RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 31: Cảnh Báo Bị Đuổi
Chiều ngày thứ mười sáu, khi sân sau của tư dinh họ Triệu còn đang vang tiếng thợ mộc gõ thử khung màn cho buổi dợt kỹ thuật, Trình Dật Phong lần thứ hai…
Nội dung chương
Chiều ngày thứ mười sáu, khi sân sau của tư dinh họ Triệu còn đang vang tiếng thợ mộc gõ thử khung màn cho buổi dợt kỹ thuật, Trình Dật Phong lần thứ hai xin gặp riêng Triệu Sĩ Kiệt trong thư phòng.
Lần thứ nhất, hai hôm trước, ông chỉ dám mượn cớ phong thủy để nhắc khẽ tới năm 1914, và Sĩ Kiệt đã cáo bận ngay khi sắc mặt vừa đổi. Lần này ông không mang theo la bàn, không mang theo sổ xem hướng nhà, chỉ mang theo một quyết định đã nung suốt từ buổi chiều ở sân sau, khi những đầu ngón tay của Cố Lão Căn còn run trên mép tấm da người kia. Ông biết rõ, sau những gì mình sắp nói ra, cánh cửa của ngôi dinh này sẽ đóng lại trước mặt ông, có thể là đóng vĩnh viễn. Nhưng ông cũng biết mình không còn ngày nào nữa để chần chừ. Đêm nay là tổng duyệt. Đêm mai, hơn năm mươi con người sẽ ngồi vào cùng một vùng sáng với thứ đang ngủ trong hòm rối của gánh Hứa Ký.
Gia đinh dẫn ông vào thư phòng rồi khép cửa lại. Triệu Sĩ Kiệt đang ngồi sau bàn xem một cuốn sổ mỏ dày, trước mặt là chén trà đã nguội và một cây bút lông gác ngang nghiên mực. Hắn không đứng dậy, chỉ ngẩng đầu nhìn đạo sĩ một cái, ánh mắt của người đang bận trăm công nghìn việc mà phải tiếp một kẻ mình vốn không ưa.
- Đạo sĩ lại tới xem hướng nào nữa đây. Mẫu thân ta dạo này ngủ không yên, hẳn ông lại có quẻ mới để bán.
Dật Phong ngồi xuống chiếc ghế đối diện, đặt hai tay lên đầu gối, và nói chậm rãi từng chữ, bỏ hẳn lối vòng vo của người hành nghề xem phong thủy:
- Thiếu gia, hôm nay ta tới không phải để xem quẻ. Ta tới để nói một việc, và ta chỉ nói một lần. Con rối nữ tướng của gánh Hứa Ký có tà khí. Nó không phải rối thường. Tấm da làm ra nó được thuộc theo một lối bị cấm truyền của phường rối, một lối mà người trong nghề nghe tên là tránh, vì rối làm ra theo lối ấy không phải để diễn cho người sống xem vui. Đêm thọ ngày mai, sảnh tiệc có hơn năm mươi quan khách, lại bắt buộc diễn bằng đèn dầu theo giao kèo. Ta đề nghị thiếu gia hủy vở nữ tướng, cho gánh thay bằng một vở chúc thọ lành khác. Tiền kèo là việc của nhà họ Triệu, ta không dám can dự. Ta chỉ xin một điều: đừng để con rối ấy lên màn trong đêm mai.
Sĩ Kiệt im lặng nghe hết, rồi bật cười, một tiếng cười lạnh và ngắn.
- Đạo sĩ nói nghe hay lắm. Tà khí. Lối bị cấm. Thế mà con rối ấy diễn ở rạp Khánh Phong mấy đêm liền, cả trấn kéo tới xem, có ai chết đâu. Cha ta mê nó tới mức bỏ ba trăm đồng đại dương mua đứt cả đoàn. Nay còn một đêm nữa là tới lễ thọ của ông cụ, thiệp đã gửi khắp tỉnh, quan khách đã nhận lời, ông bảo ta hủy vở chỉ vì một câu nói không đầu không cuối của một đạo sĩ hay sao.
- Ở rạp, nó diễn cho dân thường, trong một cái rạp hoang, và dị tượng đã bắt đầu rồi, thiếu gia không có mặt nên không thấy hết. Cái bóng của nó chậm hơn que, tự vung tay khi không ai điều khiển. Một đứa trẻ xem diễn đã sợ tới phát bệnh. Những chuyện ấy cả trấn đều biết. Tà vật không phát tác bừa bãi, nó chờ đúng điều kiện: đúng ngọn đèn lửa, đúng tấm màn, và đúng những con người mà nó cần gặp. Đêm mai, cả ba thứ ấy đều có đủ trong sảnh tiệc này.
- Đủ rồi.
Sĩ Kiệt đứng dậy, vỗ nhẹ cuốn sổ mỏ xuống bàn.
- Ta nghe nói đạo sĩ trấn trạch một chuyến được phu nhân hậu tạ không ít. Nay chắc ông thấy nhà ta sắp có lễ lớn, muốn bịa thêm chuyện để vòi thêm một khoản nữa, phải không. Ta nói thẳng: nhà họ Triệu không thiếu tiền, nhưng không ném tiền cho những câu chuyện ma quỷ không chứng cớ. Ông có bằng chứng gì không. Tà khí ở đâu, chỉ cho ta xem.
Dật Phong nhìn người con trai trưởng của họ Triệu một lúc lâu. Bằng chứng, ông có. Bằng chứng nằm ở tập hồ sơ thiếu trang cuối trong kho văn thư huyện nha, nằm ở khoản hai trăm đồng lo việc ngoài trong sổ chi của mỏ, nằm ở lời khẳng định của một ông lão thuộc da bảy mươi hai tuổi ngay tại sân sau của ngôi dinh này cách đây chưa đầy một canh giờ. Nhưng ông không thể nói ra. Nói ra lúc này, khi chưa có gì xảy ra, chỉ khiến nhà họ Triệu đề phòng theo hướng bịt miệng người biết chuyện, và khiến người cha già trong gánh rối kia, người đã chờ mười hai năm, ra tay sớm hơn hoặc tuyệt vọng hơn. Ông chỉ nói:
- Bằng chứng của nghề ta không bày ra trên bàn như sổ mỏ được, thiếu gia. Ta chỉ có thể nói: nếu đêm mai có người đổ máu trong sảnh tiệc này, thì máu ấy đã được báo trước ở đây, chiều nay, bởi chính miệng ta.
Sĩ Kiệt cười khẩy, bước ra mở cửa thư phòng, gọi gia đinh vào, và ra lệnh tiễn khách bằng một giọng cố ý nói to cho cả hành lang nghe thấy:
- Tiễn đạo sĩ ra cổng. Từ nay việc trấn trạch trong dinh đã xong, không cần mời nữa. Và đạo sĩ nghe cho rõ: đừng bén mảng tới chỗ mẫu thân ta mà kể chuyện ma quỷ dọa bà. Bà mà mất ngủ thêm một đêm vì lời của ông, ta sẽ hỏi tội ông trước quan phủ.
Hai gia đinh đứng hai bên cửa, mặt lạnh như đá. Dật Phong đứng dậy, chỉnh lại vạt áo đạo bào, cúi đầu chào một cái rất đúng lễ rồi bước ra, đi qua sân trước đang treo đèn lồng đỏ thành từng dãy, qua dãy bàn tiệc đang được khiêng vào sảnh chính, qua những người làm đang chạy ngược chạy xuôi với khay hoa quả và chồng bát sứ mới. Không ai trong số họ biết rằng người đạo sĩ vừa bị đuổi ra khỏi cổng kia đang mang theo mình một sự thật đủ để làm tan hoang ngày vui lớn nhất của gia tộc này.
Ra tới hành lang dẫn xuống khu nhà ngang, ông đi chậm lại. Người của gánh đang khiêng khung màn và các thùng đồ nghề vào sảnh phụ để chuẩn bị cho buổi tổng duyệt tối nay. Vương Nhị Hổ vác một bó que tre dài trên vai, Trương Quế Phương ôm chồng áo hát, còn Tiểu Sơn đang khiêng cây đèn dầu phụ đi về phía sảnh. Căn phòng để đồ nghề của gánh ở đầu dãy nhà ngang mở hé cửa, bên trong không có ai. Dật Phong liếc nhanh ra sân: hai gia đinh tiễn khách đã quay lưng đi về phía cổng chính từ lúc nào, chắc mẩm đạo sĩ sẽ tự biết đường ra. Ông nín thở, lách người qua khe cửa, và khép cửa phòng đồ nghề lại sau lưng mình.
Trong phòng chỉ có một vệt sáng cuối ngày lọt qua khe cửa sổ và một cây đèn dầu nhỏ thắp sẵn trên bàn thợ, thứ đèn người của gánh để lại để kiểm đồ trước giờ mang vào sảnh. Hòm rối chính đặt ở góc trong, khóa đồng khép chặt, bên cạnh là một tấm màn phụ đã được dựng sẵn lên khung nhỏ để thợ kiểm đường căng trước khi thay vào sảnh, mặt màn trắng trống trơn quay về phía ông, và sau tấm màn ấy là một khoảng tối sâu, nơi ánh đèn nhỏ không hắt tới được. Dật Phong rút gương bát quái trong tay áo ra, cầm bằng cả hai tay như cầm một vật dễ vỡ, hít vào một hơi thật chậm, rồi giơ mặt gương lên, chiếu thẳng về phía tấm màn trống và khoảng tối sau màn.
Trong mặt gương, tấm màn không hề trống.
Giữa mặt vải trắng trong gương hiện rõ một cái bóng nữ tướng đứng im: mũ tướng, giáp vai, thanh đao buông dọc theo thân, đứng thẳng và bất động như một người đang chờ nghe lệnh, ngay giữa khoảng tối sau màn mà mắt thường của ông chỉ thấy đen đặc. Cái bóng ấy đứng trong đúng một nhịp thở. Chỉ một nhịp thở. Rồi nó tan ra như khói bị gió thổi, mặt gương trở lại trống trơn, và khi Dật Phong hạ gương xuống nhìn thẳng lên tấm màn thật, ở đó chỉ có một mặt vải trắng im lìm dưới ánh đèn dầu nhỏ, không một vết in nào, không một tiếng tre nào kêu. Ông lật mặt gương lại dưới ánh sáng: trên mặt đồng vốn đã có một vệt mờ tròn từ đêm ở rạp Khánh Phong, giờ đây xuất hiện thêm một vệt mờ thứ hai, lớn hơn vệt đầu, nằm chồng lên mép của vệt cũ, lau bằng tay áo thế nào cũng không sạch đi được.
Dật Phong đứng rất lâu trong căn phòng đồ nghề vắng người, nghe tiếng tim mình đập. Những gì ông vừa thấy còn đáng sợ hơn cả đêm ở rạp. Ở rạp, con rối đang diễn, đèn đang cháy, màn đang căng, thần thức tỉnh dậy trong lúc vở diễn là điều luật phường đã nói rõ. Còn ở đây, chưa có vở diễn nào, chưa có cây đèn lớn nào được thắp, chưa có một tiếng phách nào vang lên, vậy mà hình của nó đã in sẵn vào trong gương, đứng chờ sẵn sau một tấm màn trống, trong một căn phòng không người. Nó không còn ngủ nữa. Nó đã nóng sẵn, đã thức sẵn từ trước khi ngọn đèn đầu tiên của đêm tổng duyệt được châm lên, như một người lính đã mặc giáp xong và chỉ còn chờ tiếng trống.
Ông gói gương lại vào khăn vải, cất sâu vào ngực áo, lách ra khỏi phòng đồ nghề và đi thẳng ra cổng dinh, không quay đầu lại cho tới khi hai cánh cổng sắt đã khép sau lưng. Đứng ngoài cổng, ông mới quay lại nhìn: phía trên tường cao của tư dinh, sảnh tiệc đang treo đèn kết hoa sáng dần lên trong buổi chiều chạng vạng, đỏ rực và lộng lẫy, tiếng người, tiếng cười, tiếng thử nhạc mừng thọ vọng ra tận ngoài phố. Dật Phong nắm chặt tay áo nơi cất chiếc gương đã mờ hai vệt, nhìn cái sân sáng ấy một lúc lâu, rồi tự thề với chính mình, thành tiếng, nhỏ đến mức chỉ mình ông nghe thấy:
- Tối mai, dù có phải trèo tường, ta cũng phải có mặt trong cái sân sáng ấy.