Tản Viên - Chương 10: Tráo Đổi Kinh Độ Dưới Lều Tối

Mùi khét lẹt của cây cột cờ bị sét đánh trúng vẫn còn lởn vởn trong màn sương ẩm ướt sáng hôm sau. Đống tro tàn của dải lụa thêu đại tướng nằm bết bát…

Nội dung chương

Mùi khét lẹt của cây cột cờ bị sét đánh trúng vẫn còn lởn vởn trong màn sương ẩm ướt sáng hôm sau. Đống tro tàn của dải lụa thêu đại tướng nằm bết bát dưới nền đất nhão nhoét, bị hàng chục gót giày sắt của toán lính tuần dẫm đạp nát vụn. Cả doanh trại quân Đường chìm trong bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Những tên lính canh gác quanh trướng trung quân đi lại rón rén, mắt không dám nhìn thẳng lên ba đỉnh núi mờ mịt phía chân trời, nơi mây đen vẫn cuộn tròn từng tảng lớn nặng trĩu.

Nằm co quắp trong góc trướng phụ tá địa lý, Minh kéo tấm chăn rách phủ kín nửa thân người. Toàn thân anh giật nẩy từng hồi theo nhịp đập gấp gáp nơi ngực trái. Răng anh va vào nhau lập cập, phát ra những tiếng kêu cành cạch rợn người.

"Này! Dậy đi! Đừng có giả chết!"

Một mũi ủng bọc sắt thúc mạnh vào mạn sườn Minh. Cơn đau thấu xương khiến anh cong người lại, bật ra một tràng ho khan kéo dài rũ rượi. Đờm dãi trào ra khóe miệng, đặc quánh và tanh nồng vị gỉ sắt.

Quách Giám đứng chống nạnh bên cạnh chiếc bàn gỗ trắc địa, tay phe phẩy chiếc quạt lông vũ cáu bẩn. Đôi mắt lươn của lão nheo lại, soi xét từng thớ cơ đang run rẩy của người tù binh An Nam. Bên cạnh lão, Phàn Chấn mang đao đứng sừng sững, bàn tay hộ pháp nắm chặt đốc kiếm, vẻ mặt hầm hố gườm gườm nhìn xuống.

"Bẩm quan bác..." Minh thều thào qua kẽ răng run bần bật, giọng khản đặc: "Rừng Tản Viên độc nước... Đêm qua dầm mưa bão trên đài... phong hàn nhập lý rồi. Lồng ngực tôi đau như có dao cứa, hai mắt hoa lên, chẳng nhìn rõ đường nét nào nữa..."

Lão Quách Giám bịt mũi lùi lại hai bước, chau mày gắt gỏng:

"Đồ mọi rợ yếu ớt! Tiết độ sứ đại nhân vừa truyền lệnh, ba ngày nữa toàn quân phải nhổ trại tiến sát chân núi chính. Ngài cần tấm bản đồ lớn vẽ lại toàn cảnh huyệt vị ba mươi sáu đỉnh núi để chuẩn bị hạ đinh phong tỏa long mạch. Ngươi mà nằm liệt ở đây làm trễ nải quân cơ, Phàn tướng quân sẽ lột da ngươi trước khi tế thần!"

Phàn Chấn hừ một tiếng nặng trịch như sấm đất. Hắn cúi xuống, thô bạo túm lấy mớ tóc rối của Minh giật ngược ra sau. Khuôn mặt Minh lộ ra dưới ánh sáng xám xịt của buổi sớm, tái mét không còn một giọt máu, trán nóng rực bốc khôi hổi, hai gò má hóp lại tím tái. Cơn sốt rét rừng này là thật, nhưng cũng một phần do viên ngải dại Minh lén nhai nuốt hồi rạng sáng để ép tà khí bốc lên mặt.

Nhìn thấy làn da nổi gai ốc cùng ánh mắt lờ đờ của Minh, Phàn Chấn buông tay ra, chùi ngón tay dính mồ hôi nhơm nhớp vào vạt áo giáp. Hắn quay sang nói với Quách Giám bằng thứ tiếng Hán thô lậu:

"Thằng này sốt nặng thật rồi. Để nó ho đờm lây sang các thầy vẽ bản đồ khác thì hỏng việc lớn. Đằng nào nó cũng chỉ là đứa phụ việc đo kinh độ, cứ nhốt nó lại góc trướng này, ném cho bát cháo trắng. Bảo thợ thuộc da đem tấm da dê lớn dự phòng vào cho nó nằm canh. Khi nào hạ sốt thì bắt nó mài mực, kẻ lại khung phương vị cho xong phần thô."

Quách Giám nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống nền đất, xua xua tay:

"Nghe lời tướng quân. Tấm bản đồ chính hiện do Tiết độ sứ đích thân giữ trong tráp lệnh ở soái trướng, chỉ có ngài và ta mới được tiếp cận. Để tên phu này can dự vào chi tiết sâu quá cũng dễ sinh biến. Cứ để nó kẻ khung số đo trên tấm da dê phụ bản dâng triều đình Trường An là được rồi."

Hai tên quan giặc quay lưng rảo bước ra khỏi lều. Tấm rèm vải thô hạ xuống, cắt đứt tiếng bước chân kim loại cùng những lời bàn tán ồn ào của đám lính canh bên ngoài.

Gian lều trở lại vẻ vắng lặng chết chóc. Chỉ có tiếng gió rít qua những khe liếp nứa ẩm mục và tiếng rỏ giọt tong tòng của nước mưa từ mái rạ rách rưới.

Minh nằm im thin thít thêm một tuần hương. Khi chắc chắn tiếng bước chân của toán lính tuần tra đã xa dần về phía bãi tập mã tấu, anh mới từ từ chống tay ngồi dậy. Cơn sốt do lá ngải dại hành hạ khiến đầu óc anh ong ong, nhưng trong đôi mắt đen thẳm kia, sự tỉnh táo sắc lẹm đã bừng sáng trở lại.

Anh thở hắt ra một hơi dài, đưa tay ấn mạnh vào bọc vải gai giấu sâu trong lồng ngực. Tấm da dê thật rỉ máu hôm qua vẫn nằm nguyên vẹn ở đó, áp chặt vào da thịt anh như một lời thề ngầm với non sông.

Minh lết về phía chiếc bàn gỗ thấp kê sát vách nứa. Trên mặt bàn ngổn ngang những nghiên đá, ống bút lông thỏ, thước đồng đo góc và một cuộn da dê lớn còn nguyên mùi ngâm vôi nồng nặc. Đây là tấm da dê thượng hạng được đưa từ phủ Giao Châu lên, dành riêng cho việc sao chép lại toàn bộ địa thế An Nam để Cao Biền dâng về Trường An làm chiến tích dẹp yên mạch rồng phương Nam.

Cao Biền là tay thầy phong thủy cự phách của Bắc triều. Kiến thức của hắn xây trên nền tảng Hậu thiên Bát quái và sách Lạc Thư, lấy Ly phương Nam làm Hỏa vượng, Khảm phương Bắc làm Thủy hàn. Hắn áp đặt lý thuyết dịch học phương Bắc lên dải đất Giao Chỉ, cho rằng mọi dòng chảy của núi sông đều phải cúi đầu tuân theo trật tự mà các bậc đế vương Trung Nguyên đã định đoạt.

Minh đặt bàn tay run rẩy lên mặt da dê trắng muốt. Anh biết rõ, địa mạch Tản Viên không vận hành theo lẽ tầm thường ấy. Đất trời phương Nam khởi nguồn từ Tiên thiên chi khí, nơi Thủy và Hỏa nương tựa nhau để hóa sinh vạn vật. Ba mươi sáu ngọn núi vươn lên từ bùn lầy không phải để xưng hùng tranh bá như dã tâm của loài người, mà là tấm khiên chở che cho linh khí giống nòi.

Nếu chỉ đơn thuần vẽ sai cự ly vài dặm, Cao Biền với chiếc la bàn ngọc thạch và tài trắc đạc tinh vi sẽ lập tức nhận ra sự sai lệch ngay khi đặt chân đến thực địa. Muốn lừa được con cáo già phương Bắc, Minh phải dùng chính dịch lý uyên thâm của hắn để tạo nên một ảo giác hoàn mỹ.

Anh phải bẻ gãy quẻ mệnh, nghịch chuyển phương vị Khảm và Ly.

Minh thò tay xuống đế guốc mộc, tháo chiếc nêm gỗ xoan đào lấy ra thỏi mực đen tự chế. Đó là thứ mực được mài từ tro xương trâu đen trộn với mủ cây sơn sống và dịch củ nâu rừng. Khi viết lên da dê, mực này cho ra màu sắc và độ bóng y hệt mực nho thượng hạng của triều đình Đường, nhưng một khi gặp phải hơi nước nóng bốc lên từ đầm lầy, các phân tử mủ sơn sẽ ngậm ẩm, làm nhòe đi các đường nét phụ và chỉ để lộ ra một đồ hình ẩn giấu bên dưới.

Minh hít sâu một hơi, cầm chiếc quản bút bằng trúc lên. Ngón tay anh siết chặt đến trắng bệch. Từng khớp xương nhức nhối như bị kim châm, nhưng đầu bút lông thỏ lại vững như bàn thạch khi hạ xuống mặt da dê.

Anh bắt đầu vạch những đường kinh tuyến đầu tiên.

Theo bản đồ thật mà Minh đã ghi nhớ nằm lòng, mạch rồng xuất phát từ đỉnh Tản Viên Sơn thuộc quẻ Càn, chảy tràn qua đỉnh Ba Vành tạo thành thế Thủy Trạch Tiết, tụ lại ở đầm Dạ Trạch thành huyệt Long Ẩn. Nơi đó sinh khí ngút trời, nước trong veo không đáy, là long huyệt phát vương giúp đất Việt đời đời sản sinh hào kiệt.

Nhưng dưới ngọn bút của Minh, đường kinh tuyến từ đỉnh núi chính bỗng bị bẻ cong đi một góc bảy phân về hướng Tây Bắc. Một góc nghiêng rất nhỏ, mắt thường không thể phân biệt được nếu không có la kinh đối chiếu nhiều lần.

Minh đảo ngược hào âm và hào dương của quẻ bản mệnh.

Phương Khảm vốn là Thủy, tượng trưng cho vực sâu, cho sự trắc trở hiểm nguy nhưng ẩn chứa mầm sống. Phương Ly vốn là Hỏa, tượng trưng cho ánh sáng chói lòa, cho sự phát tích huy hoàng. Minh đổi hào trung hư của quẻ Ly thành hào trung mãn của quẻ Khảm, biến Thủy thành Hỏa, biến Hỏa thành Thủy.

Anh tạo ra một quẻ dịch giả tạo mang tên Hỏa Thủy Vị Tế, nhưng lại ngụy trang các nét vẽ phụ bên ngoài bằng những vòng tròn đồng tâm biểu thị thế đất Thủy Hỏa Ký Tế - thế đất của sự viên mãn, thành công và vương khí đỉnh cao. Bất kỳ thầy địa lý Bắc triều nào nhìn vào các ký hiệu vòng cung và thế núi này cũng sẽ đinh ninh rằng đây là đại huyệt vượng khí nhất ngàn năm có một.

Trên thực tế, đường vẽ bị bẻ cong bảy phân ấy dẫn thẳng mạch khí vào một thung lũng cụt nằm kẹt giữa hai vách đá dựng đứng của núi Tản Viên.

Nơi đó dân bản địa gọi là Đầm Lầy Sương Độc, một Huyệt Tử nghìn năm không có ánh mặt trời rọi tới. Bùn đen ở đó sâu không thấy đáy, chứa đầy khí độc lưu huỳnh và thây mục của thú dữ chết nghẹn. Bất cứ đàn tràng tế lễ nào dựng lên ở nơi tử địa đó, trận đồ sắt của Cao Biền sẽ bị bùn lầy nuốt chửng, còn chướng khí tích tụ ngàn đời sẽ bùng phát như lửa thiêu đốt toàn bộ sinh lực của đoàn quân xâm lược.

Minh cắn chặt môi, mồ hôi trên trán rỏ xuống từng giọt bên mép bàn. Cơn sốt lại bùng lên trong lồng ngực, nóng ran như thiêu như đốt. Bàn tay cầm bút của anh run rẩy dữ dội, nhưng mỗi lần nét cọ chao đảo, Minh lại cắn mạnh vào đầu lưỡi để vị máu tanh nồng đánh thức thần trí.

Anh không được phép sai sót một ly. Một nét cọ trượt tay, tính mạng của anh sẽ chấm dứt trên lưỡi đao của Phàn Chấn, và linh khí của Tản Viên Sơn sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi dưới ba mươi sáu cây đinh sắt phong ấn.

Bên ngoài, ánh hoàng hôn buông xuống nhanh chóng sau rặng núi xa. Màn đêm đổ ụp xuống doanh trại quân Đường, mang theo cái lạnh cắt da của vùng cao. Tiếng tù và điểm canh một rúc lên từng hồi u uất, hòa cùng tiếng mõ cầm canh lốc cốc của toán lính tuần.

Minh gạt tàn bấc của ngọn đèn dầu lạc sang một bên. Ngọn lửa hạt đỗ leo lét nhảy múa trên mặt bàn, hắt những cái bóng chập chờn lên vách lều bằng nứa.

Anh cúi rạp người xuống, dồn toàn bộ tâm lực còn lại vào việc hoàn thiện các chữ chú dẫn bằng Hán tự theo đúng phong cách văn tự thư pháp đời Đường. Từng chữ "Long huyệt", "Chính vị", "Khảm cung", "Ly hướng" hiện ra dưới ngòi bút sắc sảo. Nét chữ cứng cỏi, bay bướm nhưng ẩn chứa một sự câm lặng gầm thét của đất trời phương Nam.

Trăng thượng tuần bắt đầu nhô lên khỏi đỉnh rặng cây sau màn mây xám. Một dải ánh sáng bàng bạc, lạnh lẽo lọt qua khe hở của tấm liếp nứa rách, rọi thẳng xuống góc bàn vẽ của Minh.

Ánh trăng nhập vào ánh lửa hạt đỗ, tạo thành một vùng sáng kỳ dị nửa vàng nửa trắng trên mặt tấm da dê.

Minh vừa chấm mực để vẽ nốt nét cuối cùng khóa chặt vòng đồ hình của tử huyệt thì một luồng gió lạnh buốt từ đâu thốc mạnh vào lều. Ngọn đèn dầu lạc phụt tắt, chỉ còn lại dải ánh trăng bàng bạc chiếu nghiêng nghiêng.

Minh giật mình ngẩng đầu lên.

Trên vách trướng bằng vải bạt thô đối diện, ánh trăng in bóng cánh tay cầm bút của anh lên nền vải trắng xám. Chiếc bóng đen ngòm không nằm yên theo nhịp thở của người sống, mà bỗng nhiên uốn lượn, vặn vẹo một cách dị thường.

Ngọn bút lông thỏ trong bóng đen phóng to gấp mười lần, đầu bút nhọn hoắt biến thành một cái đầu mãng xà khổng lồ. Nhưng cái đầu rắn ấy quái dị thay lại bị cụt mất một nửa hàm dưới, chỉ trơ ra chiếc lưỡi chẻ đôi ngoằn ngoèo đang há hốc ra trong tư thế nuốt chửng.

Bên ngoài tấm liếp, qua những kẽ nứa thưa thớt, chòm sao Bắc Đẩu đang treo lơ lửng trên nền trời đêm u tối. Ánh trăng soi rọi khiến bóng của chòm sao bảy ngôi in chập chờn lên vách vải.

Và chiếc bóng mãng xà cụt đầu hình thành từ ngọn bút của Minh đang từ từ vươn dài ra, thân hình đen đúa trườn qua từng thước vải bạt, há to cái miệng rách nát đớp trọn lấy bóng của ngôi sao Thiên Xu và Dao Quang - hai ngôi sao định vị vận mệnh đế vương của chòm Bắc Đẩu.

Minh nín thở, lồng ngực thắt lại. Da đầu anh tê dại đi như có hàng ngàn con kiến lửa bò qua. Anh muốn rụt tay lại, nhưng cánh tay cầm bút dường như bị một luồng kình lực vô hình từ lòng đất hút chặt lấy mặt bàn gỗ.

Bóng mãng xà trên vách bạt khẽ rung lên, một tiếng rít khe khẽ như tiếng gió luồn qua khe đá vang vọng trong không gian tĩnh mịch.

Đó là điềm triệu của đất trời.

Khi người phàm dám dùng ngọn bút mọn để nghịch chuyển càn khôn, lay động đến trật tự của sao trời phương Bắc, thần linh của sông núi đã đáp lại lời hiệu triệu. Mãng xà cụt đầu chính là hiện thân của những long mạch bị Cao Biền chặt đứt gãy trong suốt mười mấy năm qua, giờ đây đang hội tụ về dưới chân ngọn Tản Viên, mượn ngọn bút của một nho sinh áo rách để cắn trả kẻ thù.

Một giọt máu từ kẽ răng Minh rỏ xuống, rơi trúng vào tâm điểm của quẻ Ly nghịch chuyển trên mặt da dê.

Vệt máu lập tức ngấm sâu vào lớp da, biến thành một điểm son đỏ thẫm hệt như một con mắt quỷ đang trợn trừng giữa vòng vây của những đường kinh tuyến giả tạo.

Ngay lúc ấy, chiếc bóng mãng xà trên vách bạt tan biến. Ánh trăng lại trở về với vẻ tĩnh lặng lạnh lẽo ban đầu. Bàn tay Minh rời khỏi mặt bàn, cả thân người anh đổ gục xuống ghế, mồ hôi ướt đẫm manh áo gai rách rưới.

Minh thở dốc từng cơn, run rẩy đưa bàn tay lên ngực. Tấm bản đồ ngụy tạo đã hoàn tất. Từng nét vẽ, từng con số kinh độ, từng vòng bát quái đều hoàn hảo không một tì vết. Nó là một kiệt tác của sự dối trá đầy bi tráng, một cái bẫy chết người được bọc trong vỏ bọc của vương khí thiên triều.

Nhưng tấm bản đồ này hiện tại chỉ là một cuộn da dê nằm vô hại trên chiếc bàn gỗ mục nát này.

Tấm bản đồ thật ghi chép chính xác long mạch non sông mà Cao Biền ngày đêm nghiên cứu vẫn đang nằm an toàn trong chiếc tráp lệnh sơn then bọc đồng, đặt ngay ngắn trên án thư của viên Tiết độ sứ giữa soái trướng trung quân. Nơi đó lúc nào cũng có tám tên vệ sĩ thiết giáp canh gác, cùng thanh bảo kiếm ngọc thạch của thiên tử ban cho chực chờ tuốt khỏi vỏ.

Minh cẩn thận cuộn tấm da dê giả lại, dùng sợi dây cói buộc chặt. Đôi mắt anh nhìn trừng trừng qua kẽ nứa, hướng về phía ngọn đèn lồng đỏ rực đang đung đưa trước cửa soái trướng của Cao Biền cách đó không xa.

Thời gian không còn nhiều nữa. Ngày mai, hoặc chậm nhất là đêm mai, Cao Biền sẽ đối chiếu lần cuối trước khi phát lệnh hạ đinh.

Anh phải tìm cách lọt vào soái trướng. Anh phải đánh cược sinh mạng của mình trong gang tấc để tráo đổi hai cuộn da dê giống hệt nhau này ngay dưới mắt kẻ thù. Nếu thất bại, lưỡi kiếm của Cao Biền sẽ chém đầu anh trước khi tia nắng sớm ngày mới kịp rọi xuống thung lũng Tản Viên.

Chương khác

Xem thêm