RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 40: Mười Hai Năm
Một khắc trước giờ diễn, khi gia đinh của tư dinh họ Triệu đã bắt đầu thắp sáng dãy đèn lồng đỏ dọc sân trước và tiếng trống khai tiệc ở sảnh chính nổi…
Nội dung chương
Một khắc trước giờ diễn, khi gia đinh của tư dinh họ Triệu đã bắt đầu thắp sáng dãy đèn lồng đỏ dọc sân trước và tiếng trống khai tiệc ở sảnh chính nổi lên từng hồi ngắn giục khách vào chỗ, Lý Tiểu Sơn đứng một mình ở sân sau của dãy nhà ngang, tay cầm phong thư ngả vàng mà hắn vừa lấy ra từ ngăn đáy hòm đàn, và không dám mở.
Phong thư nhẹ hơn hắn tưởng. Giấy đã ngả vàng vì năm tháng, mép thư gấp rất ngay ngắn, mặt ngoài không đề một chữ nào, miệng thư dán kín bằng một lớp hồ đã khô giòn. Ngăn đáy của hòm đàn lúc hắn quay lại nhìn lần thứ hai vẫn hé đúng một khe nhỏ như cũ, như thể người vừa mở nó ra trước đó không hề có ý giấu kín việc mình đã mở, hoặc như thể chính sư phụ hắn đã cố ý để khe hở ấy lại cho hắn thấy trong đúng đêm nay. Tiểu Sơn đã thề sẽ không bao giờ tự ý mở ngăn đáy ấy. Hắn tự nói với chính mình rằng cầm thư lên không phải là mở thư, và mang thư theo người không phải là đọc thư. Nhưng tay hắn vẫn run khi hắn giấu phong thư vào ngực áo, ngay bên cạnh túi tiền cọc một trăm đồng đại dương mà hắn đã giữ bên người suốt từ ngày ký giao kèo. Hai vật nằm cạnh nhau trong ngực áo của một đứa trẻ giữ đèn mười bảy tuổi: một túi tiền của nhà họ Triệu, và một phong thư không đề tên của sư phụ hắn. Hắn đứng yên trong sân sau tối mờ, nghe tiếng nhạc mừng thọ vọng sang, và biết mình không thể bước vào sảnh tối nay mà trong đầu vẫn còn nguyên những câu hỏi đã dồn nén suốt mười mấy ngày qua chưa từng được hỏi thành lời một lần nào cho trọn.
Hắn đi tìm sư phụ ở khoảng sân sau vắng người, nơi Lão Hứa đang đứng một mình chờ gia đinh tới dẫn gánh vào vị trí sau màn. Ông vẫn mặc bộ áo dài đen của dịp lễ lớn, hai tay chắp sau lưng, lưng còng xuống, mắt nhìn về phía sảnh chính đang sáng dần lên trong buổi tối. Trông ông lúc ấy bình thản tới mức Tiểu Sơn bỗng thấy sợ hơn cả lúc thấy ông quỳ xuống giữa sảnh phụ đêm qua. Hắn bước tới đứng sau lưng ông, hít vào một hơi thật sâu, và lần đầu tiên trong bảy năm theo gánh, hắn nói thẳng với sư phụ mình không vòng vo, không lựa lời, nói hết mọi điều mình đã ghép được, từng mảnh một, theo đúng thứ tự mà chúng đã tìm tới hắn trong chuyến đi này:
- Sư phụ. Con có mấy việc phải hỏi cho rõ trước giờ diễn. Hỏi xong, con vào giữ đèn, không hỏi thêm một chữ nào nữa.
Lão Hứa không quay lại, chỉ khẽ gật đầu một cái.
- Việc thứ nhất: gánh ta từng tới trấn này năm một nghìn chín trăm mười bốn. Ông Từ giữ rạp đã kể với con. Năm ấy gánh có một cô gái hát giọng nữ tướng, hát hay tới mức cả trấn kéo tới nghe. Sau chuyến ấy gánh bỏ đi trong đêm mưa, mười hai năm không quay lại. Việc thứ hai: trong gánh năm ấy có một cô gái hát rối chết oan ở chính rạp Khánh Phong. Hồ sơ của huyện kết là tự vẫn, nhưng quản gia Mã Phúc Toàn trong cơn say đã nói mớ về sợi dây thừng, về việc treo lên cho giống người tự vẫn, và đêm qua, trước mặt cả nhà họ Triệu, chính miệng hắn đã gọi thành tiếng cái tên của cô ấy sau khi bị cái bóng chém vào cổ tay. Việc thứ ba: sư phụ làm lễ giỗ bí mật cho cô ấy mỗi năm đúng ngày mười lăm tháng chín âm lịch. Con đã thấy tận mắt đêm mười lăm vừa rồi: bát cơm trắng, đôi đũa, chén rượu, chiếc áo lụa trắng gấp vuông vức, và con rối được đặt ngồi trên ghế như người dự lễ. Trong cuốn sổ vở cũ của gánh, bên cạnh tích Bạch Hạc Nữ Tướng có mười hai dấu khoanh đỏ theo từng năm, trang cuối sư phụ viết: năm thứ mười hai, về nhà. Việc thứ tư: trong mười hai năm ấy, nhà họ Triệu đã hai lần cho người mời gánh ta về diễn riêng, và cả hai lần sư phụ đều từ chối. Người trong trấn kể lại, anh Nhị Hổ cũng từng nghe người làm trong dinh nhắc. Chỉ tới lần thứ ba này, đúng lễ mừng thọ sáu mươi của ông chủ nhà họ Triệu, sư phụ mới nhận lời, mới ký giao kèo ba trăm đồng, mới chịu để cả gánh dọn vào ở trong chính ngôi nhà này. Việc thứ năm, và là việc con chắc chắn nhất: chuyến đi này không phải để kiếm tiền. Gánh bị đòi đuổi ở rạp, sư phụ bồi thường sạch tiền dành dụm mà mặt không một chút tiếc. Sư phụ quỳ xin lỗi thiếu gia thứ ngay giữa sân dinh, quỳ xin giữ con rối giữa sảnh phụ đêm qua, chịu mọi nhục nhã, chỉ để được ở lại trong ngôi nhà này cho tới đúng đêm nay. Một người đi kiếm tiền không làm thế. Một người đi diễn cũng không làm thế.
Hắn nói tới đó thì giọng đã nghẹn lại. Sân sau im lặng, chỉ còn tiếng trống khai tiệc từ sảnh chính vọng sang, từng hồi một, đều đặn như tiếng gọi người ta vào chỗ ngồi của một bữa tiệc đã không thể dừng lại được nữa. Tiểu Sơn nuốt nước bọt, và hỏi câu cuối cùng, câu mà hắn đã giữ trong ngực từ đêm thấy vệt hoa sau lưng tấm da, từ đêm thấy chiếc lược sừng gãy răng khắc chữ Nương, từ đêm nghe quản gia gọi cái tên ấy thành tiếng giữa sảnh phụ đẫm máu. Hắn hỏi rất khẽ, khẽ tới mức chỉ hai thầy trò nghe được giữa khoảng sân sau vắng người:
- Người trong hòm rối là cô ấy, phải không cha.
Hắn gọi sư phụ bằng cha. Trong bảy năm, hắn chưa từng gọi như thế một lần nào trước mặt người khác, dù trong lòng hắn, người đàn ông này đã nuôi hắn từ năm mười tuổi, dạy hắn giữ đèn, phát cho hắn đồng xu bạc của riêng mình, và là người thân duy nhất hắn còn có trên đời. Câu hỏi vừa ra khỏi miệng, hắn đã thấy hối hận và nhẹ nhõm cùng một lúc, như người vừa đặt xuống đất một gánh nặng đã mang quá lâu mà không biết đặt ở đâu.
Lão Hứa im lặng rất lâu.
Lâu tới mức tiếng trống ở sảnh chính đã dứt một hồi và bắt đầu một hồi mới. Lâu tới mức một gia đinh từ xa đi ngang đầu dãy nhà ngang, nhìn thấy hai thầy trò đứng yên trong sân sau thì tự động vòng đường khác mà đi, không dám gọi. Ông không quay lại ngay. Khi ông cuối cùng cũng quay người lại đối diện với đệ tử út của mình, mặt ông không có giận dữ, không có hoảng hốt, cũng không có ý định chối cãi bất kỳ điều nào trong năm việc vừa nghe. Ông chỉ nhìn Tiểu Sơn rất lâu, bằng ánh mắt của một người già nhìn một đứa trẻ vừa lớn lên thêm mấy tuổi chỉ trong một buổi tối, rồi ông đưa bàn tay gầy guộc đầy vết chai của người thuộc da lên, đặt lên vai hắn, và giữ nguyên bàn tay ấy ở đó trong lúc nói. Ông không phủ nhận. Ông cũng không kể thêm một chi tiết nào về cô gái năm xưa, không nói tên cô ấy thành lời, không nói một chữ nào về tấm da trong hòm rối. Ông chỉ nói về đêm nay, và về mười hai năm, bằng một giọng chậm rãi, rõ ràng, như người đọc lại một giao kèo đã ký từ rất lâu rồi mà hôm nay mới tới ngày phải thực hiện:
- Mười hai năm ta chờ một đêm, là đêm nay. Con không cần hiểu hết. Con chỉ cần giữ đèn. Nếu đêm nay con giữ được đèn cho tới cuối, coi như con đã trả ơn ta nuôi con bảy năm.
Chỉ có thế. Không thêm một chữ nào nữa. Bàn tay trên vai Tiểu Sơn khẽ siết lại một cái rồi buông ra. Gia đinh của dinh đã xuất hiện ở đầu hành lang với một cây đèn lồng đỏ trên tay, cúi đầu nói vọng vào sân sau: ông chủ cho mời phường chủ và người của gánh vào vị trí sau màn, quan khách đã bắt đầu vào chỗ, Huyện trưởng Phùng Quốc Đống vừa tới cổng chính, sảnh tiệc chỉ còn chờ tắt đèn điện là mở màn. Lão Hứa gật đầu với gia đinh, quay người đi trước về phía sảnh chính. Tiểu Sơn đứng yên thêm một nhịp thở nữa trong sân sau, tay vô thức áp lên ngực áo, nơi phong thư ngả vàng đang nằm giấu kín, miệng thư vẫn dán nguyên, chưa hề được mở. Hắn đã hỏi hết những gì mình ghép được, và câu trả lời duy nhất hắn nhận được không phải là một lời giải thích. Đó là một lời xác nhận về ý đồ, và một việc duy nhất được giao lại cho hắn trong đêm nay: giữ đèn.
Hắn quay vào sảnh theo sau sư phụ, phong thư giấu trong ngực áo, nước mắt chảy xuống mặt mà không dám đưa tay lên lau, vì cả hai tay hắn lúc ấy đều đang bận: một tay xách khay dầu dự trữ, một tay đỡ phụ lấy thân của cây đèn dầu lớn do sư phụ xách khi hai thầy trò đi qua ngưỡng cửa hẹp dẫn vào phía sau tấm màn của sảnh tiệc. Khách đã lục tục vào chỗ trong tiếng cười nói và tiếng ghế gỗ kéo trên nền gạch. Đèn điện trong sảnh còn sáng trưng theo đúng lệ của một bữa tiệc lớn, chờ tới giờ diễn mới tắt theo giao kèo, để chỉ còn ánh đèn lửa của gánh cháy sau tấm màn trắng. Tiểu Sơn đặt khay dầu xuống bên tay phải của vị trí giữ đèn, ngậm đồng xu bạc vào miệng, và ngồi xuống chỗ của mình sau màn, hai tay đặt lên cây đèn như đã ngồi hàng nghìn đêm trong bảy năm qua.
Ở phía trước, Lão Hứa đi trước hắn mấy bước, lưng còng, tay xách cây đèn dầu lớn đã cháy sáng, ngọn lửa đứng thẳng và yên trong chụp đèn, hắt một quầng sáng ấm lên vạt áo dài đen và lên một bên mặt già nua của ông. Tiểu Sơn nhìn theo bóng lưng ấy đi vào vùng sáng của sảnh tiệc, và hiểu rằng mình đang đi theo sư phụ vào một đêm mà ông đã diễn tập trong đầu suốt mười hai năm, tính từng nhịp phách, từng sợi tơ, từng lời dặn về ngọn đèn, còn hắn thì không có vai nào trong kịch bản ấy ngoài một ngọn đèn phải giữ cho tới cuối.