RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 29: Đoạn Tơ Mục
Sáng ngày thứ mười sáu, ngày tổng duyệt, cả gánh dậy từ lúc trời còn tối để kiểm lại toàn bộ đồ nghề. Phòng chuẩn bị ở nhà ngang sáng lên bằng hai ngọn…
Nội dung chương
Sáng ngày thứ mười sáu, ngày tổng duyệt, cả gánh dậy từ lúc trời còn tối để kiểm lại toàn bộ đồ nghề.
Phòng chuẩn bị ở nhà ngang sáng lên bằng hai ngọn đèn dầu ngay từ canh năm. Màn vải trắng được gỡ xuống trải ra soi từng chỗ vá. Cây đèn đồng lớn của gánh được lau lại bấc, châm đầy dầu, đặt đúng vào vị trí giữa phòng để thử lửa. Các con rối phụ được xếp thành hàng trên chiếu, kiểm từng khớp, từng dây. Và ở giữa phòng, trên chiếc giá gỗ quen thuộc, là con rối nữ tướng: cao hai thước, mười một khớp tre, mặt vẽ chu sa vẫn tươi một cách không hợp với tuổi của tấm da, ba que điều khiển đặt song song dưới chân giá như ba thanh kiếm chờ được cầm lên. Ngày hôm nay, trong sảnh chính của tư dinh, gánh sẽ tổng duyệt toàn bộ vở Bạch Hạc Nữ Tướng trước mặt gia chủ, một canh giờ trọn vẹn, đúng như đêm thọ ngày mai, chỉ khác là chưa có quan khách.
Việc đầu tiên của buổi sáng, theo lệ của phường mỗi khi vào một đêm diễn lớn, là thay toàn bộ dây tơ tằm nhuộm nước gừng buộc ở bốn chi của con rối.
Dây tơ gừng là dây cương của nghệ nhân, Tiểu Sơn đã thuộc lòng điều ấy từ buổi học luật ở rạp Khánh Phong. Dây cũ dùng qua nhiều đêm diễn thì sờn, ngấm mồ hôi tay, mất dần mùi gừng, nên trước đêm lớn phải thay dây mới cho cả bốn chi: cổ tay trái, cổ tay phải, và hai cổ chân. Buổi sáng nay hắn được sư phụ cho phụ việc ấy, việc mà bảy năm qua ông vẫn thường làm một mình. Hắn ngồi xếp bằng bên giá rối, hai tay lót vải như lệ, nâng từng chi của con rối lên cho sư phụ luồn dây, buộc nút, siết lại rồi thử giật nhẹ từng sợi một. Ba sợi tơ hắn cầm qua tay đều là tơ mới: sợi mịn, màu vàng nhạt đều, mùi gừng già hăng nhẹ bốc lên mỗi khi sợi tơ cọ vào nhau, đúng thứ tơ mà gánh vừa mua thêm ở chợ phiên hai hôm trước.
Tới sợi thứ tư, sợi buộc ở cổ tay phải của con rối, bàn tay hắn khựng lại.
Sợi tơ ở cổ tay phải không giống ba sợi kia một chút nào. Nó là một đoạn tơ cũ, rất cũ: sợi đã xơ ra thành từng tua nhỏ dọc theo thân dây, màu ngả sang nâu xám như màu của những thứ vải để lâu trong rương ẩm, và khi hắn đưa lên gần mũi, mùi gừng trên đó chỉ còn thoang thoảng như một thứ mùi đã bay gần hết từ nhiều năm trước. Hắn lật đoạn tơ qua lại trên lòng bàn tay lót vải của mình. Một đoạn tơ như thế này, chỉ cần đêm nay con rối vung đao mạnh qua vài hiệp, hoặc que điều khiển giật chéo một lần, là hoàn toàn có thể đứt giữa vở. Hắn ngẩng lên nhìn sư phụ:
- Sư phụ, sợi ở cổ tay phải mục rồi. Sợi xơ hết cả ra, ngửi cũng không còn mùi gừng nữa. Trong hộp đồ nghề còn cả bó tơ mới mua ở chợ phiên, để con thay sợi mới vào cho chắc.
Lão Hứa không ngẩng đầu lên ngay. Ông vẫn đang cúi xuống kiểm tra khớp vai của con rối, ngón tay lần theo từng đốt tre một cách chậm rãi, như thể câu hỏi của đệ tử là một việc rất nhỏ, nhỏ hơn nhiều so với cái khớp tre ông đang sờ. Một lúc sau ông mới đáp, giọng đều đều:
- Không cần thay. Tơ cũ cho đêm lớn, nó quen tay ta.
Tiểu Sơn cầm đoạn tơ mục trên tay, nhìn ba sợi tơ mới tinh còn lại ở ba chi kia, rồi lại nhìn sợi thứ tư. Hắn muốn nói thêm một câu nữa, rằng lệ nghề dạy buộc dây đủ và chắc ở cả bốn chi, rằng chính sư phụ là người đã dạy hắn thiếu một chi cũng không được thắp đèn. Nhưng câu nói ấy lên tới miệng rồi dừng lại. Hắn chợt nhớ tới khe cửa hé sáng của đêm giỗ không tên hai hôm trước, nhớ tới lời mình tự hứa trong bóng tối của căn phòng nhà ngang: từ nay, có những câu hắn sẽ không hỏi nữa, những câu mà sư phụ không muốn trả lời. Đoạn tơ mục này, hắn hiểu một cách mơ hồ mà chắc chắn, là một câu như thế. Sư phụ hắn không hề không nhìn thấy nó. Một người thuộc da và buộc dây rối suốt mấy chục năm không thể không nhìn thấy một đoạn tơ đã xơ tới mức ấy, nhất là khi chính tay ông là tay đã buộc nó vào. Ông nhìn thấy, ông biết rõ nó mục tới đâu, và ông để nó ở đó. Việc duy nhất Tiểu Sơn làm được, và tự thấy mình phải làm, là ghi nhớ cho thật kỹ: đoạn tơ ở cổ tay phải của con rối nữ tướng, vào sáng ngày tổng duyệt, là một đoạn tơ cũ đã mục, khác hẳn ba sợi mới còn lại. Hắn đặt chi rối xuống giá, không nói thêm một lời.
Sau khi buộc dây xong, Lão Hứa làm thêm một việc nữa mà Tiểu Sơn đứng nhìn với một cảm giác quen thuộc tới nhói lòng: ông ngâm lại con rối trong nước sáp loãng.
Một chậu nước ấm được bưng vào, pha sáp ong loãng theo một tỉ lệ chỉ mình ông biết. Ông tự tay tháo con rối khỏi giá, dùng cả hai tay nâng tấm da lên như nâng một người đang ngủ, rồi từ từ dìm cả thân rối xuống mặt nước sáp, để nước ngấm đều qua từng khớp, từng đường vẽ, trước khi vớt lên treo lại lên giá cho ráo. Trong bảy năm theo gánh, Tiểu Sơn đếm được số lần mình thấy cảnh này không nhiều, và chúng rơi vào một quãng thời gian rất đều đặn: năm nào cũng đúng vào dịp giữa tháng chín âm lịch, sư phụ lại ngâm sáp cho con rối một lần, lặng lẽ, một mình, như một nghi thức không có trong bất kỳ cuốn sổ vở nào của gánh. Hồi còn nhỏ hắn tưởng đó là lệ bảo dưỡng da rối hằng năm. Đêm giỗ không tên của hai hôm trước đã cho hắn một cách hiểu khác, dù hắn không dám nói cách hiểu ấy thành lời, kể cả tự nói với chính mình cho trọn câu: giữa tháng chín là ngày giỗ của người trong tấm da này, và việc ngâm sáp mỗi năm một lần vào đúng những ngày ấy giống một người sống sửa sang lại phần mộ cho người đã khuất hơn là bảo dưỡng một món đồ nghề.
Xong phần việc của sư phụ, Tiểu Sơn tự kiểm lại phần việc của mình, phần việc của người giữ đèn. Hắn mở bọc đồ riêng, sờ tới túi tiền cọc một trăm đồng đại dương của gánh mà hắn vẫn giữ bên người từ hôm ký kèo tới giờ: túi vải còn nguyên nút buộc, nặng trịch và lạnh, không thiếu một đồng. Hắn kiểm cây đèn, lau lại mặt kính chắn gió, thử thắp lên rồi tắt đi trong phòng sáng để chắc chắn bấc đèn không ám khói. Cuối cùng, hắn lấy đồng xu bạc của mình ra khỏi túi áo trong, ngắm nó một lúc trong lòng bàn tay. Đồng xu này hắn được phát từ những ngày đầu ở rạp Khánh Phong và đã ngậm trong miệng qua từng đêm diễn, im lặng sau màn theo đúng luật phường. Hắn không hiểu vì sao sáng hôm nay, cầm đồng xu lên, hắn lại có cảm giác nó nặng hơn mọi ngày, như thể hai đêm sắp tới, đêm tổng duyệt và đêm thọ, sẽ là hai đêm mà đồng xu này phải làm đúng việc của nó hơn bất kỳ đêm nào trước đây. Hắn cất xu bạc lại vào túi áo trong, cài khuy cẩn thận, rồi ra sân phụ Nhị Hổ khiêng khung màn sang sảnh chính, nghe Quế Phương ở phòng bên đang hát thử những câu đầu của vở, giọng trong và buồn trong ánh nắng sớm của ngày tổng duyệt.
Buổi chiều, khi cả gánh đang treo thử màn ở sảnh chính để chuẩn bị cho buổi tổng duyệt tối nay, một gia đinh của dinh mang tới nhà ngang một phong danh sách lớn, nói là quản gia dặn mang cho phường chủ xem trước để liệu bài trí chỗ ngồi sau màn cho đêm thọ.
Đó là danh sách khách dự lễ mừng thọ sáu mươi của Triệu Vĩnh Khang vào đêm mai. Tiểu Sơn đỡ lấy phong danh sách từ tay sư phụ và đọc lướt qua: hơn năm mươi cái tên, tên nào cũng kèm theo một chức danh hoặc một cơ nghiệp. Đứng đầu danh sách, nét chữ viết to và nắn nót hơn hẳn, là Huyện trưởng Bình Dao Phùng Quốc Đống. Dưới đó là các quan lại của huyện nha, các phú thương buôn than, buôn muối, buôn tơ của cả vùng, và một hàng dài các chủ mỏ ở dãy núi phía tây, những người làm ăn chung hoặc chịu ơn của nhà họ Triệu. Hắn đọc tới cuối danh sách mà tay hơi lạnh: đây không phải một bữa tiệc gia đình. Đây là gần như toàn bộ những con người có máu mặt nhất của vùng này, được mời tới cùng một sảnh, trong cùng một đêm, ngồi nhìn cùng một cái bóng trên một tấm màn trắng.
Lão Hứa cầm lại phong danh sách từ tay đệ tử, đọc chậm rãi từ đầu tới cuối, không bỏ sót một cái tên nào. Đọc xong, ông gấp nó lại rất ngay ngắn, trả cho gia đinh, và chỉ nói một câu:
- Nói lại với quản gia, gánh đã xem rồi. Chỗ ngồi cứ để nguyên như cũ, đừng thêm, đừng bớt.
Tiểu Sơn đứng bên cạnh nhìn sư phụ mình trả phong danh sách đi, và trong đầu hắn, một ý nghĩ mà hắn đã né tránh suốt nhiều ngày nay tự tìm đường quay lại, lần này rõ ràng hơn hẳn. Nếu sư phụ hắn chỉ muốn diễn một đêm cho xong một món nợ tiền bạc, ông đã có thể nhận bất kỳ một đêm diễn riêng kín đáo nào trong mười hai năm qua. Nếu ông chỉ muốn nhìn lại ngôi nhà này một lần, đêm diễn thử ở sảnh phụ đã là quá đủ. Nhưng ông đã chờ, chờ qua hai lần từ chối lời mời, chờ cho tới đúng đêm mà ngôi nhà này đông người nhất, sáng đèn nhất, và có cả quan huyện ngồi ở hàng ghế đầu tiên. Tiểu Sơn gấp cuốn danh sách chép tay của riêng mình lại, cất vào ngực áo cạnh cuốn sổ tay và gói vải đỏ, và tự hỏi trong lặng lẽ: vì sao phải là đêm đông người nhất, nếu không phải vì sư phụ muốn càng đông người chứng kiến càng tốt.