THẤT SƠN VÙNG ĐẤT BỊ NGUYỀN - Chương 17: MA DA KÉO GIÒ & LUẬT CỦA THỢ LẶN (MIỀN TÂY)
Chiếc xe bán tải của công ty đưa tôi rời khỏi Sài Gòn hoa lệ, băng qua những cánh đồng lúa bạt ngàn của Long An, Tiền Giang, để đến với công trình cầu Mỹ…
Nội dung chương
Chiếc xe bán tải của công ty đưa tôi rời khỏi Sài Gòn hoa lệ, băng qua những cánh đồng lúa bạt ngàn của Long An, Tiền Giang, để đến với công trình cầu Mỹ Thuận 2 đang thi công dang dở.
Càng đi sâu về miền Tây, không khí càng trở nên ẩm ướt và nặng nề hơi nước. Những con sông lớn đỏ quạch phù sa cuộn chảy như những con rồng đất khổng lồ, mang theo sự trù phú nhưng cũng ẩn chứa biết bao hiểm nguy khôn lường.
Tôi đến lán trại chỉ huy công trường vào lúc xế chiều. Mặt trời đỏ ối đang lặn dần xuống mặt sông Tiền mênh mông, nhuộm cả dòng sông thành màu máu. Gió sông thổi phần phật, mang theo mùi tanh của bùn và mùi dầu máy khét lẹt.
Không khí ở công trường im ắng một cách đáng sợ. Không có tiếng máy đóng cọc ầm ầm, không có tiếng công nhân hò dzo ta. Những chiếc sà lan cẩu khổng lồ nằm im lìm trên mặt nước như những con quái vật đang ngủ đông.
Anh Hùng đón tôi ở cầu tàu, khuôn mặt hốc hác, râu ria lởm chởm.
"Minh, em tới rồi. Anh bế tắc quá." – Anh Hùng thở dài, châm điếu thuốc, tay run run – "Cả tuần nay không đóng được cái cọc nào. Thợ lặn đình công hết rồi."
"Vụ tai nạn hôm trước... nghiêm trọng lắm hả anh?" – Tôi hỏi, mắt nhìn ra dòng sông đang cuộn sóng.
"Chết người." – Anh Hùng hạ giọng – "Cậu Út Em, thợ lặn giỏi nhất của đội ông Ba Gàng. Lặn xuống kiểm tra mũi cọc khoan nhồi. Bình hơi còn đầy, dây bảo hộ còn chắc. Vậy mà tự nhiên mất tín hiệu. Lúc kéo lên được thì... tắt thở rồi."
Anh Hùng rùng mình, ném điếu thuốc xuống sông: "Mà kinh khủng nhất là cái chân của nó. Cổ chân phải của nó tím bầm, in rõ mồn một dấu... năm ngón tay."
Vết sẹo trên ngón tay trỏ của tôi khẽ giật. Một cảm giác lạnh lẽo, nhớp nháp như có rong rêu quấn lấy tay mình ập đến.
Thủy quái? Hay là...
"Cho em gặp đội thợ lặn được không?" – Tôi đề nghị.
"Được, họ đang cúng ở miếu Bà Cậu đằng kia. Ông Ba Gàng tuyên bố nếu không giải quyết được chuyện 'người âm', ổng thà bỏ nghề chứ không cho anh em xuống nước nữa."
Miếu Bà Cậu nằm khuất sau một rặng bần già ven sông. Đây là nơi thờ cúng linh thiêng của dân đi ghe và thợ lặn, thờ Bà Thủy Long và Cậu (những vong linh chết sông chết nước linh thiêng).
Khói hương nghi ngút. Mùi nhang trầm quyện với mùi rượu đế và mùi gà luộc nồng nặc.
Một nhóm đàn ông da đen trùi trũi, vạm vỡ, đang ngồi xếp bằng trước miếu. Không ai nói với ai câu nào, không khí trầm mặc như đám tang. Ngồi giữa là một người đàn ông lớn tuổi, tóc hoa râm, khuôn mặt khắc khổ đầy những nếp nhăn của sóng gió. Đó là ông Ba Gàng – trùm thợ lặn vùng này.
Thấy tôi và anh Hùng bước tới, ông Ba Gàng ngước mắt lên nhìn. Ánh mắt ông sắc lẹm, nhưng ẩn sâu trong đó là nỗi sợ hãi cố giấu kín.
"Kỹ sư tới rồi hả? Tính sao? Có mời thầy về chưa?" – Ông Ba hỏi, giọng khàn đặc.
"Dạ cháu chào chú Ba. Cháu là Minh, phụ trách kỹ thuật. Cháu muốn nghe chú kể rõ lại sự tình hôm đó."
Ông Ba Gàng hừ một tiếng, rót chén rượu trắng tạt xuống đất:
"Kể cái gì nữa? Rõ rành rành ra đó. Con Ma Da nó bắt người! Nó bắt thằng Út để thế mạng đầu thai!"
Theo lời ông Ba kể, khúc sông này xưa nay vốn "dữ". Nước chảy xiết, lại có nhiều xoáy ngầm. Dân gian đồn rằng dưới đáy sông có một "thành phố ma" của những người chết đuối. Họ lạnh lẽo, cô độc, nên luôn chực chờ có người sống đi ngang qua để kéo chân, dìm xuống cho chết, đặng họ được siêu thoát. Đó gọi là Ma Da.
Quy tắc của thợ lặn xưa nay rất nghiêm ngặt: Trước khi xuống nước phải cúng gà sống, xin phép "Ông Bà Hà Bá". Và tối kỵ nhất là khi thấy đồng nghiệp gặp nạn dưới nước mà có dấu hiệu "bị kéo", thì tuyệt đối không được giành giật với hà bá, nếu không sẽ phải đền mạng mình.
"Hôm đó..." – Ông Ba Gàng rùng mình nhớ lại – "Thằng Út nó mới lặn xuống chừng mười lăm phút. Nó giật dây báo hiệu an toàn. Tự nhiên sau đó dây sủi bọt ục ục dữ dội. Tui ở trên ghe nắm dây bảo hiểm, cảm giác như có ai ở dưới đang giằng co, lôi thằng Út đi mạnh lắm. Sức nước chảy đã mạnh, sức kéo đó con mạnh gấp mười. Tụi tui ba bốn thằng hò nhau kéo máy tời mà không lại."
Ông Ba nuốt nước bọt: "Tới khi sợi dây chùng xuống, kéo lên được thì thằng Út đi rồi. Mặt nó xanh lè, mắt trợn trừng kinh hãi. Còn cái cổ chân nó... bầm tím ngắt. Vết tay người lớn, ngón tay dài thòng, móng tay cắm sâu vào thịt."
"Chú Ba," – Tôi ngồi xổm xuống, nhìn thẳng vào mắt ông – "Chú cho cháu xem chỗ đóng cọc được không? Cháu cần nhìn tận mắt."
Ông Ba Gàng lưỡng lự một hồi rồi gật đầu: "Được. Nhưng nói trước, ra đó đừng có nói bậy bạ. Sông có miệng đó."
Chiếc ca nô chở tôi, anh Hùng và ông Ba Gàng chạy ra giữa dòng sông Tiền.
Trời đã sập tối hẳn. Mặt sông đen ngòm, mênh mông rợn ngợp. Những con sóng vỗ vào mạn ca nô bì bõm nghe như tiếng người vỗ tay. Gió sông lạnh buốt luồn vào áo.
Ca nô dừng lại cạnh chiếc sà lan cẩu đang neo đậu tại vị trí trụ cầu P14 – nơi xảy ra tai nạn.
Tôi đứng lên mũi ca nô, nhìn xuống mặt nước.
Vết sẹo trên tay tôi bắt đầu phản ứng dữ dội.
Lạnh. Ẩm ướt. Nhớp nháp.
Cảm giác như tôi đang nhúng tay vào một thùng nước đá trộn lẫn với bùn lầy và máu tanh.
Tôi nhắm mắt lại, tập trung tinh thần, kích hoạt "con mắt thứ ba".
Khi tôi mở mắt ra lần nữa, dòng sông không còn là mặt nước đen ngòm. Tôi nhìn xuyên qua lớp nước đục ngầu, xuyên qua bóng tối sâu thẳm.
Dưới đáy sông, ở độ sâu hơn ba mươi mét, nơi những dòng chảy ngầm đang cuộn xoáy hung hãn, tôi thấy một cảnh tượng kinh hoàng.
Không phải một, mà là hàng chục.
Hàng chục cái bóng đen đúa, gầy guộc, tóc tai rũ rượi đang bám chặt lấy chân trụ cầu khoan nhồi dở dang. Chúng lơ lửng trong nước như những dải rong rêu, nhưng có tay, có chân.
Những cánh tay đen ngòm, dài ngoằng như rễ cây đước, đang vươn lên phía mặt nước. Những ngón tay co quắp, móng vuốt sắc nhọn, cào cấu vào lớp vỏ thép của ống vách.
Chúng là Ma Da. Là những vong hồn chết trôi, chết chìm tích tụ ở khúc sông này hàng trăm năm qua.
Nhưng điều đáng sợ nhất là ở trung tâm của đám vong hồn đó. Ngay tại vị trí mũi khoan cọc nhồi đang định cắm xuống.
Có một khối đen khổng lồ, to như một cái đình, đang tỏa ra hắc khí mù mịt. Đó không phải là vong hồn người. Đó là một vật thể.
Tôi nheo mắt nhìn kỹ hơn.
Đó là xác của một chiếc ghe chài lớn, loại ghe buôn gạo ngày xưa, đã mục nát, gãy đôi, chìm sâu dưới lớp bùn. Và bên trong cái xác ghe đó, tôi thấy lấp lánh những đốm sáng xanh lè – hàng trăm đốm sáng.
Đó là xương cốt. Hài cốt của cả một gia đình, hoặc cả một đoàn người đã bỏ mạng cùng lúc trong một vụ chìm ghe thảm khốc năm nào.
Họ bị kẹt lại đó. Bị chôn vùi dưới lớp phù sa dày đặc. Họ không thể siêu thoát vì xác chưa được tìm thấy, chưa được chôn cất tử tế.
Và bây giờ, cái mũi khoan khổng lồ của công trình cầu Mỹ Thuận 2 đang khoan thẳng vào "ngôi nhà" của họ. Đang nghiền nát xương cốt họ.
Hèn gì họ giận dữ. Hèn gì họ kéo chân người sống. Đó không phải là sự độc ác tìm người thế mạng đơn thuần. Đó là sự tự vệ. Họ đang bảo vệ giấc ngủ ngàn thu của mình và người thân.
"Kỹ sư... thấy gì không?" – Ông Ba Gàng hỏi khẽ, giọng run run khi thấy tôi đứng bất động, mồ hôi vã ra như tắm dù gió sông lạnh ngắt.
Tôi quay lại, thở dốc: "Chú Ba, ngày xưa... khúc sông này có từng xảy ra vụ chìm ghe lớn nào không?"
Ông Ba Gàng nhíu mày suy nghĩ, rồi vỗ đùi cái đét:
"Có! Chèn ơi, sao tui quên mất. Hồi tui còn nhỏ xíu, nghe ông già kể lại. Năm Thìn bão lụt (1904), có một chiếc ghe chài chở gạo với hơn chục người của một gia đình đại chủ vùng Cái Bè chạy bão. Ghe tới khúc này thì bị lốc xoáy đánh chìm. Nghe đâu chết sạch cả nhà, không vớt được xác ai hết. Người ta đồn là 'Hà Bá nuốt trọn'."
Tôi gật đầu: "Đúng rồi. Họ đang ở dưới đó. Ngay dưới mũi khoan của mình."
Anh Hùng tái mặt: "Ý em là... mình đang khoan trúng cái xác ghe đó?"
"Không chỉ xác ghe. Mà là mộ phần tập thể của họ. Kế hoạch thi công của mình đang xâm phạm vào 'nhà' của họ. Thảo nào anh em thợ lặn xuống là bị kéo. Họ đang đuổi mình đi."
"Vậy giờ sao Minh? Dời trụ cầu là chuyện lớn lắm, phải xin ý kiến Bộ, thay đổi thiết kế... mất cả mấy tháng trời." – Anh Hùng lo lắng.
Tôi nhìn xuống dòng sông lần nữa. Những cánh tay đen ngòm vẫn đang vươn lên, đầy hận thù và tuyệt vọng.
"Không cần dời trụ cầu đi xa đâu anh. Chỉ cần xê dịch tim cọc sang bên trái khoảng 2 mét thôi. Cái ghe nằm lệch về phía bên phải trụ."
"Nhưng làm sao để biết chính xác?" – Anh Hùng hỏi.
"Em sẽ chỉ điểm. Nhưng trước hết..." – Tôi quay sang ông Ba Gàng – "Chú Ba, chú giúp cháu chuẩn bị một lễ cúng. Không phải cúng gà sống hay heo quay như mọi khi đâu. Cái họ cần không phải máu."
"Vậy cúng cái gì?"
"Cúng 'Đất' và 'Áo'. Họ lạnh, và họ cần một nấm mồ."
Đêm hôm đó, ngay trên chiếc sà lan giữa sông, một đàn cúng đặc biệt được thiết lập.
Không có thầy pháp áo vàng áo đỏ múa may. Chỉ có tôi, anh Hùng và nhóm thợ lặn của ông Ba Gàng.
Trên bàn cúng, thay vì gà vịt, tôi bày ra những bộ quần áo giấy được cắt dán tỉ mỉ, rất nhiều quần áo, cả người lớn và trẻ con. Và đặc biệt, có một chậu đất sạch được lấy từ trên bờ, gói ghém cẩn thận trong vải đỏ.
Tôi thắp ba nén nhang to, cắm vào bát hương đặt ở mũi sà lan. Gió sông thổi phần phật, nhưng lạ thay, ba nén nhang cháy đỏ rực, khói bay thẳng tắp lên trời chứ không bị tản mát.
Tôi đứng trước án, chắp tay, dùng tâm thức để giao tiếp với những vong linh dưới đáy sông. Tôi không dùng bùa chú để trấn áp hay xua đuổi. Tôi dùng sự thấu cảm của một người đã từng nếm trải nỗi đau mất mát.
"Hỡi những vong linh trôi dạt, những người đã nằm lại dưới đáy sông lạnh lẽo hơn một thế kỷ qua. Chúng tôi là người trần mắt thịt, vì mưu sinh, vì xây dựng cầu đường cho bà con đi lại mà vô tình kinh động đến giấc ngủ của các vị. Chúng tôi ngàn lần xin lỗi."
Mặt sông bắt đầu nổi sóng. Nước vỗ ầm ầm vào mạn sà lan. Sàn sà lan rung chuyển. Nhóm thợ lặn mặt cắt không còn giọt máu, quỳ sụp xuống vái lạy lia lịa.
Tôi vẫn đứng vững, giọng trầm ổn:
"Chúng tôi biết các vị lạnh lẽo, cô độc, và đau đớn khi xương cốt bị xâm phạm. Hôm nay, chúng tôi dâng lên nén nhang, manh áo để các vị được ấm lòng. Và xin hứa, chúng tôi sẽ xê dịch mũi khoan, tránh xa nơi các vị an nghỉ. Xin các vị hãy mở lòng từ bi, buông bỏ oán hận, nhận lấy chút lòng thành này và để cho anh em thợ thuyền được bình an."
Nói xong, tôi hóa vàng mã xuống sông. Những bộ quần áo giấy cháy bùng lên, tro tàn rơi xuống mặt nước đen ngòm, lập lòe trôi đi.
Tiếp đó, tôi cầm bọc đất đỏ, từ từ thả xuống dòng sông, ngay vị trí xác chiếc ghe chài.
"Đất này là đất quê hương. Xin gửi xuống để đắp cho các vị một nấm mồ tượng trưng, để các vị không còn cảm thấy mình là những hồn ma trôi sông lạc chợ nữa. Từ nay, chỗ này là nhà, là mồ yên mả đẹp của các vị."
Bọc đất chìm xuống nước bõm một tiếng.
Im lặng.
Cả không gian như nín thở.
Đột nhiên, từ dưới đáy sông, một luồng bọt khí khổng lồ sủi lên ục ục. Mặt nước sôi lên sùng sục như nồi lẩu.
Nhưng lần này, vết sẹo trên tay tôi không còn lạnh buốt nữa. Nó ấm dần lên.
Tôi nhìn thấy, dưới làn nước sâu thẳm, những cánh tay đen ngòm đang từ từ thu lại. Những bóng ma vất vưởng quanh xác chiếc ghe chài dần dần tan biến. Họ nhận lấy những bộ quần áo, những nắm đất, và khuôn mặt họ giãn ra, không còn vẻ hung tợn nữa.
Khối hắc khí bao trùm xác ghe tan đi, để lộ ra một luồng ánh sáng xanh dịu nhẹ - ánh sáng của sự an nghỉ.
Họ đã chấp nhận lời xin lỗi.
Tôi quay sang ông Ba Gàng, chỉ tay về phía trái sà lan:
"Chú Ba, dời mũi khoan qua hướng này 2 mét. Chắc chắn an toàn."
Ông Ba Gàng nhìn tôi, ánh mắt đầy vẻ kính nể: "Kỹ sư... cậu không phải người thường. Tui lặn lội cả đời trên sông nước, chưa thấy ai cúng mà 'nghe' được tiếng Hà Bá như cậu."
Sáng hôm sau, công việc đóng cọc được tái khởi động.
Dù đã được trấn an, nhưng không khí vẫn còn căng thẳng. Ông Ba Gàng đích thân mặc đồ lặn, xung phong xuống nước để định vị mũi khoan mới.
"Để tui xuống. Có gì tui chịu. Anh em cứ ở trên." – Ông Ba nói chắc nịch, ngậm ống thở rồi nhảy ùm xuống nước.
Trên sà lan, mọi người nín thở theo dõi sợi dây bảo hiểm và màn hình camera giám sát.
5 phút. 10 phút. 15 phút trôi qua.
Tín hiệu vẫn ổn định.
Qua camera mờ mờ dưới nước, chúng tôi thấy ông Ba Gàng đang thao tác nhẹ nhàng quanh vị trí mới. Không có dòng chảy xiết bất thường. Không có bọt khí lạ. Và quan trọng nhất, không có bàn tay đen ngòm nào thò ra kéo chân ông.
Đột nhiên, trên màn hình, ông Ba Gàng dừng lại. Ông chỉ tay vào một vật gì đó nằm lập lờ dưới lớp bùn, cách vị trí cũ (nơi khoan trúng) khoảng 2 mét.
Đó là một thanh gỗ lớn, đen sì, đã mục nát một phần nhưng vẫn còn nhìn rõ những hoa văn chạm trổ tinh xảo. Đó là cột buồm của chiếc ghe chài cổ.
Mọi người ồ lên kinh ngạc. Đúng như tôi nói, chiếc ghe nằm ngay đó. Nếu không dời mũi khoan, chắc chắn sẽ đâm nát nó.
Ông Ba Gàng làm dấu hiệu "OK" rồi ra hiệu kéo lên.
Khi ông ngoi lên mặt nước, tháo mặt nạ ra, ông cười ha hả, tiếng cười vang động cả khúc sông:
"Ổn rồi bà con ơi! Nước êm ru! Mấy ổng chịu rồi! Mấy ổng nhường đường cho mình rồi!"
Nhóm thợ lặn reo hò, vỗ tay rần rần. Anh Hùng chạy tới bắt tay tôi, lắc lấy lắc để: "Cứu tinh! Đúng là cứu tinh! Cảm ơn em Minh!"
Tôi mỉm cười, nhưng mắt vẫn nhìn xa xăm về phía mặt sông phẳng lặng.
Tôi biết, dưới đó vẫn là thế giới của họ. Chúng ta chỉ là những vị khách mượn đường. Sự tôn trọng và thấu hiểu mới là lá bùa hộ mệnh mạnh nhất, chứ không phải là những con gà hay đầu heo cúng tế.
Chiều hôm đó, tôi ngồi bên bờ sông, nhìn hoàng hôn buông xuống cầu Mỹ Thuận. Vết sẹo trên tay tôi hoàn toàn dịu lại, chỉ còn là một vệt trắng mờ nhạt.
Bỗng nhiên, một chiếc lá bần trôi dạt vào bờ, ngay dưới chân tôi. Trên chiếc lá, có một con ốc nhỏ xíu đang bám vào.
Tôi nhặt chiếc lá lên, thả nó trôi ra xa, về phía dòng chảy lớn.
"Đi đi, về với biển lớn."
Điện thoại tôi lại rung lên. Lần này là một số lạ.
"Alo?"
"Minh hả con? Thầy Tư Tâm đây." – Giọng nói trầm ấm quen thuộc của vị sư già ở Chùa Dơi vang lên.
"Dạ, con chào thầy! Thầy khỏe không ạ?" – Tôi mừng rỡ.
"Thầy vẫn khỏe. Nhưng thầy gọi cho con không phải để hỏi thăm. Thầy có chuyện này muốn nhờ con."
Giọng thầy Tư Tâm trở nên nghiêm trọng:
"Con đang ở Sài Gòn hay miền Tây?"
"Dạ con đang ở Vĩnh Long, công trình cầu Mỹ Thuận."
"Ừ, vậy tiện đường. Con ghé qua nhà bà Mười Héo ở Trà Vinh giùm thầy được không? Bà ấy là người quen cũ của thầy. Cháu gái bà ấy... đang gặp chuyện lạ lắm."
"Chuyện lạ gì hả thầy?"
"Con bé đó mới 17 tuổi. Dạo gần đây đêm nào nó cũng trèo lên nóc nhà ngồi, miệng thì hát nhạc Bolero, giọng thì khàn đặc như đàn ông. Mà nó cứ đòi... ăn thịt sống."
Tôi rùng mình. Ăn thịt sống? Giống hệt triệu chứng của Cậu Ba ngày xưa.
"Thầy nghi nó bị... Ma Lai hay là Ngải?"
"Không." – Thầy Tư Tâm ngập ngừng – "Thầy nghi nó bị 'nhập xác đổi hồn'. Nhưng cái vong này không phải người thường. Nó là vong của một người lính chế độ cũ chết trận năm 75, nhưng lại có liên quan đến một loại bùa chú Kumanthong của Thái Lan mà con bé lỡ thỉnh về nuôi."
"Kumanthong?"
Tôi nhớ đến những con búp bê ma quái mà giới showbiz hay đồn đại. Một sự kết hợp giữa vong lính chiến và bùa ngải Thái Lan?
"Dạ, con sẽ đi ngay."
Tôi cất điện thoại. Gió sông bỗng thổi mạnh hơn, mang theo hơi lạnh của một cơn mưa dông sắp tới.
Cuộc hành trình của tôi dường như càng lúc càng đi sâu vào những góc khuất tăm tối nhất của thế giới tâm linh. Từ những bóng ma đô thị cô đơn, đến những oan hồn sông nước bi thương, và giờ đây là sự trỗi dậy của những tà thuật ngoại lai đầy nguy hiểm.
Tôi xốc lại ba lô, bước lên bờ. Phía trước là Trà Vinh, và một bí ẩn mới đang chờ đợi.
Chương khác
- Chương 14: ĐOẠN KẾT - BÌNH MINH TRÊN ĐỈNH THẤT SƠN
- Chương 15: CHUNG CƯ CŨ & TIẾNG BI SẮT (SÀI GÒN)
- Chương 16: BÓNG MA ÁO TÍM & LỌN TÓC THỀ (SÀI GÒN)
- Chương 18: TIẾNG HÁT TRÊN NÓC NHÀ & VONG HỒN LÍNH TRẬN (TRÀ VINH)
- Chương 19: CĂN PHÒNG CỦA "BÉ CƯNG" (SÀI GÒN)
- Chương 20: HỒI KÝ NGƯỜI BỐC MỘ & LỜI NGUYỀN HUYẾT THỐNG