Tản Viên - Chương 9: Bản Đồ Da Dê Huyết Tẩm
Sau tiếng sét kinh thiên động địa xé toạc ngọn cờ đại tướng trên đỉnh gò, doanh trại quân Đường chìm vào một thứ im lặng nặng nề quánh đặc. Đêm đen đặc…
Nội dung chương
Sau tiếng sét kinh thiên động địa xé toạc ngọn cờ đại tướng trên đỉnh gò, doanh trại quân Đường chìm vào một thứ im lặng nặng nề quánh đặc. Đêm đen đặc như mực tàu trút xuống khắp thung lũng Tản Viên, chỉ sót lại tiếng gió rít từng hồi qua vách vải bạt và tiếng nước mưa chảy róc rách qua các rãnh hào quanh trại. Lính canh các vọng gác đốt thêm nhiều bó đuốc tẩm mỡ bò, nhưng ngọn lửa cứ chập chờn xanh xao, bốc lên mùi khét lẹt của da thú cháy dở lẫn với bùn đất nhớp nháp. Bọn chúng run rẩy túm tụm lại dưới mái lều che tạm, dán thêm bùa trừ tà bằng giấy vàng lên cán giáo, mắt không ngớt nhìn về phía rặng núi sẫm tối với nỗi kinh hoàng tột độ.
Bên trong trướng trung quân, không khí ngột ngạt đến khó thở. Tấm rèm gấm thêu kim tuyến ngăn cách gian phòng ngủ của viên Tiết độ sứ buông thõng, nặng trĩu. Sau khi chứng kiến cây kim la bàn bằng thép tôi vỡ đôi và ngọn cờ lệnh bị sét đánh cháy đen, Cao Biền giận dữ đập vỡ ba chiếc chén ngọc, mắng chửi đám quan viên Tư Thiên Giám thậm tệ rồi uống cạn một bát canh an thần đặc quánh trước khi lui vào trong nghỉ ngơi. Cơn thịnh nộ của kẻ nắm quyền sinh sát tạm thời lắng xuống dưới tác dụng của dược liệu, để lại tiếng thở dài nặng nhọc, đứt quãng vọng ra từ sau bức màn lụa.
Phàn Chấn cùng toán lính thân tín sau nhiều canh giờ dầm mưa lập trận cũng đã kiệt sức. Tên phó tướng lệnh cho hai lính gác đứng chôn chân bên mép cửa trướng, còn gã thì gục đầu bên bàn trà ngoài tiền sảnh, thanh mã tấu bằng thép sáng loáng vẫn đặt ngang trên đầu gối. Tiếng ngáy trầm đục của toán quân Đường dần hòa lẫn vào tiếng mưa rả rích ngoài thung lũng, biến căn trướng thành một nấm mồ im lìm giữa rừng hoang.
Minh ngồi thu mình dưới chân chiếc cột gỗ lim to bằng vòng tay ôm. Đêm vùng núi lạnh thấu xương. Hơi ẩm từ nền đất nện bốc lên ngấm qua lớp áo vải thô rách tơi tả, cắn buốt từng thớ thịt. Vết thương nơi hai cổ tay do hai vòng xích đồng đen nghiến chặt đã bắt đầu sưng tấy, rỉ ra những giọt máu thẫm dính bết vào kim loại gỉ sét. Mỗi cử động nhỏ của anh đều kéo theo tiếng va chạm lách cách rất khẽ của các mắt xích, âm thanh sắc nhọn khiến anh phải nín thở, cắn chặt môi để không đánh động tên lính canh đang gật gù cách đó mười bước chân.
Ánh sáng le lói từ ngọn đèn dầu lạc đặt trên chiếc đôn con ở góc trướng hắt lên gương mặt hốc hác của người nho sinh. Đôi mắt Minh sáng quắc, chiếu thẳng vào chiếc bàn trắc địa đặt ở giữa trướng. Nơi đó, những mảnh giấy phác thảo địa đồ do viên Tư Thiên Giám Quách Giám vẽ dở nằm ngổn ngang cạnh chiếc la bàn vỡ nát. Cao Biền muốn dùng ba mươi sáu cây đinh sắt khổng lồ yểm xuống ba mươi sáu huyệt đạo, triệt hạ toàn bộ nguyên khí non sông, biến vùng đất Giao Châu thành một bãi tha ma cằn cỗi muôn đời không thể ngóc đầu dậy. Nếu những huyệt đạo ấy bị đóng đinh phong tỏa hoàn toàn, dân tộc này sẽ mãi mãi chìm trong kiếp tôi đòi lầm than.
Bàn tay Minh siết chặt lại. Móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau nhói, nhắc nhở anh về lời thệ ước vừa lập dưới chân bàn thờ rực lửa sấm sét lúc nửa đêm. Anh không thể ngồi yên chờ chết. Anh phải vẽ lại, phải bảo tồn toàn bộ chân mạch của giang sơn Đại Việt vào một bản đồ thực sự trước khi gót giày của quân Đường kịp dẫm nát tất cả.
Minh nhẹ nhàng cử động hai chân, co gối lại sát ngực. Sợi xích đồng đen chùng xuống một đoạn. Anh cúi gập người, ngón tay lần xuống bàn chân trần lạnh ngắt, chạm vào chiếc guốc mộc cũ mòn gót mà anh mang từ quê nhà khi bị bắt lính. Chiếc guốc gỗ xoan đào trông thô kệch, mép gỗ đã sứt mẻ vì năm tháng dãi dầu. Bằng một động tác thuần thục và cẩn trọng đến từng hơi thở, Minh dùng móng tay cái cạy nhẹ vào khe nứt nằm ẩn dưới lớp quai da trâu đóng đinh tán.
Một tiếng tách rất khẽ vang lên. Mảnh gỗ nêm nhỏ bằng đốt ngón tay bật ra, để lộ một khoang rỗng hẹp bên trong lòng guốc. Minh rút ra một thỏi mực nhỏ bằng ngón tay út, màu đen tuyền ánh lên sắc xanh biếc của lá chàm khô.
Đó là thỏi mực thảo dược do người thầy đồ già ở quê anh tự tay chế tác theo bí thuật cổ xưa. Mực không làm từ muội than dầu hỏa của phương Bắc, mà được luyện từ tro than của vỏ cây bách ngàn năm trên đỉnh núi thiêng, nghiền mịn cùng nhựa rễ cây ô dược, mật ong rừng và nước cốt lá trầu cay. Thỏi mực này có tính chống nước tuyệt đối, dẫu chôn vùi dưới lòng đất sâu hay ngâm dưới đáy sông lạnh hàng chục năm, nét chữ vẽ ra vẫn vẹn nguyên không hề phai nhạt.
Minh nắm chặt thỏi mực trong lòng bàn tay, cảm nhận hơi ấm mong manh từ mẩu gỗ bách rừng quê nhà. Tiếp đó, anh luồn tay vào vạt áo trong, nơi lớp vải gai thô được khâu lót cẩn thận hai tầng. Đầu ngón tay anh chạm vào bề mặt ráp mịn của một tấm da dê mỏng, đã được cạo sạch lông và thuộc bằng phèn chua trắng muốt. Đây là tấm da dê non mà anh đã bí mật giấu đi từ kho đồ của đội phụ tá địa lý trong lúc hỗn loạn ngày chuyển quân qua sông Đà.
Gió rít mạnh bên ngoài vách trướng làm ngọn đèn dầu lạc chao đảo, bóng của Minh in lên vách vải trướng run rẩy, kéo dài ra ngoằn ngoèo.
Một tên lính Đường đứng gác cạnh cửa trướng bỗng giật mình trở vai, thanh gươm đeo bên hông va vào bao da phát ra tiếng cách khô khốc. Minh bất động, toàn thân cứng đờ như một khúc gỗ mục dưới chân cột trướng. Hơi thở anh nghẹn lại nơi cuống họng. Đôi mắt mở to trừng trừng nhìn vào lưng tên lính canh.
Tên lính ngáp dài một tiếng, lẩm bẩm chửi rủa thời tiết ma quái rồi bước ra mép cửa trướng nhổ một bãi nước bọt xuống vũng bùn bên ngoài. Gã lại tựa lưng vào cọc gỗ, mí mắt nặng trĩu sụp xuống sau những giờ phút căng thẳng vì sấm sét. Tiếng ngáy rền rĩ lại tiếp tục vang lên đều đặn.
Minh từ từ thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực đập dồn dập. Anh không còn nhiều thời gian. Trời sắp chuyển canh ba, chỉ vài giờ nữa ánh rạng đông sẽ bừng lên xua tan màn đêm, và khi Cao Biền thức giấc, mọi cơ hội sẽ tan thành tro bụi.
Anh với tay sang góc chân cột gỗ, nơi có một mảnh gốm vỡ từ chiếc bát vỡ của lính hầu bỏ lại chiều hôm trước. Minh hứng vài giọt nước mưa còn đọng lại trên vạt áo rách của mình rỏ lên mặt tráng men của mảnh gốm, rồi cẩn thận cầm thỏi mực thảo dược bắt đầu mài.
Chuyển động mài mực diễn ra chậm rãi, nhẹ như tiếng sâu đo bò trên lá khô. Thỏi than đen nhánh hòa quyện với nước mưa, tỏa ra một mùi hương ngai ngái, thanh khiết của nhựa thông và rễ cây thảo mộc, xua đi phần nào mùi ẩm mốc tanh tưởi của căn trướng giặc. Minh trải tấm da dê phẳng phiu lên trên đùi mình, lấy thân người che chắn ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn góc phòng.
Từ trong tay áo, anh rút ra một ngọn bút lông thỏ cán trúc mảnh khảnh, đầu cọ nhọn hoắt được anh tỉa tót kỹ càng giấu kín bấy lâu nay.
Minh chấm đầu bút vào vũng mực đen nhánh trên mảnh gốm vỡ.
Bàn tay anh nắm chặt cán trúc. Khi ngọn bút hạ xuống mặt da dê thô ráp, sự run rẩy nơi các ngón tay bỗng biến mất. Thay vào đó là một sự vững vàng lạ thường, tựa hồ toàn bộ tâm trí của anh đã dồn hết vào ngọn bút nhỏ bé.
Dòng sông Nhị Hà hiện lên đầu tiên dưới ngọn bút lông mảnh khảnh, uốn lượn như một con rồng đất khổng lồ cuộn mình giữa đồng bằng châu thổ. Tiếp đó là dãy Tam Đảo với chín mươi chín ngọn núi nhấp nhô như đàn voi quỳ phục chầu về hướng Nam. Từng dòng sông, con suối, từng khe núi hiểm trở của xứ Giao Châu cứ thế nối đuôi nhau hiện hình trên nền da dê trắng đục.
Minh không cần nhìn vào bất kỳ bản thảo nào của quân Đường. Mọi địa thế, phương vị, hướng chảy của các dòng nước ngầm và các mạch khí đều đã khắc sâu vào xương tủy anh từ những ngày còn theo chân cha đi khắp các bản làng, từ những pho sách cổ bằng chữ Nôm chép tay mà gia đình anh gìn giữ qua ba đời nho học.
Đầu bút di chuyển thoăn thoắt, mực đen thấm đượm vào từng thớ da dê. Minh đánh dấu cẩn thận tọa độ của từng huyệt đạo chân chính: huyệt Hàm Rồng ở hạ lưu sông Lô, huyệt Phượng Hoàng ngậm ngọc ở vùng đất Ái Châu, huyệt Kim Quy chầu phục nơi cửa biển Bạch Hạc. Mỗi dấu chấm tròn đen nhánh biểu trưng cho một điểm phát vương khí của non sông, những mạch sống thiêng liêng mà quân giặc đang rắp tâm dùng đinh đồng, cọc sắt nghiền nát để bẻ gãy ý chí quật khởi của người Nam.
Mồ hôi túa ra trên trán Minh, chảy dài qua gò má gầy guộc rồi rơi xuống mép tấm da dê nhưng anh không dám đưa tay lau. Cổ tay bị xích sắt cọ xát rát bỏng, máu tươi rỉ ra hòa vào lớp mồ hôi mặn chát, tạo nên một cơn đau nhức buốt thấu tim gan. Nhưng nét bút của anh vẫn giữ nguyên độ chuẩn xác kinh người. Anh đang chạy đua với thời gian, chạy đua với lưỡi gươm của Cao Biền và sự nghiệt ngã của số phận.
Gần hai canh giờ trôi qua trong sự im lặng nghẹt thở. Bản đồ chân mạch của ba mươi lăm đại huyệt đã hoàn tất trọn vẹn, rải rác khắp các triền sông, dãy núi, tạo thành một thiên la địa võng kỳ vĩ bảo bọc lấy linh hồn Đại Việt.
Chỉ còn lại một huyệt đạo duy nhất. Đó là đỉnh cao nhất, là trái tim của toàn bộ long mạch non sông: ngọn Tản Viên Sơn.
Minh hít một hơi sâu, điều hòa lại nhịp thở đang dồn dập. Anh nhấc ngọn bút lên, cẩn thận chấm thêm một giọt mực thảo dược đậm đặc. Tay anh lướt nhẹ trên không trung, định hình phương vị của ba đỉnh non Tản ngự trị giữa mây ngàn, nơi hội tụ vương khí tối thượng của trời đất.
Đầu ngọn bút lông thỏ vừa chạm xuống mặt da dê, đặt ngay tại vị trí đỉnh núi chính của rặng Ba Vì.
Bỗng nhiên, một luồng khí lạnh buốt từ dưới mặt đất nện phóng ngược lên thân bút, giật mạnh vào các khớp ngón tay Minh. Cán trúc trong tay anh rung lên bần bật như bị một bàn tay vô hình nắm lấy.
Minh giật mình định thu bút lại, nhưng ngọn cọ dường như bị hút chặt vào thớ da dê, không thể nhấc lên được.
Dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu lạc, một dị tượng quái đản xuất hiện ngay trước mắt anh.
Giọt mực đen nhánh vừa hạ xuống mặt da dê bỗng nhiên không còn mang sắc xanh biếc của lá chàm. Vệt mực lan rộng ra chung quanh, sôi lục bục như nước trong nồi đồng đặt trên than hồng. Màu đen thẫm dần biến đổi, chuyển sang sắc đỏ tươi chói lọi, rồi nhanh chóng ngả sang màu đỏ thẫm quánh đặc như máu người vừa rỉ ra từ vết thương hở.
Mùi thơm thanh khiết của nhựa bách và thảo dược biến mất hoàn toàn, thay vào đó là một mùi tanh tưởi nồng nặc của máu tươi và đất thịt ẩm ướt sau cơn mưa bão. Mùi tanh bốc thẳng lên mũi khiến Minh suýt nôn mửa, da đầu tê dại.
Vệt mực đỏ rực ấy ngấm sâu qua bề mặt tấm da dê, xé toạc lớp màng thuộc trắng muốt. Nó không lan tỏa theo hình tròn thông thường của giọt nước, mà tự động vạch thành một đường nứt toác kéo dài từ đỉnh núi chính Tản Viên chạy dọc xuống thung lũng, hệt như một vết chém sâu hoắm chưa lành miệng thịt.
Mặt da dê dưới ngón tay Minh bỗng run rẩy nhè nhẹ, phập phồng theo từng nhịp đập thình thịch như da thịt của một sinh linh còn sống đang quằn quại trong đau đớn cùng cực.
Minh mở to hai mắt nhìn trừng trừng vào vệt máu đỏ tươi trên bản đồ. Đó không phải là ảo giác sinh ra do cơn đói khát hay sự mệt mỏi của một kẻ tù đày. Máu thật sự đang rỉ ra từ tấm da dê, từng giọt nhỏ li ti ứa lên bề mặt, đọng lại thành những hạt ngọc đỏ thẫm phản chiếu ánh đèn dầu leo lét.
Đất mẹ đang rên xiết.
Hồn thiêng của ngọn Tản Viên Sơn đang nhỏ máu trước họa diệt vong do lũ giặc phương Bắc đem tới. Ba mươi sáu cây đinh sắt của Cao Biền chưa hạ xuống hết, nhưng linh khí non sông đã cảm nhận được nỗi nhục nhã của sự xiềng xích và xé rách. Tiếng sấm gầm ban nãy trên đỉnh gò không chỉ là cơn thịnh nộ của thần linh, mà còn là tiếng kêu cứu ai oán của một dải giang sơn sắp bị biến thành tử địa.
Một cơn rùng mình chạy dọc từ sống lưng lên đến đỉnh đầu Minh. Anh cắn chặt môi dưới đến bật máu để giữ cho mình không bật ra tiếng thét kinh hoàng. Máu từ môi anh rỉ ra, hòa cùng vị mặn của mồ hôi chảy xuống cằm.
Minh run rẩy giơ ngón tay trỏ chạm nhẹ vào vệt mực đỏ thẫm nơi đỉnh Tản Viên. Bề mặt da dê nóng rực như than hồng, truyền vào đầu ngón tay anh một luồng nhiệt khí đau rát. Vết chém rỉ máu ấy như đang khắc sâu vào tâm can anh, nhắc nhở anh về trọng trách ngàn cân đang đè nặng lên đôi vai của một nho sinh tay không tấc sắt.
Nếu chỉ âm thầm vẽ lại bản đồ này để cất giấu cho đời sau, non sông trước mắt vẫn sẽ bị lũ giặc tàn phá tan tành. Cao Biền với kiến thức phong thủy thâm sâu và dã tâm tàn bạo của triều đình phương Bắc sẽ không dừng lại. Ngày mai, hoặc ngày kia, sau khi lập xong đàn tế mới, hắn sẽ vác những cây đinh sắt khổng lồ kia xông thẳng vào ngọn Tản Viên, đóng nát quả tim của long mạch Đại Việt.
Chỉ bảo tồn thôi chưa đủ. Muốn cứu lấy đất trời, muốn giữ cho mạch máu này không ngừng chảy, anh phải hành động quyết liệt hơn. Anh không thể chỉ là một kẻ sao chép lén lút trong bóng tối.
Minh nhìn trừng trừng vào vệt máu đỏ đang ngấm sâu vào tấm da dê, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng ken két. Đôi mắt anh ánh lên một tia sáng lạnh lẽo, điên cuồng và dứt khoát.
Nếu Cao Biền muốn tìm đại huyệt, anh sẽ dâng cho hắn một đại huyệt. Nhưng đó sẽ là một đại huyệt chôn vùi toàn bộ sinh mạng của hắn cùng đám quân giặc tàn bạo dưới đáy đầm lầy mù sương.
Bản đồ thật này phải được cất giấu cẩn thận. Còn trên tấm bản đồ da dê lớn mà Cao Biền bắt anh vẽ để dâng nộp, anh sẽ làm một điều mà chưa một thầy địa lý nào trong thiên hạ dám nghĩ tới. Anh sẽ bẻ gãy toàn bộ trật tự của dịch lý phương Bắc, lật ngược đất trời, biến sinh lộ thành tử lộ.
Minh nhanh chóng lấy mảnh vải gai khô bọc kín tấm da dê rỉ máu lại, rồi luồn sâu vào lớp lót trong vạt áo, ép chặt vào lồng ngực mình. Hơi nóng từ vệt mực đỏ vẫn âm ỉ truyền qua lớp vải gai, áp sát vào da thịt anh như một lời thúc giục không ngừng nghỉ.
Anh cất thỏi mực thảo dược vào lại khoang rỗng dưới đế guốc mộc, ấn chặt chiếc nêm gỗ xoan đào vào vị trí cũ. Mảnh gốm vỡ được giấu sâu xuống lớp đất nện ẩm ướt ngay sát chân cột gỗ lim.
Minh ngả đầu ra sau, tựa lưng vào thân cột gỗ lim lạnh ngắt, nhắm nghiền hai mắt lại. Tiếng xích sắt khẽ khàng rơi xuống mặt đất, trả lại không gian tĩnh lặng chết chóc cho gian trướng trung quân.
Phía đông, tiếng gà rừng cất lên tiếng gáy le lói xé toạc màn sương dày đặc của rặng Tản Viên. Ánh sáng mờ nhạt của buổi rạng đông bắt đầu len qua các kẽ liếp, soi rọi lên bàn trắc địa của quân Đường. Một ngày mới sắp bắt đầu, và Minh biết, ván cờ sinh tử giữa anh và viên Tiết độ sứ khét tiếng tàn bạo giờ mới thực sự bước vào những nước đi đẫm máu nhất.