RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 27: Ghép Hồ Sơ

Ngày thứ mười lăm, Trình Dật Phong dậy từ lúc trời chưa sáng và trải toàn bộ những gì mình có lên mặt bàn của quán trọ. Trên bàn là bản chép tay từ kho…

Nội dung chương

Ngày thứ mười lăm, Trình Dật Phong dậy từ lúc trời chưa sáng và trải toàn bộ những gì mình có lên mặt bàn của quán trọ.

Trên bàn là bản chép tay từ kho văn thư huyện nha: hồ sơ vụ án năm 1914, năm Giáp Dần, về cô gái hát rối của gánh Hứa Ký tên Hứa Tú Nương, mười bảy tuổi, chết treo cổ ở buồng hậu trường rạp Khánh Phong, quan kết luận tự vẫn vì thất tiết, trang cuối kê biên vật chứng và khám nghiệm đã bị xé mất từ lâu. Bên cạnh là cuốn sổ tay riêng của ông, ghi những gì ông Từ giữ rạp kể về chuyến đi của gánh năm ấy và đêm mưa gánh bỏ trấn. Trang tiếp theo ghi mùi sáp ong lẫn tanh nhẹ trên hòm rối ở hành lang tư dinh. Rồi tới những lời của Cố Lão Căn ở phố tây: dưỡng bì, sáp ong nguyên chất xin mua trong một đêm mưa năm 1914, luật đầy đủ của phường tà và lời dặn nhìn cái bóng. Tất cả nằm rời nhau trên mặt bàn gỗ như những mảnh của một bức tranh bị ai đó cố ý xé nhỏ và giấu ở nhiều nơi khác nhau trong suốt mười hai năm. Việc của ông sáng hôm ấy là xếp chúng lại. Nhưng còn thiếu hai mảnh cuối, hai mảnh quan trọng nhất: năm 1914, mỏ than lớn nhất vùng Bình Dao nằm trong tay ai, và bàn tay nào đã đứng sau tờ bảo lãnh hậu sự trong tập hồ sơ kia.

Ông tới văn thư phòng của huyện nha ngay khi cổng nha vừa mở, tìm viên thư lại về hưu vẫn giữ chìa khóa kho án cũ nhờ mối quan hệ từ lần trước. Ông không xin xem lại tập hồ sơ án nữa. Lần này ông xin xem sổ đăng ký chủ mỏ và sổ chi của mỏ lớn nhất vùng, thứ sổ sách khô khan mà ít ai nghĩ tới khi điều tra một cái chết. Viên thư lại ngần ngại, nói sổ mỏ không phải án thư, nhưng rồi vẫn lặng lẽ mang ra hai cuốn sổ bìa đã sờn, vì ông ta cũng là người trấn này, và ông ta cũng đã im lặng đủ lâu như mọi người trấn này.

Sổ đăng ký ghi rõ ràng, mực đã ngả nâu nhưng nét chữ còn nguyên: mỏ than lớn nhất ở dãy núi phía tây trấn, cho tới năm 1913 vẫn thuộc một chủ mỏ họ Vương đã già yếu. Đầu năm 1914, toàn bộ mỏ được sang tay cho một thương nhân mới phất lên nhờ buôn than, tên là Triệu Vĩnh Khang. Người đứng tên quản sự mỏ trong cùng cuốn sổ, kiêm việc lo liệu mọi chuyện bên ngoài của mỏ, từ thuê phu tới giao thiệp với quan nha, là Mã Phúc Toàn.

Dật Phong ngồi lặng đi một lúc lâu trong kho văn thư ẩm tối.

Cái tên Triệu Vĩnh Khang, ông đã nghe nhà họ Triệu xưng tụng suốt những ngày qua như tên của một gia chủ giàu có sắp làm lễ mừng thọ sáu mươi, một người mê rối bóng tới mức bỏ ba trăm đồng đại dương mua đứt một gánh hát. Cái tên Mã Phúc Toàn, ông đã thấy một lần rồi: ở cuối tập hồ sơ án năm 1914, dưới dòng chữ đứng ra bảo lãnh hậu sự cho cô gái chết, chữ ký nguệch ngoạc mà quả quyết ấy chính là của quản sự mỏ Mã Phúc Toàn. Bây giờ, đặt hai cuốn sổ cạnh nhau, mọi thứ tự nói lên bằng một giọng không cần ai phải lớn tiếng. Năm 1914, cô gái mười bảy tuổi của gánh Hứa Ký chết ở rạp Khánh Phong trong một kết luận tự vẫn vội vàng. Người có tiền để làm cho kết luận ấy vội vàng như thế là chủ mỏ mới của vùng. Người cầm tiền của chủ mỏ đi lo lót, đứng tên bảo lãnh, dàn xếp hậu sự cho qua chuyện, là quản sự của chính chủ mỏ ấy. Và trang khám nghiệm, trang duy nhất có thể nói thi thể ấy trước khi treo lên đã trải qua những gì, bị xé khỏi tập hồ sơ không lâu sau đó, xé bởi một bàn tay có quyền ra vào kho văn thư của huyện nha, thứ quyền mà tiền của một chủ mỏ lớn thừa sức mua được.

Cuốn sổ chi của mỏ còn cho ông thêm một dòng nữa, dòng mà khi đọc tới, ngón tay ông bất giác dừng lại trên mặt giấy ố vàng. Vào đúng tháng xảy ra vụ treo cổ ở rạp Khánh Phong năm 1914, sổ chi của mỏ ghi một khoản chi ngoài lệ thường: hai trăm đồng đại dương, ghi vắn tắt là tiền lo việc ngoài, người nhận ký thay là quản sự Mã Phúc Toàn. Hai trăm đồng, vào năm ấy, đủ mua một căn nhà mặt phố ở trấn này, đủ nuôi một gánh hát rong trong nhiều năm. Không một việc mỏ chính đáng nào trong cuốn sổ được ghi bằng bốn chữ lo việc ngoài, và không một khoản chi nào khác trong cả năm ấy lớn bằng khoản này mà lại không ghi rõ chi cho việc gì, mua thứ gì. Dật Phong chép nguyên dòng ấy vào sổ tay của mình, chữ nọ cách chữ kia một khoảng đều đặn, như người chép một dòng bia mộ. Ông biết khoản tiền này sẽ không bao giờ tự nó nói ra nó đã đi đâu. Nhưng đặt nó cạnh tập hồ sơ án thiếu trang cuối, cạnh chữ ký bảo lãnh hậu sự của cùng một con người, trong cùng một tháng, thì nó không cần phải nói gì thêm nữa.

Ông chép thêm một trang nữa vào cuốn sổ tay: phường chủ của gánh Hứa Ký năm 1914 bỏ trấn ngay trong đêm mưa sau khi chôn cất qua loa cho người chết ở nghĩa địa phía tây, rồi mất tích suốt mười hai năm không một tin tức. Trong hồ sơ, người chết được ghi là con gái của phường chủ ấy. Mười hai năm sau, gánh Hứa Ký quay lại Bình Dao, phường chủ là một ông già họ Hứa râu tóc bạc trắng, mang theo một con rối quý hơn mạng sống, diễn một vở độc môn nổi tiếng khắp vùng. Và ông già ấy quay lại đúng vào năm mà chủ mỏ năm xưa làm lễ mừng thọ sáu mươi, nhận lời mời mà nghe nói trong mười hai năm qua nhà họ Triệu đã hai lần cho người tới mời và cả hai lần đều bị từ chối. Dật Phong dừng bút ở đó. Có những dòng ông chưa viết xuống, vì viết xuống tức là kết tội một người cha, mà ông, một đạo sĩ, chưa có quyền kết tội ai khi chưa thấy tận mắt điều cuối cùng mà Cố Lão Căn sắp phải xác nhận giúp ông. Nhưng trong lòng ông, bức tranh trên mặt bàn quán trọ lúc rạng sáng đã không còn thiếu mảnh nào nữa, ngoài một mảnh duy nhất: chất da của con rối.

Việc đầu tiên ông làm sau khi rời huyện nha là quay về quán trọ, ngồi xuống và viết lại toàn bộ những gì mình đã ghép được thành một bản tóm tắt gọn và rõ: vụ chết năm 1914, tên người chết, tên chủ mỏ, tên kẻ đứng ra phi tang, trang hồ sơ bị xé, mùi sáp ong, lời của nghệ nhân già, và luật của rối dưỡng bì. Ông viết không thêm một lời suy đoán ngoài những gì giấy tờ và người sống đã nói. Cuối bản, ông chỉ ghi thêm một câu về nỗi lo của chính mình cho đêm tổng duyệt và đêm thọ sắp tới. Rồi ông gấp bản tóm tắt lại, cho vào phong bao, niêm sáp cẩn thận, và trao cho người đưa tin tin cẩn vẫn chuyên chạy đường núi cho quán Thanh Hư, dặn đi dặn lại một việc:

- Mang phong bao này về quán Thanh Hư, trao tận tay sư huynh của ta. Dặn ông ấy: nếu sau đêm mười tám tháng chín này mà ta không về tới quán, cũng không có tin gì gửi về, thì hãy mở niêm ra mà đọc. Còn nếu ta về được, phong bao này cứ thế mà đốt, không cần mở.

Người đưa tin gật đầu, cất phong bao vào ngực áo và lên ngựa. Dật Phong đứng nhìn theo cho tới khi bóng ngựa khuất ở cuối phố. Ông làm việc ấy không phải vì sợ chết. Ông làm vì ông hiểu, một sự thật đã từng bị tiền bịt miệng một lần ở công đường năm 1914 thì hoàn toàn có thể bị bịt miệng lần thứ hai, nếu người duy nhất nắm được nó biến mất trong một đêm diễn đông người nào đó.

Buổi chiều, ông tới tư dinh họ Triệu, xin gặp riêng Triệu Sĩ Kiệt với lý do bàn chuyện phong thủy của sảnh tiệc trước đêm tổng duyệt.

Sĩ Kiệt tiếp ông ở thư phòng, vẫn giữ vẻ lịch sự lạnh nhạt của một thiếu gia quản lý cả một cơ nghiệp mỏ. Dật Phong nói vài câu về hướng bàn thờ tổ, về việc nên dọn bớt những vật sắc nhọn bằng đồng ở sảnh tiệc trong đêm thọ cho hợp tuổi của gia chủ. Nói được một lúc, ông chuyển giọng, như một đạo sĩ tiện miệng nhắc chuyện trấn trạch:

- Thiếu gia, sảnh tiệc thì không có gì đáng ngại. Chỉ có một điều ta muốn hỏi cho rõ, vì nó liên quan tới việc trấn trạch lâu dài cho dinh này. Mười hai năm trước, ở rạp Khánh Phong của trấn này, từng có một người chết oan trong một vụ treo cổ mà tới nay người trấn vẫn không dám nhắc tên. Âm khí của một cái chết như thế, nếu chưa từng được làm lễ siêu độ tử tế, thì mười hai năm chưa phải là lâu. Nhà thiếu gia năm ấy có biết chuyện đó không?

Ông nhìn thấy rõ ràng, như nhìn một vệt mực loang trên giấy trắng.

Sắc mặt của Triệu Sĩ Kiệt đổi hẳn trong một cái chớp mắt. Bàn tay đang cầm chén trà của hắn khựng lại giữa không trung, rồi đặt xuống bàn hơi mạnh hơn mức cần thiết, làm nắp chén kêu lên một tiếng nhỏ. Hắn im lặng vài nhịp thở, ánh mắt tránh hẳn ánh mắt của đạo sĩ, rồi đứng dậy, nói rằng mình còn việc mỏ phải xử lý, chuyện trấn trạch cứ để quản gia lo liệu với đạo sĩ, và tiễn khách bằng một câu cáo bận ngắn tới mức gần như thất lễ. Một thiếu gia quen điều khiển gia đinh và phu mỏ, vừa mới đây còn ngồi nghe chuyện phong thủy với vẻ kẻ cả buồn chán, đã không giữ nổi vẻ ấy khi nghe tới ba chữ mười hai năm trước và một cái chết ở rạp hát.

Dật Phong chắp tay cáo từ, bước qua sân dinh đang rộn ràng chuẩn bị cho lễ thọ, ra khỏi cổng sắt của tư dinh họ Triệu trong tiếng người làm gọi nhau í ới và mùi sơn mới của sảnh tiệc. Ông dừng lại một lúc ngoài cổng, nhìn lại ngôi nhà lớn nhất trấn Bình Dao, rồi tự nói với mình, khẽ như nói cho một người bạn đồng hành vô hình nào đó nghe:

- Nhà này không phải không biết. Nhà này chỉ quen coi như không biết.

Chương khác

Xem thêm