RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 41: Thư Tuyệt Mệnh
Đêm Ngày 17, Trình Dật Phong bước qua cổng tây của tư dinh họ Triệu khi tiếng nhạc mừng thọ ở sảnh chính đã nổi lên hồi thứ hai, và điều đầu tiên ông cảm…
Nội dung chương
Đêm Ngày 17, Trình Dật Phong bước qua cổng tây của tư dinh họ Triệu khi tiếng nhạc mừng thọ ở sảnh chính đã nổi lên hồi thứ hai, và điều đầu tiên ông cảm nhận được không phải là mùi tiệc tùng mà là mùi dầu đèn và mùi sáp ong rất nhẹ thoảng trong gió thu.
Người dẫn ông vào là a hoàn riêng của Triệu phu nhân, cầm đèn lồng nhỏ, không nói một lời suốt quãng đường từ cổng tây qua dãy bếp. Tới cửa hông sảnh tiệc, cô ta cúi đầu chỉ tay vào trong, nơi Triệu phu nhân Tôn Ngọc Liên đang đứng chờ bên cột, mặt trắng hơn mọi đêm ông từng gặp bà. Bà mặc áo lễ của chủ mẫu, tóc vấn gọn, nhưng hai bàn tay giấu trong tay áo rộng vẫn hơi run, mắt nhìn thẳng về phía tấm màn trắng ở cuối sảnh.
- Đạo sĩ tới được là tốt rồi. Phu nhân nói rất khẽ. Tôi đã để sẵn một chỗ ngồi ở góc tây, sau cột lớn thứ hai. Từ đó nhìn ra được cả sảnh và cả tấm màn. Người của tôi sẽ không hỏi gì ông. Người của ông chủ cũng không để ý tới góc ấy.
- Phu nhân nhớ hai điều tôi dặn ban ngày chứ. Dật Phong hỏi.
- Đèn không tắt. Gọi không đáp. Bà đáp ngay, như người đã nhắc lại hai câu ấy trong đầu suốt cả buổi chiều. Tôi nhớ. Chỉ mong đêm nay không phải dùng tới chúng.
Ông không biết đáp lại thế nào. Từ chiều tối, ngực áo ông nặng trĩu hai thứ nằm cạnh nhau: chiếc gương bát quái tổ truyền đã mờ hai vệt, và cuộn tơ tằm nhuộm nước gừng, cuộn tơ nghề cuối cùng của phường rối cũ Bình Dao. Cố Lão Căn trao cuộn tơ kèm một câu dặn rõ ràng: đưa tận tay người cha thì mới có ích, đưa cho đạo sĩ thì vô dụng. Ông đã tự quyết trên đường về rằng tối nay trước giờ diễn, dù phải quỳ, ông cũng sẽ đưa cuộn tơ ấy tận tay Hứa Minh Đức.
Nhưng sảnh tiệc trước mặt không chừa cho ý định ấy một khe hở nào.
Hơn năm mươi quan khách đã vào chỗ. Sảnh lớn thắp đèn điện sáng trưng theo đúng lệ phô trương của nhà buôn than giàu nhất vùng làm lễ mừng thọ sáu mươi. Ghế khách xếp thành từng dãy hướng về tấm màn của gánh ở cuối sảnh. Đứng đầu dãy khách là Huyện trưởng Phùng Quốc Đống, áo lễ cứng cổ, ngồi thẳng lưng, hai bên là các phú thương và chủ mỏ quanh vùng. Tiếng cười nói, tiếng chén đũa, tiếng gia đinh rót rượu hòa thành một lớp âm thanh dày và ấm, cái ấm của một bữa tiệc mà không ai nghĩ rằng nó có thể đổi màu.
Ở ghế chủ tọa, Triệu Vĩnh Khang ngồi dựa vào ghế bành bọc gấm đỏ, mặt đỏ hồng vì rượu và đắc ý, mặc áo thọ thêu chữ phúc bằng chỉ vàng, giọng sang sảng át cả tiếng nhạc mỗi lần lão cười. Hai con trai đứng hai bên: Triệu Sĩ Kiệt lo đón khách, mặt lạnh và kín; Triệu Sĩ Văn cầm chén rượu đi từng bàn, cười nói ồn ào. Không ai trong ba cha con nhìn về góc tây sau cột, nơi một đạo sĩ trấn trạch vừa lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế nhỏ khuất hẳn trong bóng cột.
Dật Phong ngồi xuống và đưa mắt tìm đường ra sau tấm màn.
Đường ấy không còn. Theo đúng điều kiện thứ hai trong giao kèo, trong sảnh chỉ dựng một màn duy nhất của gánh và không ai được đứng sau màn ngoài người của phường. Gia đinh đứng gác ở cả hai đầu hành lang sau màn, tay đặt lên chuôi dao ngắn; một người làm bưng khay rượu đi lạc về phía ấy cũng bị chặn lại từ xa. Sau tấm màn trắng kia, từ giờ cho tới khi hạ màn, chỉ có ba người của gánh: phường chủ điều rối, người hát và đứa trẻ giữ đèn. Vương Nhị Hổ đã bị nhốt trong kho củi từ chiều, hết đêm thọ mới được thả. Quản gia Mã Phúc Toàn, cổ tay phải còn băng vải trắng sau đêm tổng duyệt, bị cấm hẳn khỏi phòng diễn, không thấy bóng dáng đâu trong sảnh.
Dật Phong đặt tay lên ngực áo, chạm vào cuộn tơ qua lớp vải, và hiểu rằng việc trao tơ đã hỏng ngay từ trước khi ông bước vào sảnh. Không phải vì ông tới trễ; ông tới đúng hẹn, trước giờ khai tiệc một khắc. Mà vì người duy nhất có thể nhận cuộn tơ đang ở sau một tấm màn không cho phép người ngoài bước vào. Và sâu hơn nữa, như Cố Lão Căn đã nói thẳng từ chiều: kể cả khi ông chìa cuộn tơ ra, một người đã chờ mười hai năm cho đúng đêm nay cũng sẽ không nhận một cuộn dây dùng để thu lại thứ mà ông ta đã cố ý thả ra. Cuộn tơ nằm yên trong tay áo ông, nhẹ hều, mà nặng hơn bất cứ pháp khí nào ông từng mang theo.
- Ông chủ cho mời quan khách an tọa. Tiếng người xướng lễ của dinh vang lên trong sảnh. Trống khai tiệc sắp điểm, xin các vị trở về chỗ ngồi.
Dật Phong ngẩng đầu. Qua khe hở giữa hai hàng khách đang lục tục ngồi xuống, ông nhìn thấy mép dưới của tấm màn trắng lay động rất nhẹ, và trong một thoáng ngắn ngủi khi gia đinh vén tấm rèm hông để một người của gánh đi qua rồi buông xuống ngay, ông kịp thấy phía sau màn có ánh đèn dầu dự trữ hắt ra và một bóng người nhỏ bé đang quỳ xuống bên cây đèn lớn.
Ở phía sau tấm màn ấy, trong khoảng sáng hẹp mà không một quan khách nào nhìn thấy, Lý Tiểu Sơn đang run tay xé miệng một phong thư đã ngả vàng.
Hắn đã mang phong thư trong ngực áo suốt từ lúc đối chất với sư phụ ở sân sau, miệng thư dán kín bằng lớp hồ khô giòn, mặt ngoài không đề một chữ. Hắn đã tự nhủ cầm thư không phải là mở thư. Nhưng khi ngồi vào vị trí giữ đèn, nghe tiếng trống khai tiệc nổi lên từng hồi, hắn hiểu rằng nếu không mở ra bây giờ, hắn sẽ phải giữ cây đèn suốt một canh giờ trong cái đêm sư phụ đã chờ mười hai năm, mà không biết người ngồi cạnh mình sau tấm màn đã định làm gì với chính mình và với cả gánh. Hắn đưa ngón tay vào mép hồ, bóc rất chậm, như sợ tiếng giấy rách vọng ra tận sảnh. Bên trong chỉ có một tờ giấy gấp làm tư, nét chữ mực tàu đã hơi nhòe ở những chỗ tay người cầm nhiều lần.
Thư viết ngắn. Nét chữ chắc, không run, là nét chữ của một người đã viết đi viết lại trong đầu rất lâu trước khi đặt bút.
Nếu con đọc được thư này, thì cha đã đi tới chỗ không quay lại được nữa. Đừng tìm cách ngăn cha. Việc của cha bắt đầu từ trước khi con tới gánh, và nó phải xong trong đêm nay, dù cha có còn đứng được sau tấm màn này hay không.
Cha xin lỗi vì đã nuôi con bằng một nửa sự thật. Bảy năm qua, những gì cha giấu con, cha giấu không phải vì không tin con. Cha giấu vì đứa trẻ mười tuổi ngày ấy không gánh nổi phần còn lại, và vì nếu con biết hết từ sớm, con sẽ không giữ nổi cây đèn cho tới đêm nay.
Sau đêm nay, con hãy thiêu hòm rối. Thiêu cho hết, đừng tiếc, đừng giữ lại một con rối nào của vở này, dù ai trả bao nhiêu tiền. Mảnh nào không cháy, con đem chôn, đừng để người ngoài nhặt được.
Tro của cha, con mang ra nghĩa địa phía tây trấn, chôn cạnh mộ của chị con. Mộ ấy không có bia, chỉ có một phiến đá nhỏ, con đã từng nghe cha nhắc mà chưa từng thấy. Đừng để ai mở mộ ấy ra xem. Trong mộ không có gì cho người sống xem cả.
Và đừng bao giờ kể cho người ngoài nghe con rối được làm bằng gì. Ai hỏi, con chỉ nói nó là một con rối cũ của phường, đã cháy hết trong đêm diễn cuối. Lời nói dối ấy, cha cho phép con nói suốt đời.
Cây đàn nguyệt trong hòm đàn là của con. Cả gánh này, từ nay là của con. Con muốn đi đâu thì đi, muốn nhận ai làm học trò thì nhận, chỉ có một điều cha dặn cuối cùng: đừng diễn lại vở Bạch Hạc Nữ Tướng nữa. Vở ấy đã có đủ một đêm cuối của nó rồi.
Tiểu Sơn đọc hết thư, rồi đọc lại lần thứ hai, chậm hơn. Không một chữ nào trong thư nói tới tiền bạc, tới giao kèo ba trăm đồng, tới nhà họ Triệu hay tới việc báo thù. Chỉ có tro, có mộ, có lửa và một lời cấm. Nhưng chính cái ngắn ngủi ấy làm tay hắn lạnh ngắt. Một người viết thư dặn hậu sự cho chính mình, dặn tới cả chỗ chôn tro và câu nói dối phải nói suốt đời, thì người ấy đã định chết từ trước khi bước vào sảnh tiệc này, và đã định từ rất lâu.
Hắn gấp thư lại, giấu sâu vào ngực áo, ngay bên cạnh túi tiền cọc một trăm đồng đại dương. Rồi hắn bỏ đồng xu bạc của riêng mình vào miệng, ngậm chặt, ngồi thẳng vào vị trí giữ đèn, hai tay đặt lên thân cây đèn dầu lớn như đã ngồi hàng nghìn đêm trong bảy năm, và nhắc lại trong đầu ba điều sư phụ bắt hắn thuộc: giữ đèn cho sáng, không rời vị trí, không đáp lời bất kỳ ai gọi đúng tên mình từ phía khán giả.
Ở phía trước màn, Dật Phong nhìn thấy bóng phường chủ già đi qua sau tấm màn, lưng còng, dừng lại ở giữa màn một nhịp như người đứng trước cửa nhà mình lần cuối, rồi đi tiếp về vị trí điều rối và khuất hẳn. Cuộn tơ trong tay áo ông vẫn nằm nguyên. Ông ngồi thẳng dậy, áp chiếc gương bát quái vào ngực, mắt không rời tấm màn.
- Tắt đèn điện. Tiếng Triệu Sĩ Kiệt ra lệnh ở đầu sảnh, rõ và lạnh.
Đèn điện trong sảnh phụt tắt theo hiệu lệnh.
Cả sảnh chìm vào bóng tối trong đúng một nhịp thở, tối tới mức tiếng cười nói của hơn năm mươi con người cũng tắt theo, chỉ còn tiếng rượu trong chén của ai đó sóng sánh vì tay run. Rồi ở phía sau tấm màn trắng, cây đèn dầu lớn của gánh được châm lên. Ngọn lửa đứng thẳng, sáng dần, hắt qua tấm màn vải một quầng sáng ấm và rộng, và trong quầng sáng ấy, cái bóng đầu tiên của nữ tướng hiện ra.
Nó lớn hơn bất kỳ đêm nào Dật Phong từng thấy. Lớn và rõ tới từng đường nét của mũ tướng, của dải áo, của thanh đao tre nhỏ trong tay. Cả sảnh nín thở. Ở ghế chủ tọa, Triệu Vĩnh Khang cười khẽ một tiếng, tiếng cười của một người vừa thấy món đồ mình bỏ tiền mua hóa ra còn đáng giá hơn lời rao. Còn Dật Phong, từ góc khuất sau cột, nhìn cái bóng ấy đứng yên một nhịp dài hơn bài bản trước khi bắt đầu di chuyển, và ông nghe rất rõ tiếng tim mình đập trong ngực, ngay bên cạnh mặt gương đồng lạnh ngắt.