RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 25: Luật Đầy Đủ Của Phường Tà

Chiều ngày thứ mười bốn, Trình Dật Phong không ra về ngay khỏi nhà Cố Lão Căn như đã định. Câu dặn cuối cùng của ông lão, rằng người chết ở trong cái…

Nội dung chương

Chiều ngày thứ mười bốn, Trình Dật Phong không ra về ngay khỏi nhà Cố Lão Căn như đã định.

Câu dặn cuối cùng của ông lão, rằng người chết ở trong cái bóng chứ không ở trong tấm da, khiến vị đạo sĩ đứng ở giữa sân một lúc lâu mà không bước nổi qua cổng. Ông đã soi gương bát quái một lần ở rạp Khánh Phong và đã thấy cái bóng người con gái ấy bằng chính mắt mình; ông đã đọc hồ sơ của cô gái và đã ngửi mùi sáp ong trên hòm rối. Những gì ông còn thiếu, thiếu một cách nguy hiểm, là luật: một thứ như thế sống bằng cách nào, bị kìm bằng cách nào, và khi nó vượt ra khỏi tầm tay của người tạo ra nó thì phải làm gì. Cố Lão Căn nhìn vị khách của mình đứng lặng giữa sân, thở dài một tiếng, rồi tự tay rót lại ấm trà mới và bảo ông ngồi xuống. Ông lão nói đấu tranh trong lòng ông đã xong từ lúc ông mở miệng kể chuyện đêm mưa năm 1914; đã kể một nửa thì kể cho trọn, vì luật của thứ ấy mà biết nửa vời thì thà không biết còn hơn, nửa vời sẽ làm người ta chết vì tưởng mình đã hiểu.

Trước khi vào luật, ông lão còn ôn lại cho đạo sĩ nghe cách một con rối dưỡng bì được làm ra, để người nghe hiểu vì sao luật của nó lại khắt khe tới vậy. Tấm da phải là da của người chết oan, lấy khi thi thể còn tươi, mài mỏng trong nhiều ngày cho tới độ trong suốt như da lừa thuộc kỹ nhất, ngâm nước sáp ong đủ bốn mươi chín ngày để da không mục và thần thức không tan. Mặt của con rối không vẽ bằng chu sa thường: chu sa phải pha với máu lấy ở cuống tim của chính người chết, thứ máu cuối cùng còn giữ hơi ấm của một đời người, vẽ tới đâu là gieo thần thức của người chết vào tới đó. Khớp nối bằng tre chuốt, dây buộc bằng tơ tằm, từng chi tiết đều giống hệt rối thường, chỉ khác ở một chỗ duy nhất: rối thường thuộc xong là một vật chết, còn rối này thuộc xong là một người chết đang ngủ.

Và trong buổi chiều muộn ở phố tây trấn Bình Dao, nghệ nhân già nhất của nghề rối vùng này kể cho đạo sĩ của quán Thanh Hư nghe toàn bộ luật của rối dưỡng bì, điều mà các phường đã cấm nhắc tới suốt mấy đời người.

Điều thứ nhất: con rối thuộc theo lối dưỡng bì chỉ sống khi có ánh đèn lửa chiếu qua một tấm màn vải trắng trong lúc phường đang diễn. Không phải ánh sáng nào cũng gọi được nó dậy. Phải là lửa thật, đèn dầu hoặc nến, thứ lửa có tim, có khói, có hơi nóng chao đảo như hơi thở của người sống. Ban ngày, trong hòm khóa kín, nó chỉ là một tấm da chết như mọi tấm da thuộc khác, ai cầm lên cũng không sao. Nhưng khi ngọn đèn lửa cháy lên sau tấm màn trắng và vở diễn bắt đầu, thần thức gieo trong từng khớp nối của nó sẽ tỉnh dậy theo ánh lửa, và cái bóng hiện trên màn lúc ấy không còn chỉ là bóng của một hình nhân bằng da nữa.

Điều thứ hai: cái bóng của nó chỉ tồn tại trong vùng sáng mà ngọn đèn hắt tới trong phòng diễn. Vùng sáng ấy là cõi của nó, là biên giới của nó. Nó có thể đi lại, múa gươm, thậm chí trong những trường hợp oán khí đã đủ nặng, tách khỏi mặt màn mà đứng vào trong vùng sáng của căn phòng, nhưng nó không bao giờ bước ra khỏi vùng sáng ấy được, không qua được ngưỡng cửa của phòng diễn nơi ánh đèn không hắt tới. Đèn tắt là nó tan ngay lập tức, như một giấc mơ bị cắt ngang. Cho nên người xưa nói, giữ được ngọn đèn là giữ được con rối, còn mất ngọn đèn giữa lúc nó đang tỉnh thì không ai nói trước được điều gì.

Điều thứ ba: nghệ nhân chế ngự nó bằng dây tơ tằm nhuộm nước gừng buộc chặt đủ bốn chi, và bằng đồng xu bạc ngậm trong miệng. Dây tơ gừng là dây cương duy nhất mà thần thức trong tấm da còn chịu nghe, vì nước gừng già thấm vào tơ làm nó choáng váng và chậm lại mỗi khi người điều khiển giật dây ra lệnh. Đồng xu bạc ngậm trong miệng của người điều rối và người giữ đèn là để chặn đường tiếng nói: khi vở diễn đang hồi cao, thứ ở trong tấm da có thể mượn đường giọng hát và tiếng người sau màn mà cắn ngược vào cuống họng của người sống, nên miệng ai ở sau màn cũng phải có một đồng xu bạc chặn lại, im lặng tuyệt đối sau khi đèn đã cháy.

Điều thứ tư: nước gừng tươi tưới thẳng lên tấm da sẽ làm thần thức trong da tán loạn tạm thời, rối loạn trong vài nhịp thở, không hơn. Đó là cách cầm cự cuối cùng khi con rối bắt đầu không nghe dây cương, một cách mua thời gian chứ không phải cách trị. Và điều thứ năm: một chiếc gương thật, gương đồng soi tà của người có nghề, chiếu thẳng vào cái bóng thì bóng sẽ khựng lại, và trong mặt gương sẽ hiện ra nguyên hình của người chết, vì như ông lão đã dặn, người chết trốn trong cái bóng chứ không trốn trong tấm da; gương soi được bóng là soi được chính họ. Nhưng gương chỉ làm nó khựng lại và lộ hình, gương không giết được nó, không thu được nó, và người cầm gương mà tưởng gương là vũ khí thì sẽ chết vì sự tự tin ấy.

Tới điều cuối cùng, giọng của Cố Lão Căn chậm lại và trầm xuống hẳn. Ông nói đó là điều cấm lớn nhất của phường tà, điều mà bất kỳ ai từng nghe qua luật dưỡng bì đều phải thuộc nằm lòng: tuyệt đối không để máu của người sống chạm vào tấm da. Máu người sống chạm vào da rối là điểm huyết khai nhãn theo bí thuật của phường rối: oán hồn trong da sẽ tỉnh hẳn, tỉnh trọn vẹn như người chết mở mắt sống lại, và từ khoảnh khắc ấy nó thoát khỏi mọi mệnh lệnh của nghệ nhân, không dây cương nào còn giữ được, không giọng người nào còn gọi được. Khi chuyện ấy đã xảy ra, trên đời này chỉ còn đúng một cách để dập nó: lửa. Thiêu tấm da cho cháy hết, cháy tới tro, thì thần thức mới tan theo.

Dật Phong ngồi nghe mà đối chiếu từng điều một với những gì chính ông đã thấy trong mười mấy ngày qua, và càng đối chiếu, sống lưng ông càng lạnh. Đêm diễn đầu tiên ông xem ở rạp Khánh Phong, cái bóng trên màn đi trong vùng sáng của cây đèn dầu lớn, không một lần lấn qua mép tối ở hai bên khung màn. Đêm ông soi gương bát quái, bóng người con gái hiện ra trong mặt gương đúng như lời ông lão nói về gương đồng soi tà, khựng lại một thoáng rồi tan khi ông hạ gương xuống. Sau mỗi đêm diễn, khi đèn tắt, rạp hát hoang trở lại im lặng tuyệt đối, không một dị tượng nào còn sót lại trong bóng tối, đúng như luật đèn tắt là tan. Cả thói quen kỳ lạ mà người trấn kể về phường chủ gánh Hứa Ký: không cho ai chạm vào con rối, lau rối bằng nước ấm như lau người bệnh, buộc lại dây tơ ở bốn chi trước mỗi đêm diễn, bắt đệ tử giữ đèn phải ngậm đồng xu bạc và im lặng tuyệt đối sau màn. Từng thói quen một, khi đặt cạnh bộ luật vừa nghe, đều không còn là thói quen nữa. Chúng là nghi thức. Và một người thực hành đầy đủ nghi thức của phường tà suốt mười hai năm, đêm này qua đêm khác, không sai một điều, thì không thể là người không biết mình đang giữ thứ gì trong hòm.

Ông hỏi ông lão câu hỏi quan trọng nhất của buổi chiều hôm ấy: nếu một con rối như thế đã tách khỏi màn, đã đứng vào vùng sáng của căn phòng như một thực thể thật sự, thì làm cách nào để thu nó lại. Cố Lão Căn im lặng lâu hơn mọi lần im lặng trước đó trong buổi chiều. Rồi ông nói, chậm và rõ: phải buộc lại đủ bốn chi của nó bằng dây tơ tằm nhuộm nước gừng, buộc trong lúc nó còn ở ngoài màn và chưa quay trở lại mặt màn, buộc đủ bốn chi không thiếu một chi, thì thần thức mới bị kéo trở về trong tấm da. Nghe thì đơn giản, nhưng ông lão nói tiếp, mười hai năm nay trên đời này chỉ có đúng một người làm nổi việc ấy: chính là người đã tạo ra nó, người thuộc tấm da, gieo thần thức, nuôi nó qua từng đêm diễn, người mà bàn tay của ông ta là thứ duy nhất cái bóng ấy còn nhận ra. Người ngoài, dù là đạo sĩ có nghề, mà xông vào giành dây cương với nó thì chỉ chuốc lấy một vết rạch mỏng trên cổ tay, hoặc tệ hơn.

Trước lúc cáo từ, Dật Phong hỏi thêm một câu nhỏ: trong nhà ông lão, liệu còn giữ được ít dây tơ tằm nhuộm nước gừng đúng kiểu của phường cũ hay không, phòng khi tới ngày cần dùng. Cố Lão Căn nhìn ông một lúc lâu, rồi nói nhà ông quả còn một cuộn tơ như thế, cuộn tơ nghề cuối cùng của phường cũ vùng này, cất kỹ đã nhiều năm không động tới. Nhưng ông chưa trao nó cho ai trong buổi chiều hôm nay. Ông nói thứ ấy trao ra là trao cả một phần trách nhiệm của nghề, ông cần nhìn thêm một đêm nữa, nghe thêm tin từ tư dinh một đêm nữa, rồi mới quyết định đặt nó vào tay người nào. Dật Phong không ép. Ông hiểu những người già của nghề này, khi họ nói cần thêm một đêm để nghĩ, thì một đêm ấy nặng bằng cả một đời người cân nhắc.

Dật Phong ra khỏi con ngõ nhỏ của phố tây thì trời đã tối hẳn. Ông đi bộ về phía tư dinh họ Triệu để trả lời hẹn trấn trạch với phu nhân, và từ xa, ông nhìn thấy cả dãy nhà của tư dinh sáng đèn rực rỡ giữa trấn cổ đang lên đèn thưa thớt, ánh sáng vàng hắt ra từ sảnh tiệc đang được trang hoàng cho lễ thọ, đẹp và ấm như ánh sáng của một nhà giàu đang chuẩn bị mở hội lớn nhất trong nhiều năm. Ông đứng lại giữa đường một lúc, tính nhẩm trong đầu như người tính một món nợ sắp tới ngày phải trả: từ hôm nay, ông chỉ còn hai ngày trước đêm tổng duyệt trong dinh, và ba ngày trước đêm thọ của Triệu Vĩnh Khang. Trong hai ngày ấy, ông phải tìm cách nhìn cho rõ con rối nữ tướng của gánh Hứa Ký ở một khoảng cách gần hơn bất kỳ khoảng cách nào ông từng có, và phải nghĩ cho ra một cách để có mặt trong sảnh tiệc đêm thọ với tư cách đạo sĩ trấn trạch, vì ông biết chắc một điều mà cả trấn này chưa ai biết: đêm thọ ấy sẽ không phải là một đêm diễn bình thường.

Chương khác

Xem thêm