Sau Bức Màn Nhung - Chương 20: Gánh Hát Mất Đào Chính

Gió từ mặt sông Tiền thốc từng cơn buốt lạnh qua những khe liếp nứa rách tả tơi, mang theo mùi tanh nồng của bùn non và rong rêu mục rữa. Trên bàn thờ ọp…

Nội dung chương

Gió từ mặt sông Tiền thốc từng cơn buốt lạnh qua những khe liếp nứa rách tả tơi, mang theo mùi tanh nồng của bùn non và rong rêu mục rữa. Trên bàn thờ ọp ẹp, ngọn đèn dầu lụn bấc chập chờn đỏ quạch, hắt cái bóng còng queo của bà Hai Ngó lên vách đất thành một hình thù quái dị, run rẩy theo từng nhịp thở ngắt quãng. Bát hương sành mẻ góc vẫn còn vương những vụn tàn đen sì vừa rơi rụng sau cơn kinh hãi.

Loan quỳ gục dưới sàn ván ép, hai bàn tay run rẩy bấu chặt lấy vạt áo bà ba ướt sũng. Cơn đau nơi cuống họng râm ran như có hàng ngàn chiếc gai nhọn đâm xuyên qua từng thớ thịt. Lớp vảy xám sần sùi vừa bị móng tay bà lão cào xước rỉ ra từng giọt máu loãng tanh tưởi, thấm đẫm chiếc khăn rằn quấn quanh cổ. Lời thét thất thần của bà đào già vẫn còn ong ong bên tai cô, kéo theo một nỗi khiếp đảm lạnh buốt chạy dọc sống lưng.

Ba Đờn quỳ thụp xuống bên cạnh bà Hai Ngó, hai tay giữ chặt lấy bờ vai gầy trơ xương của người đàn chị cùng thời:

"Chị Hai! Chị bình tĩnh lại đi chị Hai. Chuyện xưa đã nửa thế kỷ rồi, nợ nần ai vay ai trả cũng đã rõ rành rành trên thân xác chị suốt ngần ấy năm. Con nhỏ này là cháu đời thứ ba của ông Bầu Tổ. Chị nói cho nó biết ngọn ngành, để nó còn đường mà tạ tội, cứu lấy gánh hát trước khi quá muộn."

Bà Hai Ngó co rúm người lại, hai cánh tay khô đét như cành củi mục ôm ghì lấy đầu gối. Đôi mắt mù lòa màu đục nhờ của bà trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định trước mặt, nơi bóng tối của mép sông đang nuốt chửng rặng bần. Phải mất một lúc lâu, tiếng thở dốc đứt quãng của bà lão mới chậm dần lại. Bà đưa bàn tay khẳng khiu quệt ngang khóe môi nhăn nhúm, cất giọng khàn đặc, nghe như tiếng đá mài trên kim loại rỉ sét:

"Năm mươi năm rồi... Tao tưởng phù sa sông Tiền đã vùi lấp hết xương tủy của hai đứa nó dưới đáy cồn. Nhưng tao lầm. Oán khí của loài bò sát một khi đã quyện vào nghiệp cải lương thì đời đời kiếp kiếp không dứt ra được."

Bà lão run rẩy với tay lấy chiếc bình gốm cũ kỹ đặt cạnh chân bàn thờ, rót một ngụm nước lạnh vào lòng bàn tay rồi vỗ mạnh lên trán. Hơi nước làm bà tỉnh táo lại đôi chút. Ánh mắt mù lòa của bà chầm chậm hướng về phía Loan đang quỳ run rẩy:

"Mày có biết tại sao trong khắp các gánh hát Nam Kỳ, bàn thờ Tổ lúc nào cũng phải lập ở nơi trang trọng nhất, cách mặt đất đúng ba thước sáu tấc, và tuyệt đối cấm kỵ đem trái cây có mùi nồng gắt cùng những lời nói bỡn cợt vào hậu trường hay không?"

Loan ngậm ngùi lắc đầu, rồi sực nhớ bà lão không nhìn thấy gì, cô mới gắng gượng phát ra tiếng khò khè nghẹn ứ:

"Dạ... con... con dại dột... con không biết..."

"Mày không biết, vì cái gánh hát này đã giấu nhẹm đi tội ác tày trời để giữ lấy cái danh ba đời gia truyền!" Giọng bà Hai Ngó đột ngột đanh lại, chan chứa sự cay đắng tột cùng. "Đời ông sơ của mày, cái thời gánh hát còn rách nát trôi dạt trên những chiếc ghe bầu rách nát khắp vùng cù lao sông nước, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Để kiếm được mảnh đất cắm rạp, để tiếng đàn cất lên quyến rũ được lòng người, ông sơ mày đã lập một giao ước nghiệt ngã dưới chân bàn thờ Tổ."

Ba Đờn cúi gầm mặt, bàn tay lão siết chặt lấy thanh gỗ trên sàn ván, đốt ngón tay trắng bệch ra vì kìm nén. Lão biết câu chuyện này, nhưng việc nghe chính miệng nhân chứng sống kể lại vẫn khiến lão run rẩy.

Bà Hai Ngó tiếp tục, từng lời từng chữ như nhát dao cứa vào sự im lặng ngột ngạt của căn chòi:

"Năm đó, có hai đứa trẻ mồ côi trôi dạt theo bè chuối tấp vào bãi bồi cồn Cổ Chiên. Thằng anh da dẻ trắng bệch, môi đỏ như son, gọi là thằng Bạch. Thằng em nước da ngăm đen, mắt sáng quắc, lanh lợi khác thường, gọi là thằng Hắc. Hai đứa nó không cha không mẹ, côi cút đói khát, được ông sơ mày đem về gánh nuôi nấng. Nhưng người ta nuôi con nuôi cháu thì dạy chữ dạy nghề, còn ông sơ mày nuôi hai đứa nó là để làm linh đồng hầu Tổ."

"Linh đồng... hầu Tổ?" Loan thốt lên qua kẽ răng, da gà nổi khắp hai cánh tay.

"Phải," bà lão cười khẩy, nụ cười méo mó hiện rõ trên khuôn mặt nhăn nheo đầy những vết sẹo tự cào. "Người làm nghề hát xướng mỏng manh lắm, rày đây mai đó, gió dập sóng dồi, ma quỷ dọc sông dọc rạch chực chờ cướp vía đào kép. Muốn gánh hát đỏ đèn quanh năm, muốn tiếng ca át được tiếng gió độc thì phải có kẻ canh giữ sự thanh sạch cho sàn gỗ. Ông sơ mày đã dùng tà thuật buộc vía hai đứa trẻ vào hai bức tượng mãng xà bằng gỗ mun và ngà voi đặt dưới gầm bàn thờ Tổ. Ngày chúng nó theo hầu sau cánh gà, gánh màn, bưng phấn son cho đào kép. Đêm chúng nó ngồi xếp bằng dưới chân ban thờ, nuốt lấy khói nhang để giữ cho sàn diễn không bị ô uế."

Bà Hai Ngó dừng lại một nhịp, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau làn áo mỏng. Bà lần tay tìm chiếc gương đồng cũ kỹ, ngón tay vuốt ve mép viền kim loại đã mòn vẹt theo năm tháng:

"Hai đứa nó ngoan ngoãn lắm. Dù phải chịu đói khát, chịu sự kiêng khem khắc nghiệt của tà thuật hầu Tổ, chúng nó chưa bao giờ oán trách nửa lời. Nhờ có hai đứa nó canh rạp, gánh hát của dòng họ mày phất lên như diều gặp gió. Đi đến đâu người ta bu coi nghẹt rạp đến đó. Tiền bạc đổ về như nước sông Tiền mùa lũ. Nhưng danh vọng càng lớn thì lòng dạ con người càng trở nên nhớp nhúa, độc ác."

Loan cúi đầu, từng giọt mồ hôi lạnh túa ra trên trán, hòa cùng máu tanh từ cổ chảy dài xuống ngực áo. Cô nhớ lại những lời bỡn cợt mà chính mình đã buông ra trước bàn thờ Tổ tại đình Tân Phước vài đêm trước. Sự ngạo mạn của một cô đào chính trẻ tuổi, ỷ vào chút nhan sắc và sự tung hô của khán giả, đã che mờ hết mọi nỗi kính sợ thiêng liêng.

"Năm ấy, tao mới mười tám tuổi," giọng bà Hai Ngó chùng xuống, nghẹn ngào như tiếng khóc thầm trong đêm lạnh. "Tao là đào nhì của gánh, suốt ngày phải đứng sau cái bóng lộng lẫy của cô đào chính thuở đó. Sự đố kỵ làm mờ mắt tao. Tao muốn chiếm lấy vai chính trong vở tuồng lớn mùa cúng đình, muốn được khán giả tung hô, muốn bước ra giữa sân khấu trong bộ y phục rực rỡ nhất. Tao biết hai đứa trẻ linh đồng có nhiệm vụ giữ sự thanh sạch tuyệt đối cho hậu trường. Luật ngầm của gánh ngày ấy nghiêm ngặt vô cùng: bất kỳ ai đem thứ trái cây mang mùi ô uế vào rương phấn của đào kép chính, hoặc làm vấy bẩn khu vực thiêng liêng sau màn nhung, sẽ bị trục xuất khỏi gánh ngay lập tức."

Trái tim Loan như ngừng đập. Bàn tay cô bấu chặt vào sàn gỗ đến mức bật cả móng. Lời kể của bà lão như tấm gương soi chiếu thẳng vào tội lỗi đen tối mà cô vừa gây ra đối với Bạch Vân.

"Tao đã làm một điều tày đình," bà Hai Ngó nấc lên một tiếng nghẹn ngào, hai hàng nước mắt đục ngầu rỉ ra từ hốc mắt mù lòa, chảy dài trên đôi gò má nhăn nhúm. "Hai đứa nhỏ quanh năm bị bắt ăn chay thanh tịnh để giữ vía cho sạch, chúng nó thèm ăn đồ ngọt, thèm mùi thơm của hoa quả trần gian đến cồn cào ruột gan. Tao đã lén hái một quả thị chín mọng, mùi thơm ngào ngạt, đem giấu vào tận đáy rương trang điểm của cô đào chính, rồi dụ dỗ thằng Hắc tới tìm. Khi mùi thị nồng nặc bốc lên khắp hậu trường, làm kinh động đến linh khí nơi bàn thờ Tổ, cô đào chính bị lạc giọng ngay giữa lớp diễn cao trào."

Bà lão run rẩy đưa hai tay lên ôm mặt, thân hình gầy guộc chao đảo:

"Nhưng sự việc không dừng lại ở đó. Khi bị phát hiện, để chối bỏ tội lỗi của mình, tao đã vu oan cho hai đứa nhỏ là kẻ ăn vụng, mang trái cấm vào làm nhơ bẩn chốn tôn nghiêm của Tổ nghề. Ông sơ mày... vì sợ mất đi danh tiếng của gánh hát, sợ lời nguyền linh đồng bị bại lộ trước mặt hương chức làng... đã ra một quyết định tàn độc."

"Ông... ông sơ đã làm gì?" Loan thốt lên, thanh âm khàn đục run rẩy trong nỗi kinh hoàng tột độ.

"Đêm rằm tháng mười năm ấy, trời nổi giông bão ngập cả bãi bồi," Ba Đờn tiếp lời, giọng lão trầm đục và nặng nề như tiếng chuông chùa vọng trong sương mù. "Ông Bầu Tổ cho người trói gập tay chân hai đứa nhỏ lại, nhét quả thị thối vào miệng chúng nó để bịt miệng, rồi đóng chặt chúng nó vào hai chiếc gông gỗ lim dùng để diễn tuồng cổ. Nửa đêm, chiếc ghe chở hai đứa nó ra giữa dòng nước xoáy ở cồn Cổ Chiên. Người ta xích thêm hai tảng đá lớn vào gông cùm, rồi đẩy chúng nó xuống đáy sông sâu."

Một tiếng sấm xa xăm vọng lại từ phía chân trời bãi bồi, dội qua mái lá rách nát của căn chòi. Loan thấy toàn thân lạnh ngắt như vừa bị dìm xuống dòng nước mùa đông. Cô bàng hoàng ôm lấy lồng ngực, sự thật tàn khốc vỡ vụn ra trước mắt khiến toàn bộ lòng kiêu hãnh của một cô đào chính hoàn toàn sụp đổ.

Bấy lâu nay, cô luôn tự hào về gốc gác ba đời nghệ thuật danh giá của gia đình. Cô luôn nghĩ mình đứng trên đỉnh cao rực rỡ của sân khấu là nhờ tài năng thiên bẩm và dòng máu nghệ sĩ thuần khiết. Hóa ra, vinh quang mà cô đang thụ hưởng, ánh đèn lung linh mà cô say đắm, đều được xây dựng trên một món nợ máu kinh hoàng bị chôn giấu suốt nửa thế kỷ qua.

Và kinh khủng hơn cả, dã tâm đố kỵ bẩn thỉu trong lòng cô đối với Bạch Vân lại giống hệt như tội ác năm xưa của bà Hai Ngó. Cô cũng vì muốn dìm đàn chị xuống bùn đen mà lén giấu quả thị chín vào rương phấn son, cũng buông lời cợt nhả trước bàn thờ thiêng liêng.

"Quả thị..." Loan lẩm bẩm, nước mắt hối hận tuôn rơi lã chã xuống mu bàn tay đầy vảy xám. "Con đã giấu một quả thị vào rương của chị Vân..."

Bà Hai Ngó ngẩng phắt đầu lên, hốc mắt mù hướng thẳng về phía Loan như hai hố đen sâu thẳm:

"Mày đã làm điều đó thật sao? Trời đất ơi! Quả thị không đơn thuần là một thứ quả cấm kỵ của giới sân khấu. Mùi hương của quả thị chính là mồi dẫn đánh thức toàn bộ oán hận bị phong ấn năm mươi năm qua dưới đáy sông Tiền! Khi mày đặt quả thị vào chiếc rương son phấn năm xưa, mày đã mở tung cánh cửa ngục tù giam giữ hai linh hồn ấy. Mùi thơm của trái thị là lời nhắc nhở về sự phản bội, về nỗi oan khiên ngút trời của hai đứa trẻ bị chết ngạt dưới đáy bùn!"

Bà lão quơ quơ hai bàn tay trong không trung, giọng run rẩy lạc đi:

"Chúng nó không phải là ác quỷ tự nhiên sinh ra. Chúng nó là linh đồng thủ hộ của sân khấu, nhưng bị chính con người dùng sự đố kỵ và tàn nhẫn biến thành oan hồn mãng xà. Thằng Bạch mang vía Bạch Xà, thằng Hắc mang vía Hắc Xà. Khi xưa chúng nó canh giữ sự trong sạch cho sàn diễn, thì nay, khi mùi thị nồng nặc và lời bỡn cợt ô uế lại vang lên sau cánh gà, chúng nó trở về để thực thi bản án trừng phạt nghiêm khắc nhất."

Loan gục trán xuống sàn gỗ lạnh lẽo, nấc lên từng cơn tuyệt vọng:

"Bà ơi... con biết tội rồi. Con sai rồi. Cổ họng con đau rát, vảy rắn mọc khắp người con... Con chỉ sống được qua đêm nay nữa thôi... Xin bà chỉ cho con con đường sống..."

Bà Hai Ngó thở dài sườn sượt, tiếng thở dài như hút cạn chút sinh lực cuối cùng trong thân xác tàn tạ:

"Đường sống ư? Năm xưa, tao cũng từng quỳ lạy van xin như mày dưới chân bàn thờ Tổ. Nhưng bản án róc da thay thịt một khi đã hạ xuống thì không một ai trốn thoát được. Mày nhìn tao đây này!"

Bà lão bất thần xé toạc vạt áo bà ba trước ngực. Dưới ánh đèn dầu leo lét, Loan và Ba Đờn kinh hãi lùi lại một bước. Toàn bộ vùng ngực, cổ và hai cánh tay của bà Hai Ngó không còn là da thịt người bình thường. Từng mảng da khô khốc, xám xịt nứt toác thành những đường rãnh sâu hoắm rỉ dịch vàng, xen lẫn những vết sẹo chằng chịt do chính móng tay bà cào xé qua nửa thế kỷ. Những mảng da ấy bong tróc từng lớp dày cộp hệt như lớp da rắn lột dở dang, để lộ phần thịt đỏ hỏn bên dưới đang rơm rớm máu.

"Năm mươi năm qua, tao phải sống trong sự ghẻ lạnh của người đời, chịu đựng cơn ngứa ngáy xé xương xé thịt mỗi khi con nước sông Tiền ròng lớn," giọng bà lão run rẩy, đầy uất nghẹn. "Tổ nghiệp lấy đi giọng hát của kẻ bội bạc, nhưng hai đứa trẻ linh đồng đòi lại da thịt mà gánh hát đã mượn của chúng nó để làm nên danh vọng. Tao chỉ là kẻ tòng phạm gián tiếp mà còn phải chịu hình phạt sống không bằng chết suốt nửa đời người. Còn mày... mày là máu mủ ruột rà của kẻ chủ mưu năm xưa, lại chính tay mày dùng mồi dẫn quả thị để đánh thức chúng nó dậy!"

Ba Đờn bước tới, quỳ xuống trước mặt bà đào già, giọng lão khẩn khoản:

"Chị Hai, dẫu sao con Loan nó cũng đã biết ăn năn. Cây đàn kìm của em là kỷ vật của ông Bầu Tổ truyền lại, đêm qua đã nứt toác làm đôi. Nếu đêm nay gánh hát không tìm được cách xoa dịu hai đứa nhỏ, rạp đình Tân Phước chắc chắn sẽ đại loạn. Chị từng trải qua kiếp nạn này, chị làm ơn chỉ cho nó một tia hy vọng cuối cùng!"

Bà Hai Ngó ngồi bất động, đôi bàn tay gầy gò bấu chặt vào mép ván gỗ. Tiếng sóng vỗ bì bõm dưới chân chòi dường như mỗi lúc một dồn dập hơn, mang theo hơi lạnh thấu xương của đáy sông Tiền cuộn vào căn phòng chật hẹp.

"Chỉ còn một cách duy nhất," bà lão thì thầm, thanh âm như lọt qua kẽ răng run rẩy. "Đó là chấp nhận bản án róc da thay thịt ngay trên sàn diễn, trước mặt toàn thể khán giả và vong linh của hai đứa trẻ. Mày phải dùng chính máu thịt của mình để trả lại món nợ năm xưa cho thằng Bạch và thằng Hắc. Nếu mày vượt qua được đêm nay, nếu da thịt mày chịu đựng được sự lột xác tàn khốc mà không bỏ cuộc giữa chừng, thì may ra... oán khí năm mươi năm mới có thể tiêu tan."

Loan run rẩy ngẩng đầu lên, ánh mắt đẫm lệ nhìn vào khuôn mặt biến dạng vì đau đớn của bà lão mù. Cô hiểu rằng, con đường phía trước không còn lối thoát êm đềm nào khác. Sự đố kỵ tầm thường của cô đã kéo sập bức màn che đậy tội ác truyền đời, và giờ đây, chính thân xác cô sẽ là nơi bản án nghiệt ngã ấy được thi hành trọn vẹn.

Bên ngoài, gió sông Tiền bỗng rít lên một hồi dài ghê rợn, cuốn theo những đám bèo lục bình trôi dạt vào bờ cọc mục, báo hiệu một đêm kinh hoàng sắp sửa giáng xuống ngôi đình cổ Tân Phước.

Chương khác

Xem thêm