Rừng Cao Su - Chương 11: Hàng Cây Thẳng Tắp
Mặt trời đội một lớp sương mù dày đặc nhô lên khỏi đường chân trời, rải thứ ánh sáng màu lòng đỏ trứng gà ung thối xuống những vạt rừng cao su bạt ngàn…
Nội dung chương
Mặt trời đội một lớp sương mù dày đặc nhô lên khỏi đường chân trời, rải thứ ánh sáng màu lòng đỏ trứng gà ung thối xuống những vạt rừng cao su bạt ngàn của Dầu Tiếng. Không khí ban ngày không xua tan nổi cái lạnh buốt xương ngấm sâu trong thớ thịt Sơn. Bộ quần áo bảo hộ của anh ướt sũng mồ hôi hòa lẫn sương đêm, dính bết vào hai bả vai lạnh ngắt. Mỗi bước chân nện trên con đường đất đỏ đều nặng trịch, phát ra những tiếng thụp thụp nhớp nháp khi bùn nhão bám chặt quanh đế đôi ủng cao su.
Sơn dừng lại ở trạm trút mủ trung tâm để giao hai thùng nhựa cho tổ tiếp nhận. Mùi mủ cao su tươi sực lên nồng nặc, chua loét và gay gắt như mùi dấm ôi, xộc thẳng vào cuống họng khiến anh suýt nôn khan. Người công nhân phụ trách bàn cân gạt thanh đồng đo tỷ trọng, liếc mắt nhìn khuôn mặt trắng bệch không còn một hột máu của Sơn rồi cất giọng càu nhàu:
- Cạo lô mười ba mà giao được chừng này thôi à? Mủ loãng toẹt, độ DRC thấp tè thế này thì cuối tháng trừ sạch tiền chuyên cần nghe con. Mày làm ca đêm hay mày ngủ vùi dưới gốc cây?
Sơn không buồn đáp lại một câu. Anh ký nguệch ngoạc vào cuốn sổ giao nhận ướt nham nhở, bàn tay cầm chiếc bút bi run rẩy đến mức nét chữ biến thành những đường răng cưa méo mó. Anh móc chùm chìa khóa lô đất trong túi quần ra, siết chặt những cạnh kim loại góc cạnh vào lòng bàn tay để cơn đau rát kéo giật thần kinh mình tỉnh táo. Vệt dịch đen quánh bốc mùi thối rữa và hai sợi tóc người bám trên lưỡi máng nhôm ở gốc cây số ba mươi ba vẫn hiện diện rõ mồn một trước mắt anh. Cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng, kéo căng từng sợi gân sau gáy.
Anh không quay về khu cư xá công nhân để ngủ lấy sức. Thay vì rẽ trái theo con đường rải đá dăm dẫn về dãy nhà tập thể hai tầng ồn ào tiếng người thức giấc, Sơn quặt sang lối mòn nhỏ rợp bóng những cây muồng đen cổ thụ, đi ngược về phía bìa rừng phía Tây.
Đó là nơi chú Bảy Cang sinh sống.
Trong số những thợ cạo kỳ cựu còn bám trụ lại nông trường này, Bảy Cang là người thợ cả duy nhất từng làm việc chung thời kỳ với lão Ba Cường trước khi lão vội vã làm thủ tục rút lui, trả lại lô đất số mười ba cho đội sản xuất. Lão Ba Cường từng nói trong đêm bàn giao rằng Bảy Cang là người nắm rõ từng gốc cây ngọn cỏ ở dải đất tiếp giáp bãi tha ma cũ. Nếu có ai biết rõ danh tính của bóng người mặc áo nâu vặn ngược thân mình đi trước một hàng cây, kẻ đó nhất định phải là Bảy Cang.
Lối mòn dẫn vào lán trại phía Tây cỏ dại mọc lút đầu gối. Những bụi cỏ tranh sắc lẹm cào rách toạc lớp vải bạt bên ngoài quần bảo hộ của Sơn, để lại những vệt xước rát buốt trên bắp chân. Không gian quanh đây vắng lặng đến mức bất thường. Tiếng chim hót râm ran của buổi sớm hoàn toàn biến mất khi anh bước chân qua ranh giới hàng rào kẽm gai rỉ sét đã sụp đổ một nửa. Dưới những tán cây cao su già cỗi hơn nửa thế kỷ chưa được thanh lý, từng lớp lá khô dày cộp ẩm ướt lún sâu dưới gót ủng, bốc lên mùi mùn ẩm mốc tanh tao.
Căn lán của Bảy Cang hiện ra ở cuối con dốc đất thoai thoải.
Đó là một ngôi nhà cấp bốn nhỏ thó, xây dựng từ thời kỳ phân chia lại các đội sản xuất cách đây ba mươi năm. Tường gạch không trát vữa đã xỉn sang màu xám đen vì rêu phong bám chặt. Mái lợp bằng những tấm tôn xi măng fibro nứt nẻ nhiều chỗ, được chèn ép tạm bợ bằng những lốp xe hỏng cùng mấy khúc gỗ cao su mục ruỗng để chống gió lốc từ lòng chảo thổi về.
Một sự tĩnh mịch bao trùm lấy toàn bộ khoảng sân đất nện trước cửa nhà.
Không có tiếng gà lục tục bới rơm, không có khói bếp buổi sáng bốc lên từ chái bếp phía sau, cũng không thấy bóng dáng chiếc xe máy cúp cánh én cà tàng mà Bảy Cang thường dùng để chở thùng mủ đi tuần tra các tuyến lô phụ. Chiếc sào tre phơi đồ vắt vẻo bên hiên chỉ còn sót lại một mảnh giẻ lau rách tơi tả, đung đưa khô khốc theo từng cơn gió sớm lùa qua tán lá.
Sơn hít một hơi sâu, nén chặt nỗi bất an đang dồn nén trong lồng ngực rồi bước nhanh qua khoảng sân ngập lá rụng. Anh bước lên ba bậc thềm xi măng lở loét trơ cả những sợi cốt thép han rỉ, đưa bàn tay run rẩy đập mạnh vào cánh cửa gỗ ọp ẹp.
Rầm! Rầm! Rầm!
- Chú Bảy! Chú Bảy Cang có nhà không? Cháu là Sơn đây, thằng Sơn mới nhận lô mười ba của lão Ba Cường đây!
Tiếng đập cửa của anh vang rền, dội ngược vào vách ván ép rồi tan biến vào khoảng không gian ẩm ướt xung quanh. Bên trong căn lán hoàn toàn không có tiếng động đáp lại. Không có tiếng dép lê lẹp xẹp trên nền gạch tàu, không có tiếng ho húng hắng quen thuộc của một người già nghiện thuốc lào.
Chỉ có tiếng gió rít qua những khe hở trên mái tôn, phát ra những âm thanh u u như tiếng huýt sáo ai oán.
Sơn áp sát trán vào mặt gỗ nham nhở, cất giọng gọi dồn dập hơn, sự sốt ruột pha lẫn hoảng loạn khiến giọng anh vỡ ra khàn đặc:
- Chú Bảy! Mở cửa cho cháu đi! Cháu gặp chuyện rồi, đêm qua ở luống số ba cây ba mươi ba... cái bóng áo nâu đó lại xuất hiện! Chén hứng chảy toàn máu thối với tóc người thôi chú ơi! Lão Ba Cường gạt cháu rồi phải không chú?
Sơn ghé mắt nhìn qua khe hở rộng bằng ngón tay giữa hai cánh cửa gỗ đã co ngót vì năm tháng.
Bên trong căn nhà lờ mờ tối. Ánh sáng vàng vọt ban ngày chỉ lọt qua được vài lỗ thủng nhỏ trên mái tôn, rọi xuống một lớp bụi dày đặc đang lơ lửng trong không khí. Đồ đạc trong phòng thưa thớt và lạnh lẽo đến mức khiến người ta rợn ngực. Một chiếc bàn gỗ con nằm chỏng chơ giữa nhà, bên trên đặt một chiếc ấm tích bọc trong giỏ tre bện, nhưng chiếc ấm đã vỡ toang phần vòi, cáu bẩn một lớp màng nhện dày cộp. Chiếc võng dù màu xanh bộ đội căng ngang giữa hai cây cột cái nằm yên thin thít, chùng xuống sát mặt đất đầy đất cát, hoàn toàn không có dấu hiệu của hơi người hay sự ấm áp của sự sống.
Căn nhà này trông giống như đã bị bỏ hoang từ nhiều tháng trời.
Cơn nghi ngờ nhen nhóm bùng lên thành một nỗi sợ hãi tột cùng trong lòng Sơn. Tuần trước, khi lão Ba Cường dẫn anh đi nhận bàn giao chỉ giới lô mười ba, chính miệng lão già đã bảo rằng nếu gặp bất kỳ điều gì bất trắc trong ca đêm, cứ việc chạy sang căn lán này tìm Bảy Cang xin ý kiến. Lão Ba Cường khẳng định Bảy Cang vẫn ăn ngủ ở đây, vẫn ngày đêm phụ trách việc kiểm tra ranh giới với khu đất cấm của nông trường.
Tại sao một nơi người ở lại hoang tàn đến mức này?
Sơn cắn chặt môi, quyết định đưa tay nắm lấy chốt cài cửa kéo mạnh một cái để nhìn rõ hơn vào bên trong. Nhưng cánh cửa gỗ chỉ nhúc nhích một khoảng chưa đầy nửa đốt ngón tay rồi khựng lại bởi một lực cản cứng ngắc từ bên ngoài.
Sơn cúi đầu nhìn xuống phần then cài nằm ngang tầm thắt lưng mình.
Đập vào mắt anh là một chiếc ổ khóa sắt hình chữ U to bản móc chặt hai vòng khoen kim loại gắn trên mép cửa. Chiếc ổ khóa đã chuyển sang màu nâu đỏ sần sùi của rỉ sét lâu năm. Những lớp rỉ sắt bong tróc kết thành từng mảng lớn, phủ kín cả khe cắm chìa khóa phía dưới đáy. Giữa then cài và thân khóa, những mạng nhện đan xen chằng chịt, bám đầy xác ruồi muỗi khô queo và bụi đất đóng bánh. Rõ ràng chiếc ổ khóa này đã được bấm chặt từ bên ngoài và chưa từng có bàn tay người nào đụng chạm hay mở ra trong suốt một thời gian rất dài.
Ngôi nhà bị khóa trái từ bên ngoài. Người ở bên trong không thể tự khóa cửa như thế này, và Bảy Cang chắc chắn không có mặt trong căn nhà để trả lời tiếng gọi của anh.
Nhưng ngay khi Sơn chuẩn bị buông tay lùi lại, ánh mắt anh bỗng khựng lại ở những đường viền chạy dọc theo khung cửa gỗ.
Trái ngược hoàn toàn với vẻ hoen gỉ, mục nát và bám bụi của chiếc ổ khóa sắt, toàn bộ mép cửa tiếp giáp giữa cánh gỗ và khung bao tường lại dán chằng chịt những dải giấy màu vàng nhạt. Mỗi dải giấy dài chừng một gang tay, rộng hai đốt ngón, được cắt tỉa nham nhở như thể người dán đã làm việc đó trong cơn hấp tấp tột cùng.
Trên bề mặt giấy vàng, những dòng chữ ngoằn ngoèo kỳ dị được vẽ bằng một thứ mực màu đỏ quạch.
Sơn đưa ngón tay run rẩy chạm nhẹ vào mép dải giấy gần nhất.
Đầu ngón tay anh lập tức dính phải một vệt màu đỏ thẫm ươn ướt. Mực chu sa chưa hề khô. Nó vẫn còn dinh dính, sền sệt, bám chặt vào vân tay anh và bốc lên một mùi tanh nồng nặc lấn át cả mùi ẩm mốc của căn nhà hoang. Đó không phải là loại mực chu sa thông thường pha bằng nước hay dầu thông mà người ta hay dùng để viết câu đối ngày Tết. Mùi tanh ngai ngái này mang đậm mùi sắt rỉ pha lẫn mùi máu tươi của động vật sống vừa mới bị rạch cổ.
Những đạo bùa này chỉ vừa mới được dán lên cánh cửa đêm qua.
Các vết mực đỏ chảy ngoằn ngoèo xuống mép gỗ bên dưới, tạo thành những giọt máu đông đặc nửa chừng. Chúng được dán liên tiếp, cái nọ đè lên mép cái kia, bịt kín toàn bộ những khe hở nhỏ nhất thông giữa bên trong căn lán và thế giới bên ngoài. Từng nét vẽ như những con rết uốn éo giận dữ, cuộn tròn lấy nhau thành những biểu tượng phong ấn ma quái.
Có kẻ đã đến đây trong đêm tối.
Kẻ đó đã đứng ngay trên bậc thềm này, ngay trong lúc Sơn đang đối mặt với bóng áo nâu vặn ngược người ở gốc cây số ba mươi ba, và dùng máu tươi cùng chu sa để phong tỏa hoàn toàn ngôi nhà khóa trái này.
Sơn giật thót người rụt tay lại, lùi nhanh xuống một bậc thềm xi măng. Anh vội vã chùi ngón tay dính mực đỏ vào vạt áo bảo hộ, nhưng màu đỏ quạch ấy không phai đi mà thấm sâu vào thớ vải xám, để lại một vệt loang lổ như một vết thương hở miệng.
Gió từ rừng cao su lại thổi thốc qua khoảng sân vắng, làm những dải bùa giấy vàng quanh mép cửa bay phần phật, phát ra những tiếng sàn sạt rợn gáy.
Nếu ổ khóa đã hoen rỉ từ lâu, nghĩa là Bảy Cang đã không còn sinh sống ở căn lán này từ rất lâu trước khi Sơn đặt chân đến nông trường. Lời dặn dò của lão Ba Cường hoàn toàn là một sự lừa dối có chủ đích. Lão bảo Sơn tìm Bảy Cang để làm gì, khi mà chính căn lán của Bảy Cang lại biến thành một cái hầm phong ấn đầy tử khí như thế này?
Ai đang bị nhốt bên trong cánh cửa gỗ kia? Hay đúng hơn, thứ gì bên trong căn nhà đang bị những đạo bùa máu tươi này giam giữ, ngăn không cho bước chân ra ngoài bìa rừng?
Sơn cảm thấy một cơn choáng váng ập đến. Mọi điểm tựa tinh thần mong manh mà anh cố bám víu lấy trong suốt đêm qua sụp đổ hoàn toàn. Bảy Cang không còn ở đây. Không có một người thợ cả nào chờ đợi để chỉ dẫn cho anh cách hóa giải ba điều cấm kỵ, không có ai giải thích vì sao chén hứng lại chảy ra máu đỏ và tóc người, cũng không có ai đứng ra nhận trách nhiệm về bóng ma cạo mủ đi trước một hàng cây.
Anh bị bỏ rơi lại một mình giữa một mạng lưới dối trá được giăng sẵn bởi những kẻ đi trước.
Sơn lảo đảo bước xuống bậc thềm cuối cùng, quay lưng lại với cánh cửa gỗ dán đầy bùa đỏ. Ánh nắng ban ngày đã lên cao, nhưng những tán cao su rậm rạp phía trên đầu dường như nuốt chửng toàn bộ sự ấm áp của mặt trời, chỉ để lại những vệt bóng đen loang lổ lay động trên mặt đất đỏ.
Anh nhận ra rằng mình không thể chạy trốn, cũng không thể tiếp tục tin vào những lời truyền miệng vu vơ của đám công nhân trong đội cạo mủ. Càng nghe theo những chỉ dẫn mập mờ, anh càng lún sâu vào chiếc bẫy chết người mà lão Ba Cường đã để lại ở lô mười ba.
Muốn biết Bảy Cang rốt cuộc đã đi đâu, muốn biết lai lịch thực sự của kẻ mặc áo nâu mang đôi chân trần tím tái và thứ dịch xác rữa đang chảy trong lòng đất kia, anh phải tự mình tìm kiếm câu trả lời từ những ghi chép thật sự.
Ở nông trường này, mọi biến động về nhân sự, mọi tai nạn lao động hay những cái chết bất thường xảy ra trong các lô cạo đều buộc phải ghi lại trong hồ sơ lưu trữ trước khi chuyển giao quyền khai thác qua từng thời kỳ. Nơi duy nhất còn lưu giữ toàn bộ sơ đồ gốc, danh sách công nhân đồn điền và biên bản sự cố của lô số mười ba từ hàng chục năm về trước chính là căn phòng lưu trữ hồ sơ kỹ thuật cũ nằm ở góc khuất phía sau dãy nhà điều hành nông trường.
Sơn siết chặt chùm chìa khóa trong túi quần, các đốt ngón tay trắng bệch vì dùng sức quá mạnh. Anh bước nhanh ra khỏi lối mòn ngập cỏ dại, hướng thẳng về phía dãy nhà điều hành trung tâm khi tiếng còi báo giờ đổi ca sáng của nông trường bắt đầu rúc lên từng hồi chói gắt.