Rừng Cao Su - Chương 12: Vết Dao Ngang Thân Cây
Tiếng còi báo hết ca vang lên từ ống khói nhà máy chế biến mủ, xé toạc màn sương sớm đang bao phủ khu vực trung tâm nông trường. Từng tốp công nhân ca…
Nội dung chương
Tiếng còi báo hết ca vang lên từ ống khói nhà máy chế biến mủ, xé toạc màn sương sớm đang bao phủ khu vực trung tâm nông trường. Từng tốp công nhân ca đêm mặc áo mưa bảo hộ màu xanh sẫm lục tục kéo nhau về phía cổng chính, tiếng cười nói rôm rả xen lẫn tiếng máy nổ giòn tan của những chiếc xe máy chở theo thùng mủ cồng kềnh. Sơn đứng nép mình sau hàng rào dâm bụt rậm rạp bên hông nhà ăn tập thể, chờ cho đám đông thưa dần. Bàn tay anh nắm chặt quai chiếc túi vải cũ, bên trong đựng mấy mẩu dây kẽm uốn cong và chiếc đèn pin thợ mỏ đã tắt ngấm.
Khu nhà điều hành của nông trường gồm hai dãy nhà tách biệt: dãy nhà bê tông hai tầng mới xây dành cho ban giám đốc và các phòng ban hành chính, phía sau là dãy nhà ngói một tầng có từ thời thuộc địa. Nơi đó từng là văn phòng của viên giám đốc đồn điền người Pháp, nay chỉ dùng làm kho chứa vật tư hỏng và phòng lưu trữ hồ sơ kỹ thuật cũ. Rất ít người lai vãng đến khu vực này vào ban ngày, trừ những đợt thanh lý giấy tờ hay kiểm kê định kỳ mỗi năm một bận.
Sơn men theo rãnh thoát nước đã cạn khô phía sau dãy nhà ăn, lách qua đống ván gỗ ép ẩm mục chất cao quá đầu người. Ánh mắt anh dán chặt vào dãy cửa sổ lá sách bám đầy mạng nhện của căn phòng cuối cùng. Nắng sớm rọi xiên qua những tán phượng vĩ cổ thụ, in từng mảng bóng râm loang lổ lên bức tường vàng bong tróc từng mảng lớn để lộ lớp gạch chỉ đỏ sẫm.
Cửa hông phòng lưu trữ khép hờ, bên ngoài móc một ổ khóa đồng cổ lỗ sĩ đã phủ một lớp teng xanh dày cộp. Chốt kim loại gắn vào khung gỗ mục nát đến mức chỉ cần kéo nhẹ là hai con ốc vít lung lay tuột ra khỏi thớ gỗ. Sơn quan sát xung quanh, xác nhận không có bóng dáng nhân viên bảo vệ hay công nhân quét dọn, rồi luồn tay kéo nhẹ cánh cửa sang một bên. Khe hở vừa đủ cho một người lách qua mà không gây ra tiếng cót két quá lớn.
Bên trong phòng tối om và ngột ngạt. Hơi ẩm bốc lên từ nền gạch bông cũ kỹ hòa lẫn với mùi nồng nặc của giấy mục, xác gián khô và phân chuột tích tụ qua nhiều thập kỷ. Sơn đóng hờ cánh cửa lại, giữ cho chốt sắt giữ nguyên vị trí cũ để tránh bị nghi ngờ nếu có người đi tuần ngang qua. Anh lấy từ túi áo ra chiếc đèn pin nhỏ bọc lớp vải thun đen ở đầu chóa để giảm độ sáng, chỉ gom ánh sáng lại thành một vệt tròn gom nhỏ vừa lòng bàn tay.
Căn phòng rộng chừng bốn mươi mét vuông, kê bốn dãy giá sắt hoen rỉ xếp song song. Trên các kệ là hàng trăm chiếc hộp các tông bọc giấy xi măng, bên ngoài dùng mực tàu ghi những ký hiệu viết tắt phai mờ: "Thống kê sản lượng 1978", "Biên bản bàn giao đất 1985", "Hồ sơ kỹ thuật giống PB235". Lớp bụi dày bám trên nóc các hộp chứng tỏ đã rất lâu không có bàn tay người chạm đến.
Sơn bắt đầu tìm kiếm từ dãy kệ trong cùng sát vách tường phía Tây, nơi kê chiếc tủ gỗ lim bốn cánh có hoa văn chạm trổ kiểu Tây phương. Hai cánh tủ trên khóa bằng một thanh sắt cài ngang, bên dưới dán mảnh giấy niêm phong rách nát mang dòng chữ in hoa nhạt nhòa: "Tài liệu lưu trữ đồn điền cũ - Thời kỳ trước 1954".
Thanh sắt cài đã rỉ sét dính chặt vào then chốt. Sơn rút mẩu kẽm dày trong túi quần, tỉ mẩn cạy từng vụn rỉ màu nâu đỏ bám quanh khớp xoay. Đôi bàn tay anh túa mồ hôi lạnh, từng khớp ngón run rẩy sau ca làm việc kiệt sức trong đêm và chuyến đi căng thẳng vừa trải qua bên căn lán hoang của Bảy Cang. Sau năm phút cọ xát cẩn thận, chốt sắt phát ra một tiếng "cạch" khô khốc rồi bật mở.
Cánh tủ mở ra, làm bay lên một đám bụi mù li ti lơ lửng trong luồng sáng hẹp của đèn pin. Bên trong chứa những tập hồ sơ khổ lớn đóng bìa cứng màu xanh đậm, gáy dán vải thô mục nát. Từng trang giấy bản dày cộp, màu vàng úa ngả sang nâu sẫm, mép giấy quăn queo và mủn ra dưới ngón tay. Sơn lần lượt lật qua từng tập: danh sách phu mộ tuyển mộ từ Nam Định, Thái Bình năm 1928; bảng thanh toán tiền công bằng phiếu mua hàng; biên bản xử phạt công nhân trốn trại.
Đến tập hồ sơ thứ tư, bìa ngoài ghi dòng chữ tiếng Pháp viết tay bằng mực tím: *Dossier Technique des Parcelles - Concession Caoutchoutière de Dau Tieng - Secteur Nord 1929-1932*.
Sơn nuốt nước bọt, cẩn thận nhấc tập tài liệu nặng trịch đặt lên một góc bàn gỗ mục gần đó. Anh lật từng trang bản đồ trắc đạc vẽ bằng tay. Nét bút mực nho đen nhánh thể hiện rõ từng lô cao su được phân chia vuông vức như bàn cờ, hai bên đánh số thứ tự từ 1 đến 20 kèm theo các ký hiệu ký thuật: năm xuống giống, mật độ cây, độ sâu mương thoát nước.
Khi ngón tay anh chạm vào trang bản đồ mang số hiệu 13, nhịp tim Sơn đột ngột tăng vọt.
Đó chính là sơ đồ phân lô của khu đất anh đang nhận cạo. Từng mốc tọa độ thực địa hiện lên rõ nét: con đường đất đỏ liên huyện thuở xưa chỉ là đường xe bò kéo, rãnh biên giới giáp bìa rừng nguyên sinh, và ngã ba nơi có con suối cạn cạn trơ đáy vào mùa khô. Nhưng khác hẳn với các lô lân cận vốn được chia thành những luống cây thẳng tắp đều đặn ba mươi cây mỗi hàng, luống số ba của lô 13 trên bản đồ gốc năm 1930 có một khoảng trống hình elip rộng lớn bị gạch chéo bằng mực đỏ tươi.
Giữa khoảng trống ấy, viên trắc địa người Pháp ghi một ký hiệu hình chữ thập kèm dòng chữ viết tắt bằng tiếng Latinh: *Fosse commune - Zone non plantable*.
Hố chôn tập thể. Khu vực cấm canh tác.
Sơn cảm thấy sống lưng mình lạnh buốt. Anh lật tiếp các trang văn bản kẹp ngay sau tấm bản đồ. Đó là những tờ giấy pelure mỏng dính, chữ đánh máy bằng máy chữ cơ học, mực đen đã nhạt bớt nhưng vẫn đọc được từng con chữ ngay ngắn. Một bản báo cáo mật gửi cho viên thanh tra y tế và tổng quản đồn điền Michelin tại Sài Gòn, đề ngày 14 tháng 10 năm 1930.
Bản dịch tóm tắt viết tay bằng chữ quốc ngữ thô sơ ghim kèm phía sau viết:
*"Kính gửi: Tòa Giám đốc Đồn điền.* *Về việc: Xử lý sự cố dịch tả và sốt rét ác tính tại Phân trại 4 (khu rừng ranh giới phía Bắc).*
*Trong đợt tuyển mộ tháng 8 năm 1930, số phu mới đưa từ miền Bắc vào gồm bốn trăm người bị suy dinh dưỡng nặng và nhiễm ký sinh trùng từ trên tàu biển. Khi đến công trường khai phá luống đất số 13, điều kiện khí hậu ẩm thấp kèm sương độc đã bùng phát ổ dịch sốt rét đái ra máu và thổ tả. Chỉ trong vòng mười bảy ngày, số người tử vong lên tới một trăm hai mươi bảy người. Bệnh xá dã chiến hoàn toàn quá tải, thuốc ký ninh cạn kiệt.*
*Do thời tiết mưa dầm liên tục làm tuyến đường xe ngựa ra trung tâm huyện bị chia cắt, xác người chết phân hủy quá nhanh gây nguy cơ lây lan diện rộng sang các lán phu cạo khác. Viên cai quản người bản địa và thầy thuốc đồn điền đã quyết định không đóng hòm gỗ, gom toàn bộ xác người chết chở bằng xe gòn đổ thẳng xuống rãnh thoát nước tự nhiên ở ranh đất luống số ba.*
*Hố chôn dài ba mươi mét, sâu hai mét rưỡi. Trước khi lấp đất, viên giám thị nông học đề xuất rải một lớp vôi bột dày và chôn lấp toàn bộ. Nhận thấy khu đất chứa nguồn hữu cơ đậm đặc, ban nông học đã chỉ thị cho công nhân đào rãnh nhỏ phía trên miệng hố, đặt cây giống cao su tơ loại mới ghép rễ trần trồng trực tiếp lên bề mặt nhằm tận dụng dưỡng chất phân hủy tự nhiên, phục vụ cho việc tăng trưởng nhanh của tán lá.*
*Tuy nhiên, việc cạo mủ thử nghiệm sau bảy năm đã gặp sự cố nghiêm trọng. Mủ từ các gốc cây trồng trên rãnh chôn có màu sắc biến đổi, mùi xú uế tanh tưởi, công nhân cạo mủ ban đêm thường xuyên hoảng loạn bỏ trốn hoặc lên cơn co giật mê sảng. Đề nghị ban quản trị lập biển cảnh báo, xóa bỏ việc đánh số thứ tự luống cạo tại khu vực này để tránh ảnh hưởng đến tâm lý chung của phu đồn điền."*
Tờ giấy run rẩy kẹp giữa hai ngón tay Sơn. Những dòng chữ khô khốc, mang giọng văn lạnh lùng của bản báo cáo kỹ thuật đang bóc trần một sự thật tàn khốc nằm sâu dưới lòng đất suốt gần một thế kỷ.
Hàng trăm mạng người phu cạo chết trong đói rét và bệnh tật không được chôn cất tử tế, không một nấm mồ hay tấm bia khắc tên. Xác của họ bị ném chung xuống một cái rãnh, rải vôi bột sơ sài rồi bị biến thành lớp phân bón lót để nuôi dưỡng những cây cao su tơ đang chuẩn bị vươn rễ cắm sâu vào lòng đất.
Bộ rễ của những cây đại thụ mà Sơn nhìn thấy đêm qua, những thân cây gồ ghề vặn vẹo ở luống số ba, từ cả trăm năm nay đã không ngừng hút lấy máu mủ và thịt xương mục rữa của những con người xấu số đó. Thứ dịch đặc quánh sủi bọt, hôi thối như xác rữa mà Sơn làm vỡ đêm qua không phải là mủ cây bình thường. Đó là máu thịt của người chết hòa tan vào dòng nhựa trắng, luân chuyển qua từng thớ gỗ, đọng lại trên lưỡi máng nhôm rỉ sét mỗi khi có một vết dao cắt ngang qua vỏ cây.
Bỗng nhiên, từ ngoài hành lang vang lên tiếng lẹt xẹt của đôi dép cao su lê trên mặt sàn xi măng.
Sơn giật nảy mình, tim đập thình thịch lên tận cuống họng. Anh vội vã tắt phụt chiếc đèn pin nhỏ, căn phòng lập tức chìm vào bóng tối mờ mờ do ánh sáng ban ngày lọt qua khe cửa lá sách. Tiếng bước chân dừng lại ngay trước cánh cửa hông căn phòng hồ sơ.
Một bóng người in qua khe cửa gỗ. Tiếng chùm chìa khóa va vào nhau lách cách.
Sơn nín thở, ép sát lưng vào bức tường ẩm ướt phía sau chiếc tủ gỗ lim. Tay anh vẫn giữ chặt tập hồ sơ cũ, các cơ bắp toàn thân căng cứng như dây đàn. Tiếng ho khù khụ quen thuộc vang lên bên ngoài cánh cửa. Đó là giọng của ông Tư Râu, bảo vệ già chuyên trực ban ngày ở khu nhà kho cũ.
"Ủa, sao cái chốt cửa này lại lỏng lẻo thế này?" Giọng ông Tư càu nhàu một mình, bàn tay bên ngoài đẩy nhẹ vào cánh cửa.
Khung gỗ mục kêu lên một tiếng răng rắc nhỏ. Sơn đứng im bất động trong góc tối, hai mắt dán chặt vào khe hở le lói ánh sáng. Nếu ông Tư bước vào, chỉ cần rọi một vệt đèn là sẽ thấy ngay chiếc tủ mở toang và dấu chân lấm lem đất đỏ của Sơn in trên nền gạch bông bụi bặm.
Bên ngoài bất chợt có tiếng gọi lớn từ phía nhà ăn:
"Bác Tư ơi! Ra nhận phần cơm sáng của đội bảo vệ này! Để nguội ngắt bây giờ!"
Tiếng bước chân dừng lại. Ông Tư lẩm bẩm chửi thề mấy câu về chuyện mấy con chó hoang hay cào rách then cửa, rồi xoay người bước đi. Tiếng dép cao su lẹt xẹt xa dần về phía sân trước, trả lại cho căn phòng không gian tĩnh lặng chết chóc.
Sơn thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực đau nhói vì nín thở quá lâu. Anh không thể nán lại đây thêm một phút nào nữa. Mở lại luồng sáng đèn pin ở mức nhỏ nhất, Sơn dùng điện thoại chụp lại tấm bản đồ trắc đạc năm 1930 và ba trang báo cáo mật ghi chép về hố chôn tập thể.
Trong bức ảnh chụp cận cảnh trang bản đồ, ánh mắt Sơn đột ngột dừng lại ở một chi tiết kỳ lạ.
Ngay tại tâm của khoảng đất hình elip bị gạch chéo, người vẽ bản đồ đã đánh dấu một vòng tròn kép bằng mực đen, kèm theo một ghi chú nhỏ bằng tiếng Pháp bằng nét chữ rất mảnh: *Arbre repère sans numéro - Point zéro*. Cây mốc không đánh số - Điểm gốc.
Đó là một gốc cây cao su được trồng làm tâm điểm để cắm mốc định vị cho toàn bộ hố chôn, nằm chệch ra ngoài hàng thẳng của luống số ba chừng vài mét. Ở thời điểm hiện tại, nếu các cây cao su xung quanh đã được thay thế qua nhiều chu kỳ thanh lý và trồng lại, gốc cây cổ thụ đó có thể vẫn còn tồn tại như một nhân chứng câm lặng từ thời mở đất.
Sơn cẩn thận xếp các tập hồ sơ lại vị trí cũ, đẩy cánh tủ lim vào chốt sắt rồi gài lại thanh chốt cẩn thận như lúc đầu. Anh trườn người qua khe cửa hông, lách qua đống ván mục và biến mất vào con đường mòn phía sau rãnh nước trước khi toán công nhân quét dọn bước vào khu nhà kho.
Nắng trưa đổ lửa xuống con đường đất đỏ dẫn về dãy lán trọ của công nhân cạo mủ. Cả khu tập thể chìm trong giấc ngủ ngột ngạt sau ca đêm nhọc nhằn, chỉ còn tiếng ve sầu kêu râm ran điếc tai trên những tàng cây me tây.
Sơn ngồi trên chiếc phản gỗ ọp ẹp trong căn phòng trọ chật chội, nhìn chăm chú vào màn hình điện thoại đang hiển thị tấm bản đồ phóng to. Những hình dung về đêm đầu tiên, bóng người mặc áo nâu cũ kỹ đi trước một hàng cây, nhịp dao rọc vỏ cây sột soạt trong sương mù dày đặc, và thứ dịch sền sệt có mùi tử khí bốc lên từ chiếc chén sành vỡ... tất cả những mảnh ghép rời rạc bấy lâu nay bỗng chốc khớp lại với nhau thành một bức tranh rùng rợn.
Bóng người đó không phải là công nhân đang sống. Đó là một linh hồn bị vùi dập dưới rễ cây từ năm 1930, một kẻ đã chết nhưng bàn tay vẫn không ngừng lặp lại công việc cắt rạch vỏ cây trong bóng tối triền miên.
Và lão Ba Cường biết rõ điều đó. Lão đã nhượng lại ca cạo ở lô 13 cho Sơn không phải vì thương tình kẻ mới vào nghề cần tiền, mà là để tìm một kẻ thế mạng, gánh thay lão món nợ truyền kiếp với những oan hồn nằm dưới lòng đất bazan. Ba điều cấm kỵ của lão thực chất là cách để sống sót qua từng đêm cạo, nhưng chính sự câm lặng của lão đã biến những người mới đến thành những con mồi mù quáng.
Sơn nhìn xuống đôi bàn tay mình. Lớp da ngón tay vẫn còn vương lại chút màu đỏ quạch của mực chu sa từ cánh cửa dán bùa của Bảy Cang ban sáng. Căn lán bị khóa trái bằng bùa máu, người thợ cả mất tích, và hồ sơ về hố chôn tập thể bị giấu kín suốt gần một thế kỷ. Mọi dấu vết đều dẫn ngược trở lại một điểm xuất phát duy nhất: gò đất nằm ở luống số ba của lô 13.
Chiếc đồng hồ treo tường điểm mười hai giờ trưa. Kim đồng hồ nhích từng nhịp tích tắc khô khốc, đếm ngược thời gian đến ca cạo tiếp theo.
Sơn không hề cảm thấy sợ hãi như đêm hôm trước nữa. Thay vào đó là một sự thôi thúc dữ dội, một nỗi ám ảnh đè nặng lên từng suy nghĩ. Anh cần phải biết những gì thực sự đang nằm dưới gốc cây không đánh số ấy. Đêm nay, khi tiếng còi báo ca một giờ sáng rúc lên và sương mù lại tràn qua các thung lũng thấp, anh sẽ không chỉ cạo mủ kiếm tiền theo sự dẫn dụ mù quáng của lão Ba Cường.
Anh sẽ bước vào luống số ba, tìm đến điểm gốc bị gạch chéo trên tấm bản đồ năm 1930, để tận mắt đối diện với nấm mồ tập thể đang cựa mình dưới những thớ vỏ cao su rớm máu.