Sau Bức Màn Nhung - Chương 15: Đàn Chị Bạch Vân Quay Lại
Gió luồn qua khe liếp của chái đình phía tây mang theo mùi bùn non tanh nồng từ mé sông Tiền. Loan ngồi co ro trên chiếc phản gỗ tạp kê sát vách đất nứt…
Nội dung chương
Gió luồn qua khe liếp của chái đình phía tây mang theo mùi bùn non tanh nồng từ mé sông Tiền.
Loan ngồi co ro trên chiếc phản gỗ tạp kê sát vách đất nứt nẻ, hai đầu gối kéo sát tận cằm. Chiếc chăn nỉ con công rách mép, bốc mùi ẩm mốc của những chuyến lưu diễn triền miên được cô quấn chặt quanh người, nhưng từng đợt run rẩy vẫn không ngừng chạy dọc sống lưng. Dưới lớp da thịt ở bắp chân và mạn sườn, những cơn nhói buốt vẫn giật giật từng chập, gợi lại cảm giác rát bỏng của những mảng vảy cứng vừa lặn đi sau khi cô được đám thợ đạo cụ kéo ra khỏi đống vải màn nhung đổ sập.
Cổ họng cô rát khô, mỗi lần nuốt nước bọt lại thấy đắng nghét mùi lưu huỳnh lẫn với tro nhang.
Phía gian giữa chái đình, chiếc đèn măng-sông treo trên một sợi xích sắt đang phì phì phun lửa. Ánh sáng vàng đục, chập chờn chiếu lên những gương mặt méo mó vì khiếp hãi của cả gánh hát Phương Loan. Đào kép, nhạc công cho tới chân chạy việc vặt đều tụ tập đông đủ, không một ai dám cởi bỏ trang phục diễn hay tẩy trang tử tế. Lớp phấn trắng, son đỏ trên mặt họ bị mồ hôi nhễ nhại xói thành từng vệt lem nhem, biến họ thành những hình nhân quái gở ngồi chen chúc nhau trên những chiếc rương gỗ xiêu vẹo.
Họ đang sợ. Cả đời đi hát miệt vườn, chưa từng có ai chứng kiến một đêm hát kinh hoàng đến bực này. Cây đàn kìm buông dây tự gảy khúc biệt ly, đào chính đứng giữa sân khấu phát ra tiếng phì phò của loài rắn độc, rồi hai đứa trẻ mặt vôi ngồi vắt vẻo trên xà lim buông lời nguyền rủa ngay trước mắt hàng trăm bá tánh. Khi bức màn nhung nặng cả trăm ký đứt cáp rơi xuống bục gỗ, đám đông đã giẫm đạp lên nhau chạy tháo thân ra khỏi cổng đình như chạy giặc.
"Lạy Tổ, lạy Thầy, trăm lạy mười phương chư vị tiền hiền hậu hiền..."
Bạch Vân quỳ sụp dưới chân bàn thờ Tổ nghề tạm bợ kê bằng hai chiếc thùng phuy sắt. Chị vẫn mặc nguyên bộ áo giáp gấm đỏ thêu kim tuyến của vai diễn dở dang, hai bàn tay chắp chặt trước ngực, trán dập liên hồi xuống nền gạch tàu lạnh ngắt. Mái tóc giả xộc xệch phủ xõa xuống bờ vai gầy guộc đang rung bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào. Cạnh chị, mấy cô đào phụ trẻ tuổi cũng cắm cúi vái lạy, miệng lẩm bẩm những lời sám hối rời rạc, hương khói nghi ngút bốc lên khiến bầu không khí đặc quánh lại, ngột ngạt đến nghẹt thở.
Bầu Ba Đạt ngồi bệt ở bậu cửa, điếu thuốc rê trên tay đã tàn rụi từ lâu nhưng ngón tay ông ta vẫn giữ khư khư. Mắt ông ta đỏ ngầu, nhìn trừng trừng vào khoảng tối mịt mùng ngoài sân đình rêu phong. Cơ nghiệp ba đời của gánh Phương Loan chỉ sau một đêm diễn đã đứng trước bờ vực tan hoang. Người trong làng Tân Phước đêm nay chắc chắn sẽ đồn ầm lên rằng đoàn hát rước tà ma về xúc phạm thánh thần nơi đình làng cổ.
Bỗng một tiếng đập bàn chát chúa vang lên giữa gian chái.
"Đứng hết dậy cho tôi!"
Bầu Năm - người quản lý hậu đài và nề nếp kỷ cương của cả đoàn hát - bước ra giữa vầng sáng đèn măng-sông. Gương mặt vuông vức sạm đen vì sương gió của ông ta đanh lại, đôi mắt sắc lẻm quét qua từng người đang ngồi co cụm. Bầu Năm là bậc tiền bối theo đoàn từ thời ông nội Loan còn làm bầu, tính tình nghiêm khắc và rành rẽ từng lệ tục ngầm của giới cầm ca.
"Khóc lóc với lạy lục cái gì nữa?" Giọng Bầu Năm khàn đục nhưng đanh thép xé toạc tiếng gió rít qua mái ngói. "Tổ nghiệp không bao giờ vô cớ giáng tội nặng nề như đêm nay. Đàn tự gảy, màn sập đè người, hai vị hầu Tổ hiện hình đòi mạng... Đó là điềm gánh hát có đứa làm chuyện ô uế, phạm vào đại cấm kỵ của thánh đường!"
Cả gian chái đình im phăng phắc. Chỉ còn tiếng phì phì đều đặn của bấc đèn và tiếng dế rúc thê lương từ các góc tường ẩm mốc.
Loan siết chặt góc chăn nỉ, mười đầu ngón tay bấu sâu vào lớp vải thô ráp đến mức bật máu. Tim cô đập thình thịch từng nhịp nặng nề nơi lồng ngực. Cô thu mình sâu hơn vào góc tối của chiếc phản gỗ, cố gắng thu nhỏ thân hình lại để không ai chú ý đến mình. Cảm giác tội lỗi lẫn sợ hãi biến thành một tảng đá đè nặng lên cuống họng, khiến cô thở không ra hơi.
Chiều nay, chính tay cô đã lén mang thứ trái cây cấm kỵ ấy vào hậu trường.
Chính cô, vì lòng đố kỵ hẹp hòi trước vai diễn của Bạch Vân, đã nhét vật đó vào rương phấn của đàn chị rồi còn bỡn cợt buông lời bất kính trước bàn thờ Tổ vắng người. Khi ấy, cô chỉ nghĩ đơn giản là muốn Bạch Vân bị mất giọng, muốn hạ bệ người đàn bà đã đứng ở ngôi vị đào chính suốt mười hai năm qua để chiếm lấy vầng hào quang sân khấu. Cô chưa từng nghĩ sự trừng phạt của cõi vô hình lại kinh khủng và tàn khốc đến mức này.
"Bác Năm nói phải..." Bầu Ba Đạt lúc này mới ngẩng đầu lên, giọng run rẩy xen lẫn cay đắng. "Mấy mươi năm gánh hát đi khắp các tỉnh miền Tây, chưa bao giờ gặp phải cảnh tượng rùng rợn dường này. Chắc chắn có đứa đem đồ ô uế vào quấy quả nơi linh thiêng."
Bầu Năm quay sang đám nhân viên hậu đài, chỉ tay dứt khoát:
"Thằng Tám, thằng Lượm! Khóa chặt cửa chái đình lại. Đêm nay không ai được bước chân ra ngoài nửa bước. Tất cả rương phục trang, rương đạo cụ, rương phấn son của từng người một... bưng hết ra giữa gian chái cho tôi!"
Tiếng xì xào hoảng hốt rộ lên. Mấy người đào kép nhìn nhau ngơ ngác, nhưng nhìn vẻ mặt sắt đá của Bầu Năm, không ai dám cãi nửa lời. Hai người thợ hậu đài vội vã chạy ra cài chặt then cài bằng gỗ lim của hai cánh cửa lớn, rồi bắt đầu đi quanh các góc chái đình, khuân từng chiếc rương gỗ nặng trịch xếp thành một hàng dài trước bục đèn.
Từng chiếc khóa sắt gỉ sét được mở ra với những tiếng lách cách khô khốc.
Loan cắn chặt môi dưới, đau đến ứa máu mà không dám buông lỏng cơ mặt. Đôi mắt cô trừng trừng nhìn theo từng bước chân của Bầu Năm. Chiếc rương của Bạch Vân được sơn màu đỏ thẫm, các góc bọc đồng sáng loáng, đang nằm ngay ở vị trí thứ ba trong dãy rương.
Bầu Năm xắn cao tay áo bà ba đen, bắt đầu lục soát từ chiếc rương đầu tiên của kép chính Minh Sang. Từng bộ áo bào thêu chỉ vàng, từng chiếc mão đính ngọc giả, khăn đóng, thắt lưng được lôi ra tỉ mỉ. Bầu Năm kiểm tra từng lớp lót bên trong, ngửi từng nếp vải, thậm chí rọi đèn pin vào tận các kẽ gỗ để xem có giấu bùa chú hay những vật dơ bẩn hay không.
"Rương Minh Sang sạch." Bầu Năm lạnh lùng phán, đẩy đống đồ sang một bên.
Chiếc rương thứ hai là của đào nhì Thu Cúc. Những xấp lụa màu cánh sen, gương lược, hộp phấn bông lúa được dọn ra nhanh chóng. Không có gì khả nghi.
Bầu Năm bước đến trước chiếc rương gỗ đỏ của Bạch Vân.
Loan nín thở hoàn toàn. Bàn tay cô run lẩy bẩy dưới lớp chăn nỉ, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán và sống lưng. Cô muốn nhắm nghiền mắt lại, muốn trốn chạy khỏi thực tại tàn nhẫn này, nhưng ánh nhìn của cô lại bị chiếc rương hút chặt, không tài nào dời đi được.
Bạch Vân vẫn đang quỳ dưới đất, nghe tiếng Bầu Năm mở nắp rương của mình thì ngẩng gương mặt nhợt nhạt lên. Chị khẽ cất giọng thều thào:
"Bác Năm... đồ đạc của con trước giờ đều do chính tay con sắp đặt. Mỗi lần diễn xong đều xông trầm, lau chùi cẩn thận, chưa bao giờ dám để vấy bẩn..."
"Cứ để bác kiểm tra." Bầu Năm ngắt lời, giọng không hề giảm đi sự nghiêm nghị. "Đêm nay ai cũng phải qua tay bác. Đừng trách bác khó khăn, mạng của mấy chục con người trong gánh hát đang treo trên sợi tóc."
Nắp rương gỗ đỏ bật mở ra một tiếng "cót két" nặng nề.
Mùi trầm hương phảng phất bay ra, hòa lẫn với mùi vải vóc mới giặt. Bên trên cùng là bộ áo dạ hội kim tuyến lấp lánh và chiếc áo choàng nhung xanh ngọc bích mà Bạch Vân thường mặc trong những cảnh diễn bi tráng. Bầu Năm cẩn thận nhấc từng bộ xiêm y ra đặt lên chiếc bàn gỗ bên cạnh. Đôi mắt già nua của ông ta soi xét từng đường kim mũi chỉ, lật từng lớp nẹp áo.
Mọi thứ dường như vẫn bình thường cho đến khi Bầu Năm nhấc chiếc khay đựng phấn son bằng nhôm ở ngăn giữa ra.
Một luồng gió lạnh bất thần tạt qua khe liếp, làm ngọn lửa đèn măng-sông chao đảo dữ dội. Bóng của Bầu Năm đổ dài trên vách đất, vặn vẹo như một bóng ma khổng lồ.
Ngay dưới đáy rương, bên dưới lớp vải lụa điều lót đáy đã ngả màu ố vàng, một mùi hương kỳ dị bỗng bốc lên. Ban đầu, đó là thứ mùi thơm nồng nặc, ngọt lịm đến gay gắt của hoa quả chín nẫu, nhưng chỉ trong chớp mắt sau đó, nó biến đổi thành một thứ mùi thối rữa, tanh tưởi đến lợm giọng, giống như mùi của xác động vật chết thối lâu ngày dưới bùn lầy.
Đám người ngồi xung quanh bắt đầu nhăn mặt, đưa tay lên bịt mũi.
"Mùi gì tanh quá vậy nè..." Tiếng một cô đào phụ thì thào.
Bầu Năm khựng lại. Đôi bàn tay gân guốc của ông ta dừng lơ lửng giữa không trung. Lông mày ông ta nhíu chặt lại thành một búi sâu hoắm trên trán. Ông ta cúi thấp người xuống, đưa mũi lại gần đáy chiếc rương gỗ đỏ, rồi mắt ông ta trợn trừng lên vì kinh ngạc xen lẫn tức giận.
"Cái gì thế này?"
Bầu Năm gầm lên một tiếng trầm đục trong lồng ngực. Ông ta thọc mạnh bàn tay xuống góc trong cùng của đáy rương, nơi lớp lụa điều bị cộm lên một cách bất thường.
Loan cảm thấy đất trời dưới chân mình sụp đổ hoàn toàn. Cả người cô cứng đờ như một khúc gỗ mục, hai hàm răng va vào nhau lập cập thành từng hồi liên tiếp. Cô muốn hét lên, muốn xông ra giật lấy vật đó đem vứt đi, nhưng đôi chân cô nặng như đeo chì, dính chặt vào mặt phản gỗ, không thể nào nhúc nhích được lấy một phân.
Bàn tay của Bầu Năm từ từ rút ra khỏi đáy rương.
Giữa những ngón tay thô ráp của ông ta là một bọc khăn tay lụa trắng vấy đầy chất dịch màu vàng đen nhầy nhụa. Chất dịch đó dính dấp, chảy tong tỏng xuống nền rương gỗ, bốc lên thứ mùi tanh nồng nặc khiến Bầu Ba Đạt phải lùi lại một bước, đưa tay áo lên che kín mũi.
Bầu Năm run rẩy giở từng nếp của chiếc khăn tay dính nhớp.
Một quả thị chín vàng ươm, nhưng kỳ dị thay, toàn bộ phần cuống và một nửa thân quả đã nát bét, thối rữa thành một đống bầy nhầy đen ngòm lộ ra trước ánh sáng leo lét của ngọn đèn. Lớp vỏ vàng của quả thị bị rách toạc, để lộ ra phần thịt quả bên trong đã biến thành một thứ mủ xám ngoét, tanh tưởi, lúc nhúc những vệt nước nhờn nhớt như dãi của loài bò sát.
Sự xuất hiện của quả thị giữa hậu trường gánh hát như một tiếng sét giáng thẳng xuống đầu tất cả những người có mặt.
"Trời... Trời Phật ơi!"
Minh Sang thốt lên, cả người bật lùi lại phía sau, ngã dúi dụi vào đống đạo cụ gươm giáo bằng gỗ.
Mấy cô đào phụ sợ hãi hét toáng lên, nép chặt vào lưng nhau, có người bắt đầu bật khóc nức nở. Trong giới sân khấu cải lương Nam Bộ, từ bao đời nay, trái thị là cấm kỵ hàng đầu, là điều đại kỵ tuyệt đối không một ai được phép mang vào rạp hát hay hậu trường. Người trong nghề tin rằng hương thị thơm ngọt quyến rũ chính là hiện thân của những linh hồn lang thang đói khát, của loài quỷ dữ mê đắm giọng hát của con người. Mang trái thị vào hậu trường là hành vi phỉ báng thánh thần, xua đuổi Tổ nghiệp và mời gọi ma quỷ vào xâm chiếm thánh đường biểu diễn.
Bạch Vân nhìn thấy quả thị thối rữa trên tay Bầu Năm thì gương mặt biến sắc hoàn toàn. Chị bò toài trên mặt đất, đôi mắt mở to bàng hoàng, hai bàn tay quơ quào trong không khí:
"Không... không phải của con! Bác Năm ơi, con không có! Con đi hát mười hai năm nay, con biết luật mà bác! Con chưa từng bao giờ dám đem trái này vào rạp... Trời đất chứng giám, Tổ nghiệp chứng giám cho con!"
Tiếng khóc của Bạch Vân xé lòng, dội vào các bức vách đất lạnh tanh. Chị dập đầu liên tục xuống nền gạch, trán rớm máu đỏ tươi nhưng chị dường như không còn cảm thấy đau đớn. Nỗi oan ức và nỗi sợ hãi bị Tổ phế truất nghề nghiệp đang đè bẹp tâm trí người đào chính kỳ cựu.
Bầu Ba Đạt run rẩy chỉ tay vào quả thị nát, giọng ông ta lạc hẳn đi:
"Tại sao... tại sao nó lại nằm trong rương của mày hả Vân? Mày là đào chính, mày giữ rương riêng, chìa khóa mày cầm... Ai nhét vào đây được nếu không phải mày?"
"Con không biết! Con thề có Tổ trên cao, con không hề biết tại sao nó lại ở đó!" Bạch Vân ngửa mặt lên trời than khóc, nước mắt làm trôi đi toàn bộ lớp phấn son, để lộ gương mặt hốc hác, tái mét như xác chết.
Loan ngồi trong góc tối, toàn thân run rẩy đến mức chiếc chăn nỉ rung lên bần bật theo từng nhịp thở ngắt quãng. Cô cắn chặt môi đến mức vị máu mằn mặn tràn vào khoang miệng. Cô biết rõ chiếc chìa khóa rương của Bạch Vân chiều nay đã được cắm hờ ở ổ khóa khi chị đi ra giếng đình gội đầu. Chính khoảng thời gian ngắn ngủi ấy đã cho phép cô thực hiện hành vi hèn hạ của mình.
Bầu Năm không nhìn Bạch Vân. Đôi mắt đục ngầu của ông ta dán chặt vào quả thị thối rữa đang rỉ nước đen trên tay.
Bỗng nhiên, Bầu Năm rùng mình một cái thật mạnh. Ông ta lật ngửa quả thị lại dưới ánh đèn măng-sông.
Dưới lớp thịt quả nát bét dính nhớp nháp, có những đường rạch nhỏ li ti đan chéo vào nhau, tạo thành hình thù kỳ dị giống như vết răng của một loài bò sát vừa gặm nhấm xong. Và kinh hãi hơn cả, những vệt nước đen rỉ ra từ quả thị không hề giống nước hoa quả bình thường, nó tanh tưởi, sền sệt, mang theo mùi máu tanh của loài rắn độc.
Mặt Bầu Năm cắt không còn một giọt máu. Đôi môi thâm xì của ông ta giật giật, hai tròng mắt mở to đến cực điểm như vừa nhìn thấy địa ngục mở ra trước mắt.
"Bác Năm... sao vậy bác?" Bầu Ba Đạt run rẩy hỏi dồn.
Bầu Năm đánh rơi bọc lụa cùng quả thị xuống sàn gạch.
*Bẹp!*
Một âm thanh nhão nhoét vang lên giữa sự im lặng chết chóc. Chất dịch đen ngòm từ quả thị bắn tung tóe lên đôi hài nhung của Bạch Vân và văng ra tận mép chiếc bàn gỗ. Mùi hôi thối bùng lên dữ dội gấp mười lần, xộc thẳng vào mũi tất cả mọi người, khiến vài người không chịu nổi phải nôn khan thành tiếng.
Bầu Năm lảo đảo lùi lại ba bước, hai bàn tay giơ lên trước ngực như muốn xua đuổi một thứ uế tạp khủng khiếp. Ông ta ngước mắt nhìn lên bàn thờ Tổ nghề mù mịt khói nhang, rồi đưa ánh mắt sắc lẹm, vằn đỏ những tia máu nhìn quanh khắp gian chái đình, dừng lại quét qua từng gương mặt đang co rúm lại vì sợ hãi.
Cuối cùng, ông ta cất giọng khàn đặc, the thé vang lên như một lời nguyền rủa rợn gáy giữa đêm trừ tịch:
"Không phải vô tình... Đây là quả thị yểm tà! Gánh hát có đứa phạm đại kỵ, lén rước quỷ vào rạp trêu ngươi Tổ rồi!"
Tiếng thốt lên của Bầu Năm như sét đánh ngang tai, ném toàn bộ chái đình vào một sự hoảng loạn tột cùng. Đám đào kép nhao nhao lùi xa khỏi chiếc rương đỏ, không ai dám lại gần đống dịch nhầy đen đúa đang từ từ lan ra trên nền gạch.
Trong góc tối sâu nhất của chiếc phản gỗ, Loan co rúm người lại, kéo chiếc chăn nỉ trùm kín đầu. Nhưng tấm vải mỏng manh không thể nào ngăn được luồng hàn khí buốt giá đang từ từ thấm sâu vào tận xương tủy cô, cùng nỗi sợ hãi tột cùng rằng bóng tối của tội lỗi sắp sửa bóp nghẹt mạng sống của chính mình.