Sau Bức Màn Nhung - Chương 13: Khán Giả Bỏ Về Lúc Nửa Đêm

Tiếng rít chói gắt xé toạc lớp không khí ngột ngạt của gian đình, dội thẳng vào màng nhĩ của từng người có mặt dưới sàn gạch. Đó không phải là một câu…

Nội dung chương

Tiếng rít chói gắt xé toạc lớp không khí ngột ngạt của gian đình, dội thẳng vào màng nhĩ của từng người có mặt dưới sàn gạch. Đó không phải là một câu vọng cổ, cũng chẳng phải lời thoại bi ai của nàng Thanh Xà trong điển tích. Nó là âm thanh của một loài bò sát nhớp nháp rúc lên từ kẽ đá sâu hoắm, sắc nhọn, tanh tưởi và lạnh toát.

Loan muốn ngậm chặt miệng lại. Cô cắn cơ hàm, gồng cứng khớp thái dương, dồn hết ý chí còn sót lại để kéo hai bờ môi khép vào nhau, che đi cái lưỡi chẻ đôi quái gở đang không ngừng run rẩy thè ra thụt vào. Nhưng cơ mặt của cô trơ lỳ như một tấm da thuộc phơi khô. Hai bên xương hàm vẫn bạnh ra ở một góc độ sai lệch ghê rợn, giữ chặt lấy vòm miệng mở toang. Từng đợt dịch vị lờ lợ trào dâng nơi cuống họng, chảy tràn qua mép, nhỏ xuống vạt áo lụa xanh màu ngọc bích những giọt nhờn dính bốc mùi tanh nồng của bùn lầy sông Tiền.

Cơn chấn động quét qua toàn bộ gian tiền đường của đình Tân Phước.

Hàng trăm khuôn mặt phía dưới bắt đầu tan biến nét đờ đẫn vô hồn. Sự cứng nhắc kỳ quặc ban nãy lập tức bị xé vụn bởi một nỗi kinh hãi tột cùng. Một người đàn bà ngồi ở dãy ghế đẩu thứ hai bỗng hét lên một tiếng the thé, hai tay ôm chặt lấy ngực rồi ngã nhào ra phía sau. Chiếc ghế gỗ lật ngửa, đập mạnh xuống nền gạch tàu phát ra tiếng vang khô khốc.

Tiếng hét ấy tựa như một mồi lửa ném thẳng vào đống rơm khô.

"Ma! Rắn nhập... rắn nhập rồi!"

"Trời ơi, cái mồm con đào... lưỡi nó xẻ đôi kìa!"

Những tiếng la hét hoảng loạn bắt đầu nổ ra dồn dập từ khắp các góc đình. Đám đông khán giả vốn ngồi san sát nhau bỗng chốc vỡ trận. Người ta giẫm đạp lên nhau, tranh nhau quay lưng tháo chạy về phía ba cánh cửa vòm lớn hướng ra bờ sông. Ghế đẩu bị xô ngã ngổn ngang, guốc mộc, nón lá, khăn rằn rơi rớt đầy mặt đất. Cảnh tượng hỗn loạn bùng lên chỉ trong chớp mắt. Những người đàn ông lực lưỡng không còn bận tâm đến vợ con, thô bạo gạt phăng những người già chắn đường để lao ra ngoài bóng đêm. Tiếng trẻ con gào khóc lạc giọng bị tiếng chân rầm rập và tiếng la hét đè bẹp dí.

Loan đứng chết trân giữa quầng sáng trắng đục của ngọn đèn măng-sông. Cô nhìn thấy sự hỗn loạn bên dưới bằng đôi mắt cay xè mờ mịt. Khán giả của cô, những người vài phút trước còn chen chúc mong ngắm nhìn nhan sắc của nàng đào chính mới nổi, giờ đây đang giẫm đạp lên nhau chỉ để thoát khỏi cô càng xa càng tốt. Họ nhìn cô bằng ánh mắt kinh tởm tột bực, như thể đang nhìn một cái xác chết trôi trương phình vừa đội mồ sống dậy.

"Quay lại... đừng chạy..."

Loan muốn gào lên lời thanh minh, muốn van nài họ nán lại để cô hát trọn câu mở màn, nhưng vòm họng trơ khấc của cô chỉ phát ra một chuỗi thanh âm ma quái:

"Khè... khè... è..."

Âm thanh đó càng làm cho đám đông phía dưới phát điên. Làn sóng người xô đẩy dữ dội hơn, dồn ứ lại nơi ngạch cửa gỗ lim. Một vài thanh niên nhảy tót qua bậu cửa sổ chấn song gỗ, liều mạng lao mình xuống khoảng sân gạch đầy rêu trơn trượt để tìm đường thoát thân. Không khí trong ngôi đình cổ ngập tràn mùi mồ hôi chua loét, mùi dầu gió hăng nồng và nỗi khiếp đảm nguyên thủy của con người trước những điều tà dị ngoài tầm hiểu biết.

Bên cánh gà, Bầu Ba Đạt run rẩy đến mức hai đầu gối va vào nhau kêu lách cách. Bàn tay ông ta bấu chặt vào tấm rèm nhung đỏ thêu rồng phượng đến rách toạc cả đường chỉ kim tuyến. Người đàn ông lăn lộn nửa đời người qua hàng trăm bến sông, từng đối mặt với biết bao biến cố giang hồ, lúc này mặt mày xám ngoét như người chết trôi. Ông ta nhìn chằm chằm vào cái miệng đang rỉ nước vàng nhờn dính của Loan, đôi môi mấp máy không thốt nên lời.

"Kéo... kéo màn lại! Mau lên tụi bây!" Bầu Ba Đạt gầm lên một tiếng khản đặc, giọng ông ta run rẩy đến mức lạc hẳn đi. "Thằng Tư, thằng Hậu đâu rồi? Buông màn nhung xuống! Ngắt điện rọi mau!"

Không một ai đáp lời ông ta. Đám thợ phụ đài, những kẻ chịu trách nhiệm kéo dây ròng rọc và chỉnh đèn, từ lúc nào đã vứt bỏ dây chão mà tháo chạy theo đám đông khán giả. Căn buồng nhỏ sau cánh gà trống hoác, chỉ còn lại những chiếc thùng tôn đựng phục trang nằm ngổn ngang và đống dây điện chằng chịt như mạng nhện.

Ở góc dàn nhạc tài tử, Ba Đờn vẫn ngồi bất động như một khối đá tạc giữa khói nhang. Hai bàn tay gầy guộc của ông buông thõng trên đầu gối, mười đầu ngón tay khẳng khiu co quắp lại như cành củi khô. Nhưng kỳ quái thay, cây đàn kìm đặt trên đùi ông vẫn không hề ngừng lại. Từng sợi dây đàn bằng kim loại mảnh dẻ tự rung lên bần bật, uốn lượn dưới một lực tác động vô hình nào đó trong không khí. Những nốt nhạc sắc lẹm, chát chúa tiếp tục bắn ra, gieo rắc giai điệu Nam Ai ai oán vào không gian hỗn loạn. Tiếng đàn không theo bất kỳ bài bản thông thường nào nữa, nó giật cục, gắt gỏng, nghe tựa như tiếng cười cợt the thé của loài ma đói đang vây quanh một bàn tiệc tanh tưởi.

Loan run rẩy bước lùi lại một bước. Gót chiếc hài nhung thêu cườm va phải một mẩu gỗ vụn trên sàn bục diễn, khiến cô lảo đảo mất thăng bằng.

Một cơn buốt nhói đột ngột xông thẳng từ xương cụt chạy dọc lên tận đỉnh đầu. Loan khuỵu hai đầu gối xuống mặt sàn gỗ mun. Cú va chạm mạnh khiến khớp xương bánh chè của cô đau điếng, nhưng nỗi đau thể xác ấy chẳng thấm tháp vào đâu so với cảm giác nhớp nháp đang bám chặt trên da đầu. Thứ chất dịch rỉ ra từ chân chiếc trâm cài bằng đồng thau nãy giờ đã lan rộng khắp chân tóc, chảy thành từng vệt dài men theo hai bên thái dương, tẩm đẫm lớp phấn son dày cộm và rớt từng giọt lộp độp xuống sàn gỗ.

Nơi nào chất lỏng đó rớt xuống, mặt gỗ mun lập tức sủi bọt trắng li ti, bốc lên làn khói mỏng mang mùi cá thối khẳm lặm.

Loan run lẩy bẩy giơ hai bàn tay lên. Đôi bàn tay từng được cô nâng niu, thoa kem dưỡng da đắt tiền mỗi tối, giờ đây đang cứng đờ lại. Các khớp ngón tay co quắp, da thịt bắt đầu lạnh ngắt và xám xịt như da người chết. Cô cố gắng dùng đầu ngón tay chạm vào chiếc trâm cài tóc trên đỉnh đầu để giật nó ra, nhưng cánh tay cô nặng trịch như đeo chì, chỉ nâng lên được nửa chừng rồi rơi thõng xuống mặt sàn.

Dưới sàn đình, đám đông đã tháo chạy được một nửa. Nhưng ngay tại ngưỡng cửa vòm lớn nhất, một người đàn ông trung niên bỗng đứng khựng lại. Ông ta không nhìn về phía lối thoát, cũng không nhìn Loan, mà hai mắt trợn trừng, cánh tay run rẩy giơ thẳng ngón trỏ hướng lên phía nóc đình cao vút.

"Kìa... nhìn kìa! Trời Phật ơi, trên xà rạp!"

Tiếng hét xé lòng của người đàn ông làm chấn động cả những kẻ đang điên cuồng chen lấn. Một vài người theo phản xạ dừng chân lại, ngơ ngác ngước mắt nhìn theo hướng ngón tay chỉ trỏ của ông ta.

Loan quỳ rạp trên sàn gỗ, lồng ngực phập phồng thở dốc, cũng run rẩy ngước nhìn lên theo một linh tính mách bảo rợn người.

Gian tiền đường của đình Tân Phước được dựng bằng những thân gỗ lim đen bóng, vững chãi trải qua cả trăm năm mưa nắng. Trên trần đình, những thanh xà ngang to bằng cả thân người ôm đan xen chằng chịt trong bóng tối lờ mờ, nơi ánh đèn măng-sông màu trắng đục chỉ có thể chiếu tới một cách yếu ớt. Khói hương trầm từ bàn thờ gian chính điện trôi dạt ra đây, lượn lờ bao phủ quanh các vì kèo bằng những dải sương mờ đùng đục.

Ngay trên thanh xà ngang lớn nhất, nằm vắt ngang qua khoảng không phía trên bục diễn và hàng ghế đầu, có hai bóng đen nhỏ thó đang ngồi.

Loan mở to đôi mắt sưng húp, cố định thần nhìn xuyên qua làn khói mỏng. Toàn bộ huyết dịch trong người cô như đông cứng lại thành đá tảng.

Đó là hai đứa trẻ.

Chúng trạc chừng bảy, tám tuổi, thân hình gầy guộc, teo tóp đến mức nhìn rõ từng rẻo xương sườn nhô ra dưới lớp vải áo mỏng manh. Chúng không đứng, mà ngồi vắt vẻo trên thanh gỗ lim cổ kính, hai cẳng chân trần khẳng khiu buông thõng xuống khoảng không trung, đung đưa nhịp nhàng qua lại theo từng nốt gảy ai oán của cây đàn kìm bên dưới cánh gà.

Đứa ngồi bên trái khoác trên mình bộ xiêm y lụa màu trắng toát. Tấm áo thụng rộng thùng thình, phủ dài quá đầu gối, mép vải rách bươm và bám đầy những vệt bùn đất khô khốc màu xám xịt. Vạt áo trắng lay động nhè nhẹ dù trong gian đình lúc này không hề có một ngọn gió nào lọt vào. Đứa ngồi bên phải mặc một bộ võ phục màu đen tuyền, bó sát lấy thân hình da bọc xương, trên ngực thêu một đường vân rắn uốn lượn bằng chỉ bạc đã ố màu thời gian.

Một Bạch Xà. Một Hắc Xà.

Hai bộ trang phục ấy Loan biết rất rõ. Đó chính là kiểu thức phục trang cổ truyền dành cho hai tiểu đồng theo hầu trong các vở tuồng Thần Xà xưa cũ, những vai diễn phụ đã biến mất khỏi kịch bản của các gánh hát Nam Bộ từ mấy mươi năm về trước. Không ai còn may những bộ đồ bằng vải xô thô ráp với đường cắt vụng về như thế này nữa.

Kinh hoàng hơn cả là khuôn mặt của hai đứa trẻ.

Khuôn mặt chúng được trét một lớp phấn hóa trang dày cộm, trắng bệch một cách ma quái, trắng như màu vôi quét tường mới khô, không hề có một chút sắc hồng của máu thịt con người. Lớp phấn ấy không mịn màng, mà nứt nẻ thành từng mảng nhỏ li ti, tróc lở quanh khóe mắt và cánh mũi, để lộ ra làn da xám ngoét, bủng beo như da thịt của những kẻ bị chết đuối lâu ngày dưới đáy bùn sông Tiền.

Đôi mắt của cả hai đứa đều không có tròng đen rõ rệt. Hai hốc mắt sâu hoắm, trũng xuống như hai cái hố tối tăm, bên trong chỉ le lói hai chấm sáng màu vàng đục như mắt của loài rắn nước lúc rình mồi trong đêm. Quanh khóe mắt chúng, người ta vẽ những đường viền mực tàu đen sì, kéo dài xếch ngược lên tận thái dương, tạo thành một vẻ mặt vừa ma mị vừa hung tợn.

Đôi môi của hai đứa trẻ đỏ chót một cách bất thường. Màu đỏ tươi rói, ươn ướt như vừa mới được chấm bằng máu tươi chưa kịp ráo.

Khi ánh mắt của Loan chạm phải hai bóng hình trên xà rạp, đứa trẻ áo trắng bỗng nghiêng đầu sang một bên. Động tác của nó vặn vẹo một góc chín mươi độ, các đốt sống cổ phát ra một tiếng *khục* khô khốc vọng xuống không gian tĩnh lặng. Nó nhoẻn miệng cười.

Nụ cười nham nhở, kéo toạc vòm miệng nó sang tận hai bên mang tai. Bên trong khuôn miệng đỏ lòm ấy, hàm răng nham nhở những chiếc răng con nhọn hoắt, đen sì cáu bẩn.

Ngay bên cạnh, đứa trẻ áo đen cũng bắt đầu cử động. Nó không cười toét miệng như đứa áo trắng, mà chỉ nhếch mép lên một cách khinh bỉ. Đôi bàn tay gầy như que củi của nó chầm chậm giơ lên, những móng tay dài đen đúa quắp lại, bắt chước từng thế múa tay của đào chính lúc ra sân khấu. Nó đảo tròn cổ tay một cách dẻo quẹo, các khớp xương ngón tay kêu lách cách theo nhịp đàn Nam Ai.

"Hi... hi... hi..."

Một tràng cười the thé, sắc như dao cạo bỗng rớt xuống từ nóc đình. Âm thanh ấy mỏng manh nhưng buốt nhọn, xoáy thẳng vào óc Loan, làm hai tai cô ù đi đặc quánh.

Đó là tiếng cười của con nít, nhưng không hề mang theo chút ngây thơ nào. Nó chất chứa sự giễu cợt độc địa, sự đắc thắng man rợ của những oan hồn đang thưởng ngoạn một trò hề đẫm máu.

"Trời ơi! Quỷ... quỷ rạp hát!"

Tiếng hét thất thanh của đám đông bên dưới lại bùng lên dữ dội hơn gấp bội. Những người vừa dừng lại nhìn lên nóc đình lập tức ngã dúi dụi vì hoảng loạn. Họ không còn dám nhìn lên xà gỗ thêm một lần nào nữa, cắm đầu cắm cổ xô đẩy nhau chạy tháo thân. Cánh cửa gỗ lim phát ra những tiếng rầm rầm rung chuyển khi hàng chục con người cùng lúc ép mình chen qua khe cửa hẹp. Có người vấp ngã bị giẫm đạp lên người, tiếng khóc than, tiếng chửi bới, tiếng kêu cứu hòa lẫn vào nhau tạo thành một mớ âm thanh hỗn độn như địa ngục trần gian.

Bầu Ba Đạt ôm lấy đầu, lùi dần vào bóng tối sâu hun hút của cánh gà. Đôi mắt ông ta dán chặt lên xà rạp, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Là người làm nghề mấy mươi năm, ông ta hiểu quá rõ hai cái bóng kia là gì. Đó không phải là người sống, cũng không phải trò đùa của đám trẻ con nghịch ngợm trong làng. Đó là đôi oan hồn hầu Tổ trong truyền thuyết gánh hát, những kẻ chỉ xuất hiện khi có kẻ phạm vào đại kỵ nơi thánh đường nghệ thuật.

"Loan ơi là Loan... mày rước họa vào thân rồi con ơi..." Bầu Ba Đạt lẩm bẩm trong tuyệt vọng, giọng nói run rẩy chìm lút vào bóng tối sau tấm màn nhung thêu rồng phượng. Ông ta không dám bước ra bục gỗ để kéo cô vào, nỗi sợ hãi cái chết đã bóp nghẹt chút tình nghĩa thầy trò cuối cùng trong lòng người chủ gánh.

Chỉ trong vài phút ngắn ngủi, toàn bộ gian tiền đường rộng lớn của đình Tân Phước đã sạch bóng người sống.

Khán giả đã tháo chạy hết ra ngoài sân đình, tiếng bước chân vội vã xa dần rồi chìm hẳn vào tiếng sóng vỗ ì oạp của dòng sông Tiền dưới chân bến đò. Dàn nhạc tài tử đã bỏ chạy từ lúc nào, những chiếc ghế đẩu trống trơn, những cuốn tập chép bài bản cải lương vương vãi trên nền gạch lấm lem bụi đất. Đèn đuốc xung quanh đình bị gió đêm tạt tắt ngấm, chỉ còn trơ trọi một ngọn đèn măng-sông treo giữa rạp đang rít lên từng hồi xì xì yếu ớt, tỏa ra thứ ánh sáng nhợt nhạt, ma quái bao phủ lấy bục diễn.

Loan bị bỏ lại một mình.

Cô quỳ rạp trên sàn gỗ mun lạnh ngắt, trơ trọi giữa một sân khấu hoang tàn như bãi tha ma. Xiêm y lộng lẫy màu xanh ngọc bích giờ đây nhăn nhúm, dính đầy bụi bẩn và dịch nhầy hôi thối. Cô muốn đứng dậy, muốn nhấc đôi chân lên để chạy trốn khỏi khoảng không chết chóc này, nhưng toàn bộ phần thân dưới của cô dường như đã biến mất khỏi ý thức. Từ thắt lưng trở xuống, hai chân cô tê dại hoàn toàn, dính chặt lấy mặt sàn như bị đóng đinh.

Cây đàn kìm ở góc cánh gà vẫn không chịu dừng lại. Những nốt nhạc tự gảy trở nên dồn dập hơn, điên loạn hơn, réo rắt như thúc giục một bản án tử hình.

Trên xà ngang bằng gỗ lim, hai đứa trẻ mặt trắng bệch vẫn ngồi vắt vẻo đung đưa đôi chân trần.

Đứa áo trắng bỗng ngừng cười. Nó cúi gập người xuống, hai cánh tay dài ngoằng buông thõng giữa khoảng không, mười ngón tay đen đúa chĩa thẳng vào đỉnh đầu Loan. Đôi mắt vàng đục của nó trừng trừng nhìn xoáy vào mặt cô, khóe miệng đỏ lòm từ từ mấp máy, nhả ra từng âm thanh thì thầm lạnh buốt như gió bấc luồn qua kẽ vách:

"Mượn áo... giả thần..."

Đứa áo đen lập tức hòa giọng, tiếng nói the thé rợn người dội ngược vào các góc tối của mái đình cổ kính:

"Đoạt ngôi... đền mạng..."

Âm thanh ma quái ấy vừa dứt, một giọt nước lạnh ngắt từ trên xà rạp bỗng rơi thẳng xuống trán Loan. Nó tanh tưởi, mằn mặn và buốt nhói như một giọt băng tan. Loan run rẩy ngước mắt lên, và cô nhìn thấy đôi mắt màu vàng đục của đứa trẻ áo trắng đang từ từ rỉ ra hai dòng máu đỏ thẫm, chảy ròng ròng trên lớp phấn vôi nứt nẻ.

Chương khác

Xem thêm