RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 24: Nghệ Nhân Già Ở Phố Tây
Ngày thứ mười bốn, Trình Dật Phong tìm tới nhà của nghệ nhân rối bóng đã giải nghệ Cố Lão Căn ở phố tây trấn Bình Dao. Tên của ông lão này đến với ông…
Nội dung chương
Ngày thứ mười bốn, Trình Dật Phong tìm tới nhà của nghệ nhân rối bóng đã giải nghệ Cố Lão Căn ở phố tây trấn Bình Dao.
Tên của ông lão này đến với ông qua hai đường. Viên thư lại về hưu của huyện nha, khi nghe đạo sĩ hỏi quanh về nghề rối ở trấn này ngày xưa, đã nhắc tới ông như người thuộc da giỏi nhất vùng Bình Dao của mấy chục năm trước. Và ông Từ giữ rạp Khánh Phong, trong một lần trò chuyện bên miếu Thành Hoàng, cũng nói một câu mà Dật Phong ghi nhớ mãi: ở trấn này, nếu còn một người nhìn một tấm da mà biết nó từng thuộc về con gì, người ấy chỉ có thể là Cố Lão Căn. Sau khi đọc xong tập hồ sơ thiếu trang cuối ở huyện nha, sau khi ngửi thấy mùi sáp ong lẫn tanh trên chiếc hòm rối đặt trong tư dinh, Dật Phong biết mình không thể cứ đứng ngoài những chuyện này mà đoán mò mãi. Ông cần một người biết nghề thật sự, biết từ bên trong, thứ nghề mà phường rối vẫn giấu sau tấm màn suốt cả ngàn năm.
Nhà của Cố Lão Căn nằm ở cuối một con ngõ nhỏ của phố tây, nhà thấp, sân hẹp, nhưng bước qua cổng là ngửi thấy ngay mùi của nghề thuộc da: mùi vôi, mùi phèn, mùi da đang ngâm chưa tới độ. Ở góc sân còn phơi mấy tấm da lừa đã mài mỏng dở dang trên khung gỗ, trong suốt dưới nắng thu, là việc tay chân của đám cháu chắt trong nhà vẫn theo nghề gia truyền một cách bình thường. Ông lão ngồi ở hiên nhà trên một chiếc ghế mây cũ, bảy mươi hai tuổi, lưng đã còng, tóc bạc trắng búi gọn sau gáy, nhưng đôi bàn tay đặt trên đầu gối thì gân guốc và vững như tay người còn đang làm nghề, và đôi mắt của ông, khi ngước lên nhìn vị đạo sĩ đứng ở cổng, tinh anh tới mức Dật Phong hiểu ngay vì sao cả vùng này nhắc tới ông khi nói về nghề thuộc da.
Ông lão tiếp đạo sĩ một phần vì nghe danh quán Thanh Hư trên núi Mao Sơn. Ngày còn trẻ, Cố Lão Căn từng theo một đoàn rối đi diễn qua chân núi Mao, từng được các đạo sĩ của quán cho trú nhờ qua một mùa mưa lũ, và cái ơn trú nhờ ấy ông nhớ suốt đời. Ông rót trà mời khách, hỏi han vài câu về sư môn ngày nay, rồi mới hỏi thẳng đạo sĩ tới nhà ông có việc gì. Dật Phong không vòng vo. Ông nói mình đang trấn trạch cho tư dinh họ Triệu, rằng trong dinh có một gánh rối đang ở, gánh Hứa Ký Bì Ảnh Ban, và rằng ông muốn hỏi ông lão vài chuyện về nghề rối của vùng này ngày xưa, đặc biệt là về gánh ấy.
Nghe tới ba chữ gánh Hứa Ký, bàn tay đang rót trà của Cố Lão Căn khựng lại giữa chừng.
Ông lão im lặng rất lâu. Ông đặt ấm trà xuống, nhìn ra sân, nhìn mấy tấm da lừa trong suốt đang phơi trên khung gỗ như nhìn một thứ gì rất xa, rồi mới chậm rãi lên tiếng. Ông nói phường rối của vùng Sơn Tây này nhìn bề ngoài thì nhà nào cũng giống nhà nào: thuộc da, vẽ mặt, dựng màn, thắp đèn. Nhưng ngày xưa, từ đời ông nội của ông trở về trước, trong nghề từng có một nhánh mà cả phường vừa khinh vừa sợ, một nhánh bị các phường họp nhau lại cấm truyền, cấm nhắc tên, cấm ghi vào sổ vở. Nhánh ấy không thuộc da lừa, cũng không thuộc da bò. Nhánh ấy chuyên làm một việc mà người trong nghề gọi là dưỡng bì: lấy da của người chết oan, chết khi oán khí còn nặng nhất, mài mỏng như mài da rối thường, ngâm trong nước sáp ong, rồi dùng thứ ấy làm hình nhân để diễn sau màn.
Dật Phong ngồi yên, hai tay đặt trên đầu gối, không ngắt lời ông lão một chữ. Ông lão nói tiếp, giọng đều đều như kể một chuyện nghề đã cũ: các cụ ngày xưa cấm nhánh ấy không phải vì ghê tởm suông. Da người chết oan thuộc theo lối dưỡng bì giữ lại được một thứ mà da thú không bao giờ có: thần thức. Một mảnh thần thức của người chết bị gieo vào từng khớp nối của con rối trong lúc thuộc da, ngủ yên trong tấm da suốt những ngày không đèn không màn, và chỉ chờ ánh lửa và tấm màn trắng để tỉnh dậy trong hình hài của một cái bóng. Cho nên rối làm ra theo lối ấy, các cụ nói thẳng, không phải làm ra để diễn cho người sống xem. Nó làm ra để một ngày nào đó, cái bóng của nó giết được người, thay cho bàn tay của kẻ đã thuộc ra nó.
Trong sân, mấy tấm da lừa phơi trên khung lay nhẹ trong gió thu. Dật Phong nghe xong mà sống lưng lạnh dần. Ông nghĩ tới đêm diễn ở rạp Khánh Phong, tới cái bóng người con gái đứng sau lưng con rối trong mặt gương bát quái của mình, tới vệt mờ tròn trên mặt gương lau mãi không sạch. Ông vẫn giữ giọng bình thản khi hỏi ông lão rằng nhánh tà thuật ấy đã bị cấm truyền từ lâu như thế, thì liệu còn ai trong vùng này biết làm nó hay không. Ông lão lắc đầu chậm rãi: biết làm thì phải có người truyền, mà người truyền cuối cùng của nhánh ấy đã chết từ đời ông nội ông rồi. Nhưng ông lão ngừng lại, nhìn thẳng vào mắt đạo sĩ, và nói thêm một câu khiến Dật Phong phải ngồi thẳng người lên: biết làm thì không còn ai, nhưng hỏi cách làm, thì mười hai năm trước, đã từng có một người tới hỏi ông ngay tại căn nhà này.
Đó là một đêm mưa của năm 1914, ít ngày sau khi cả trấn xôn xao chuyện một cô gái hát rối của gánh Hứa Ký treo cổ chết trong rạp Khánh Phong. Quá nửa đêm, có tiếng gõ cửa rất khẽ ở cổng nhà ông lão. Người đứng ngoài cổng đội mưa, áo ướt sũng, mặt hốc hác như người vừa chôn xong một người thân và nhiều đêm liền không ngủ. Người ấy không vào nhà, chỉ đứng ở hiên, hỏi mua một lượng lớn sáp ong nguyên chất, thứ sáp chưa nấu, chưa pha, mà nhà ông lão vẫn để dành cho việc thuộc da tế. Rồi người ấy hỏi tiếp một câu mà tới tận bây giờ, mỗi lần nhớ lại, ông lão vẫn thấy lạnh gáy: hỏi cách mài một tấm da mỏng tới mức ánh đèn xuyên qua được, mà mài sao cho da không rách, không thủng, dù tấm da ấy mỏng và yếu hơn da lừa rất nhiều.
Cố Lão Căn đã không bán sáp ong, và cũng không trả lời câu hỏi ấy. Ông nói ông nhìn vào mắt người đàn ông đứng trong mưa và thấy trong đôi mắt ấy một thứ mà ông không dám tiếp tay: không phải sự điên dại, mà là một quyết ý lặng lẽ và tỉnh táo tới đáng sợ, thứ quyết ý của người đã chọn xong con đường của mình và sẽ đi hết nó dù phải đi mười năm hay hai mươi năm. Ông đóng cổng lại. Người ấy đứng ngoài mưa rất lâu, không gõ cửa nữa, không năn nỉ, không chửi bới, rồi mới lặng lẽ bỏ đi. Mười hai năm nay, ông lão nói, mỗi khi trấn này tới giữa tháng chín, ông lại nhớ tới đêm mưa ấy và tự hỏi nếu đêm đó mình mềm lòng mà bán sáp ong và nói cách mài da, thì ngày hôm nay trấn Bình Dao sẽ ra sao.
Dật Phong hỏi, giọng ông khẽ tới mức gần như thì thầm, rằng ông lão có biết người đàn ông đêm mưa ấy là ai không. Ông lão lắc đầu. Ông nói người ấy không nói tên, ông cũng không hỏi tên, và đêm ấy mưa to, mặt người lại cúi thấp. Nhưng trước khi đạo sĩ kịp thất vọng, ông lão nói thêm một câu cuối cùng về chuyện ấy, chậm rãi và chắc chắn như đóng một cái đinh: ông không biết tên người ấy, nhưng ông biết người ấy vừa mất một người thân ruột thịt trong cái chết treo cổ kia, vì chỉ có người cha nào vừa mất con mới hỏi những câu như thế, và trên đời này, không một người cha nào mất con mà còn tỉnh táo lại đi hỏi cách mài một tấm da mỏng trong đêm mưa, trừ khi trong lòng ông ta, tấm da ấy đã có một việc phải làm.
Trước khi ra về, Dật Phong hỏi thêm một câu mà ông đã cân nhắc suốt buổi: vì sao ông lão, một người ngoài cuộc, lại chịu kể những chuyện cấm kỵ của nghề cho một đạo sĩ mới gặp lần đầu. Cố Lão Căn im lặng một lúc, rồi nói rằng chính vì ông đã im lặng một lần vào mười hai năm trước, khi đóng cánh cổng lại trước một người cha đội mưa mà không hỏi thêm một câu nào, nên mười hai năm nay ông mới sống trong nỗi ân hận ấy. Nay có người của quán Thanh Hư tìm tới tận nhà mà hỏi, ông coi đó là cơ hội để nói ra một lần, nói cho một người có thể làm được điều gì đó, trước khi những chuyện này theo ông xuống mồ và trấn này không còn ai biết đường mà tránh. Ông nói một người già giữ bí mật xuống mồ thì nhẹ thân mình, nhưng nặng cho người ở lại.
Trà trên bàn đã nguội hẳn. Dật Phong ngồi rất lâu không nói gì, trong đầu ông, những mảnh rời rạc của mười mấy ngày qua tự xếp lại bên nhau: tập hồ sơ thiếu trang cuối, mùi sáp ong và tanh trên chiếc hòm rối, cái bóng người con gái trong gương, và một người đàn ông đội mưa đi hỏi mua sáp ong mười hai năm về trước. Ông chưa dám kết luận điều gì, vì kết luận nào trong những chuyện này cũng đều nặng hơn một mạng người, nhưng ông biết mình vừa bước qua một ngưỡng mà từ đó không còn quay lại được nữa. Ông đứng dậy, chắp tay cáo từ. Khi ông vừa quay người ra sân, bàn tay gân guốc của ông lão bỗng nắm lấy cổ tay ông, giữ lại, lực nắm mạnh tới bất ngờ so với một người đã ngoài bảy mươi. Cố Lão Căn nhìn thẳng vào mắt đạo sĩ và dặn một câu sau cùng:
- Đạo sĩ, nếu một ngày nào đó ông gặp một con rối thuộc theo đúng lối ấy, thì nhớ lời tôi. Đừng nhìn vào mặt nó khi đèn đang cháy. Hãy nhìn cái bóng của nó. Vì người chết ở trong cái bóng, chứ không ở trong tấm da.