống lưng: chỉ cần ghi vào hai chữ ấy, mọi câu hỏi đều tự động trở thành không cần thiết. Cô gái ấy hát gì, sống thế nào, đêm cuối cùng của đời cô đã xảy ra chuyện gì, không một dòng nào trong tập hồ sơ mỏng này trả lời.
Trang tiếp theo ghi phần hậu sự. Người chết được an táng qua loa ngay trong ngày hôm sau tại nghĩa địa phía tây trấn, phần mộ do chính phường chủ của gánh đứng ra lo liệu bằng tiền của gánh. Và ngay sau khi an táng xong, cũng trong đêm hôm ấy, một đêm mưa, cả gánh Hứa Ký rời khỏi trấn Bình Dao, không ai biết đi đâu. Giấy tờ ghi thêm: phường chủ không để lại lời khiếu nại nào, kể cả một lá đơn. Huyện nha coi việc gánh bỏ đi là chuyện của dân lưu lạc, không truy cứu.
Ở cuối phần hậu sự, có hai chữ ký. Một là chữ ký và triện của vị huyện lệnh tiền nhiệm, người đã mất từ nhiều năm trước. Chữ ký còn lại thuộc về người đứng ra bảo lãnh hậu sự cho vụ việc, cam đoan trước quan nha rằng người chết không còn thân nhân nào khác ở địa phương, rằng mọi chi phí và thủ tục đã lo liệu xong xuôi, không để phát sinh khiếu kiện về sau. Người ấy ký tên rõ ràng, nét chữ cứng và quen thuộc tới mức Dật Phong phải dừng tay: quản sự mỏ than Mã Phúc Toàn.
Mã Phúc Toàn. Cái tên mà mới hai hôm trước ông còn nghe người làm trong tư dinh họ Triệu nhắc tới như người nắm mọi việc chi tiêu ra vào của cả dinh. Mười hai năm trước, người đàn ông ấy đã là quản sự mỏ, và đã đứng ra bảo lãnh hậu sự cho cái chết của một cô gái hát rối mười bảy tuổi, cam đoan rằng sẽ không có khiếu kiện nào về sau. Một quản sự mỏ than thì có phận sự gì trong hậu sự của một cô gái gánh rối, nếu không có ai đứng sau lưng ra lệnh và chi tiền cho sự yên lặng ấy? Câu hỏi ấy Dật Phong chỉ dám nghĩ, không dám viết, vì tập hồ sơ trước mặt ông không hề ghi tên người đứng sau. Nó chỉ ghi tên người đã ký.
Ông lật sang trang cuối cùng để tìm phần kê biên vật chứng và biên bản khám nghiệm chi tiết, phần mà theo lệ của huyện nha năm ấy bắt buộc phải có trong mọi vụ chết người, dù kết luận là tự vẫn.
Trang cuối cùng không còn ở đó nữa.
Tập hồ sơ kết thúc đột ngột ở trang bảo lãnh hậu sự. Ở gáy tập, ngay sau trang ấy, còn lại dấu vết của một trang giấy đã bị xé đi từ rất lâu: một mép giấy răng cưa hẹp, đã ố vàng và giòn như chính những trang còn lại, chứng tỏ trang ấy bị xé không phải mới đây, mà đã bị xé từ nhiều năm trước, có thể là từ ngay khi vụ án vừa khép lại. Trang bị xé ấy, theo đúng thứ tự của hồ sơ, chính là trang kê biên vật chứng và khám nghiệm: trang duy nhất có thể cho biết trên người cô gái năm ấy có những gì, trong buồng hậu trường đêm ấy có những gì, và vết hằn trên cổ của cô có hoàn toàn khớp với một cái chết treo cổ tự vẫn hay không.
Ai đó đã xé mất trang ấy, và xé một cách có chủ đích, vì trong cả tập hồ sơ mỏng này, không một trang nào khác bị thiếu.
Dật Phong ngồi rất lâu trong kho văn thư ẩm tối, tập hồ sơ mở trước mặt, rồi lấy giấy bút của mình ra, chép lại toàn bộ những gì còn lại trong hồ sơ, chép cả dòng ghi chú ở cuối trang chép tay của mình: trang cuối bị xé, vết xé đã cũ, không thể khôi phục. Ông chép chậm rãi và cẩn thận, vì ông biết những dòng chữ mình đang chép là thứ duy nhất còn sót lại trên đời này nói rằng cô gái tên Hứa Tú Nương, mười bảy tuổi, hát rối cho gánh Hứa Ký, đã từng sống và đã từng chết ở trấn Bình Dao.
Chép xong, ông xếp lại tập hồ sơ đúng vị trí cũ, buộc lại sợi dây gai, trả nó về chồng dưới cùng của kệ năm Giáp Dần, như chưa từng có ai động vào.
Trên đường ra khỏi huyện nha, lòng Dật Phong nặng trĩu một ý nghĩ mà ông không sao gạt đi được. Giấy tờ nói phường chủ của gánh không khiếu nại. Một cô gái mười bảy tuổi chết trong buồng hậu trường của chính gánh mình, chết với hai chữ thất tiết ghi trên giấy tờ, mà người đứng đầu gánh, người họ hàng duy nhất của cô ở trấn này khi ấy, lại không thưa kiện một lời, chỉ lặng lẽ an táng cho cô rồi bỏ đi ngay trong đêm mưa. Người ngoài nhìn vào sẽ nói đó là lạnh lùng, là hèn nhát, là muốn tránh liên lụy. Nhưng Dật Phong, người đã đứng sau màn xem trọn vở diễn ở rạp Khánh Phong, đã soi gương bát quái và thấy một cái bóng người con gái đứng sau lưng con rối, thì nghĩ khác. Một người cha không khiếu nại, không phải lúc nào cũng vì không thương con. Có khi vì ông ta biết rõ khiếu nại cũng vô ích trước tiền và thế của kẻ đã được người ta đứng ra bảo lãnh cho sự yên lặng. Cũng có khi, và ý nghĩ này khiến Dật Phong lạnh người, vì ông ta đã chọn một cách trả lại món nợ ấy khác hẳn con đường quan phủ: một cách dài hơn, lặng hơn, và đúng mười hai năm sau, nó đang đưa ông ta trở lại chính trấn này, vào chính tư dinh của những người năm xưa, với một chiếc hòm rối tỏa mùi sáp ong và tanh của da thuộc lâu năm.
Ông bước ra khỏi cổng huyện nha, tay cầm tập giấy chép tay cuộn tròn, thì đúng lúc một chiếc xe ngựa quen thuộc của nhà họ Triệu chạy ngang qua cổng. Rèm xe vén lên một nửa vì trời nóng. Ngồi trong xe, quản gia Mã Phúc Toàn nhìn thấy đạo sĩ, nhìn thấy cuộn giấy chép tay trong tay ông, và Dật Phong thấy rõ, ngay giữa ban ngày, trên con đường đông người qua lại, gương mặt của quản gia họ Triệu đổi sắc rõ rệt.