RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 39: Hương Trước Hòm Rối

Tối ngày thứ mười bảy, trước giờ khai tiệc chưa đầy một canh giờ, phòng chuẩn bị của gánh ở dãy nhà ngang của tư dinh họ Triệu im lặng khác thường, trong…

Nội dung chương

Tối ngày thứ mười bảy, trước giờ khai tiệc chưa đầy một canh giờ, phòng chuẩn bị của gánh ở dãy nhà ngang của tư dinh họ Triệu im lặng khác thường, trong khi từ sảnh chính phía trước, tiếng nhạc mừng thọ, tiếng cười nói của người làm và tiếng leng keng của bát đĩa tiệc đã vang sang thành từng đợt rõ mồn một.

Đêm nay sau tấm màn chỉ còn ba người, và căn phòng này tự nó cũng biết điều ấy. Chỗ ngồi quen thuộc của Vương Nhị Hổ bên bộ trống phách trống trơn, chiếc kèn của hắn treo im trên vách, không ai buồn lấy xuống. Trương Quế Phương ngồi trước một chiếc gương đồng nhỏ, thay bộ áo hát mới nhất của gánh, áo gấm xanh thêu chỉ bạc đã mặc qua bao nhiêu đêm diễn lớn nhỏ. Tay chị hơi run khi cài hàng khuy áo cuối cùng, run tới mức phải cài đi cài lại hai lần mới xong. Chị không nói một lời nào về người chồng đang bị nhốt trong kho củi ở cuối dãy bếp, cũng không hỏi đêm nay thiếu trống phách thì hát làm sao cho trọn. Chị chỉ gấp lại chiếc khăn tay của mình, đặt ngay ngắn bên cạnh xấp nhạc phổ cũ, rồi ngồi yên nhìn vào mặt gương đồng, như người đang thuộc lại trong đầu từng câu hát của vở Bạch Hạc Nữ Tướng, nhất là đoạn oán nhất ở nửa sau, đoạn mà đêm qua đã khiến một người đàn ông phải đổ máu.

Lão Hứa vào phòng sau khi đã tắm gội xong ở giếng sau của dãy nhà ngang. Tóc bạc của ông còn ướt, chải ngược ra sau gọn gàng. Ông mặc bộ áo dài đen mà Tiểu Sơn trong bảy năm theo gánh chỉ thấy ông mặc đúng vào những dịp lễ lớn nhất của phường: giỗ tổ nghề, mở rạp đầu năm, và những đêm diễn cho quan lớn mà cả gánh phải giữ lễ như vào đình. Áo đã cũ, cổ áo hơi sờn, nhưng được giặt ủi phẳng phiu, cài khuy tới tận cổ. Trông ông tối nay không giống một phường chủ sắp vào sảnh diễn kiếm tiền. Trông ông giống một người sắp chủ trì một buổi lễ của chính nhà mình.

Việc đầu tiên ông làm khi bước vào phòng không phải kiểm đèn, cũng không phải kiểm rối. Ông mở nắp hòm rối chính đã được khiêng về phòng từ buổi trưa, để con rối nữ tướng cao hai thước nằm nguyên trong hòm trên lớp vải lót, mặt rối ngửa lên trần nhà, mười một khớp tre khép yên, ba que điều khiển đặt song song bên cạnh thân rối. Rồi ông lấy từ trong tay áo ra ba nén hương, châm vào ngọn đèn dầu nhỏ trên bàn thợ, và cắm hương ngay ngắn vào một chiếc bát cát nhỏ đặt ngay trước hòm rối đã mở nắp. Ba nén hương cháy lên, khói hương cuộn thẳng trong căn phòng không một hơi gió. Lão Hứa chắp hai tay trước ngực, đứng yên trước hòm rối, và khấn rất nhỏ, nhỏ tới mức Tiểu Sơn đứng cách ông chỉ ba bước cũng không nghe rõ được một câu trọn vẹn nào, chỉ nghe được tiếng khấn đều đều, chậm rãi, bằng đúng giọng của một người đang khấn trước bàn thờ tổ tiên trong nhà mình, không phải giọng của người thợ đang kiểm đồ nghề. Ông khấn rất lâu. Quế Phương ngồi trước gương đồng cũng lặng lẽ chắp tay theo một lúc rồi buông xuống. Tiểu Sơn không dám thở mạnh. Trong bảy năm theo gánh, hắn đã thấy sư phụ lau con rối bằng nước ấm như lau người bệnh, đã thấy ông đặt bát cơm cạnh hòm mỗi đêm, đã thấy ông làm lễ giỗ bí mật với bát cơm và chiếc áo lụa trắng vào đêm mười lăm tháng chín. Nhưng thắp hương cắm ngay trước hòm rối, khấn như khấn trước bàn thờ, ngay trước giờ diễn, trước mặt người của gánh, thì đây là lần đầu tiên hắn được chứng kiến. Và hắn hiểu, theo một cách không cần ai giải thích, rằng sư phụ hắn tối nay không còn giấu nữa.

Khấn xong, Lão Hứa ngồi xuống bên hòm, tự tay nhấc con rối lên giá treo, và bắt đầu buộc lại tơ tằm nhuộm nước gừng cho con rối, từng sợi một. Đây là việc trước mỗi đêm diễn lớn ông vẫn tự làm, không cho ai làm thay, nhưng tối nay tay ông chậm hơn mọi lần rất nhiều, và chắc hơn mọi lần rất nhiều. Sợi tơ ở cổ tay trái được ông tháo ra, vuốt thẳng, buộc lại bằng nút thắt của phường, kéo thử hai lần cho căng đều. Sợi tơ ở cổ chân trái, rồi sợi tơ ở cổ chân phải, cũng được ông làm y như thế, chậm rãi, ngón tay già nua di chuyển trên từng khớp tre nhỏ như người đang buộc lại một món đồ quý lần cuối cùng trước khi mang nó đi rất xa. Tiểu Sơn đứng ngay bên cạnh cầm đèn soi cho sư phụ, và hắn nhìn rất rõ sợi tơ cuối cùng còn lại: sợi tơ buộc ở cổ tay phải của con rối. Đó vẫn là đoạn tơ cũ đã mục mà chính tay sư phụ đã thay vào buổi sáng hôm tổng duyệt, sợi đã xơ, màu đã ngả sang nâu xám, khác hẳn ba sợi mới tinh vừa được buộc lại sáng bóng dưới ánh đèn. Ngón tay của Lão Hứa chạm vào đoạn tơ mục ấy, dừng lại trên nó lâu hơn trên mọi sợi khác, vuốt nhẹ dọc theo chiều sợi như vuốt một vết sẹo cũ. Rồi ông buộc lại nút thắt của chính đoạn tơ mục ấy, giữ nguyên nó như cũ, không tháo ra, không thay mới, và chuyển tay sang phần việc tiếp theo như thể trên cổ tay phải của con rối chưa từng có điều gì đáng để ông bận tâm. Tiểu Sơn nuốt nước bọt. Hắn đã nhắc về đoạn tơ này một lần vào sáng hôm tổng duyệt và chỉ nhận được một câu trả lời: tơ cũ cho đêm lớn, nó quen tay ta. Tối nay hắn không nhắc lại nữa. Có những câu hỏi mà người ta chỉ hỏi được một lần trong đời.

Buộc tơ xong, Lão Hứa tự tay kiểm tra cây đèn dầu lớn của gánh, cây đèn đồng đã theo gánh qua bao nhiêu trấn, cây đèn mà ông luôn quý hơn cả hòm rối. Ông tháo chụp đèn, tự châm lại bấc cho đều, dùng kéo nhỏ cắt phần bấc cháy dở cho ngọn lửa tối nay đứng thẳng và sáng nhất, rồi tự tay rót dầu vào bầu đèn, rót chậm rãi cho tới khi dầu đầy sát tới miệng bầu, không để thừa một giọt nào tràn ra ngoài. Ông dặn Tiểu Sơn đứng giữ khay dầu dự trữ ngay bên cạnh vị trí giữ đèn sau màn, dầu cạn tới đâu châm thêm tới đó, không được để ngọn lửa lụi xuống dù chỉ một khắc. Rồi ông quay sang nhìn thẳng vào mặt đệ tử út của mình, và dặn hắn, không phải một lần mà là hai lần, cách nhau đúng một tuần hương cháy dở, bằng cùng một giọng chậm rãi như đóng đinh vào gỗ:

- Tối nay con giữ đèn cho sáng. Ngồi đúng vị trí của con sau màn, hai tay không rời cây đèn. Dù thấy gì, dù nghe gì, cũng không được rời vị trí. Và nhớ kỹ điều này hơn mọi điều khác: trong lúc vở đang diễn, nếu có bất kỳ ai từ phía khán giả gọi đúng tên con, dù giọng gọi giống ai tới đâu, cũng không được đáp lời. Ngậm chặt đồng xu bạc của con vào miệng, coi như không nghe thấy. Con có nhớ không.

Lần thứ nhất Tiểu Sơn gật đầu. Lần thứ hai, khi nén hương trước hòm rối đã cháy xuống quá nửa, Lão Hứa nhắc lại nguyên văn một lần nữa, bắt hắn nhắc lại thành tiếng từng điều một cho tới khi thuộc: giữ đèn cho sáng, không rời vị trí, không đáp lời ai gọi tên mình. Hắn nhắc lại đầy đủ, và thấy sư phụ gật đầu rất nhẹ, như người vừa giao xong một việc quan trọng nhất của đêm nay cho đúng người duy nhất còn ở lại bên mình sau tấm màn.

Trong lúc chờ gia đinh tới dẫn đường vào sảnh, Tiểu Sơn tự kiểm lại phần việc của chính mình lần cuối, như sư phụ đã dạy từ năm mười tuổi: đồng xu bạc của riêng hắn vẫn nằm trong túi áo trong, lạnh và nặng hơn mọi đồng xu thường, lát nữa lên vị trí là phải ngậm vào miệng ngay từ nhịp phách đầu tiên. Khay dầu dự trữ đã đặt sẵn bên tay phải của vị trí giữ đèn. Tấm màn chính của gánh đã được gia đinh khiêng vào sảnh từ xế chiều và căng lên khung, hắn chỉ còn việc mang theo cây đèn lớn và khay dầu đi sau sư phụ. Quế Phương đứng lên, thử một câu hát mở giọng rất khẽ ngay trong phòng, chỉ một câu ngắn rồi dừng lại để giữ giọng cho đêm diễn, và Tiểu Sơn nghe rõ trong câu hát thử ấy có một quãng run nhẹ mà ngày thường chị không bao giờ run. Cả ba người đều biết đêm nay không còn trống phách của Nhị Hổ để lấp vào những khoảng lặng sau màn nữa.

Ngoài phòng, tiếng trống khai tiệc thử nhịp đã nổi lên ở sảnh chính, tiếng gia đinh gọi nhau khiêng màn, khiêng khung, chuẩn bị đưa gánh vào vị trí sau màn của sảnh tiệc. Lão Hứa đứng dậy, phủi nhẹ vạt áo dài đen, ra hiệu cho Quế Phương mang áo hát và nhạc phổ đi trước theo gia đinh dẫn đường. Còn Tiểu Sơn, theo lệ của gánh trong mọi đêm diễn lớn, phải mở hòm đàn của sư phụ, lấy cây đàn nguyệt ra mang theo ra sau màn, vì sau khi hạ màn vở chính, phường chủ thường gảy một khúc đàn ngắn tạ khách. Hòm đàn đặt ở góc trong của phòng, ổ khóa đồng nhỏ trên nắp vẫn khép như mọi ngày. Tiểu Sơn quỳ xuống, mở nắp hòm đàn ra như đã làm hàng trăm lần trong bảy năm qua. Cây đàn nguyệt nằm nguyên trong lòng hòm, dây đàn căng đều, cần đàn bóng lên vì tay người cầm lâu năm. Nhưng khi tay hắn vừa chạm vào cần đàn định nhấc lên, mắt hắn khựng lại ở đáy hòm. Ngăn đáy bí mật của hòm đàn, ngăn mà hắn đã thề sẽ không bao giờ tự ý mở, ngăn mà suốt bảy năm hắn chưa từng thấy hé ra một lần nào, tối nay đang hé sẵn một khe nhỏ. Nắp ngăn đóng không kín, lệch đi một khoảng vừa bằng bề dày của một ngón tay, như thể có người vừa mở nó ra không lâu trước đó, lấy ra hoặc đặt vào một thứ gì, rồi đóng lại trong vội vã mà không để ý. Và qua khe hở nhỏ ấy, trong ánh đèn dầu chao nhẹ của phòng chuẩn bị, Tiểu Sơn thấy rõ một góc của một phong thư đã ngả vàng.

Chương khác

Xem thêm