THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 27: Bà Hàng Chè Nói Lại
Trời vừa sáng hẳn, quán chè của Tôn Nhị Nương ở đầu bến đò Vãn Độ mới mở cửa được một lúc. Bà Tôn bày phản, xếp ghế tre, nhóm bếp đun ấm nước đầu tiên…
Nội dung chương
Trời vừa sáng hẳn, quán chè của Tôn Nhị Nương ở đầu bến đò Vãn Độ mới mở cửa được một lúc. Bà Tôn bày phản, xếp ghế tre, nhóm bếp đun ấm nước đầu tiên của ngày, tay làm việc quen thuộc mà mắt thỉnh thoảng lại liếc về phía bãi sông ngoài trấn, nơi cột khói từ nhà chài của lão Giả vẫn còn bốc lên mỏng trong nắng sớm. Cả bến đã râm ran tin nhà lão chài bị đốt trong đêm. Bà hàng chè nghe tin ấy từ người khách đầu tiên, nghe mà tay rót nước chè hơi run, làm nước sánh ra ngoài miệng chén.
Trần Văn Khải và Triệu Thiết Ngưu tới quán lúc bà đang cúi xuống bếp. Lần này đoàn không cải trang, không vòng vo. Thiết Ngưu mặc áo bộ đầu. Khải mang theo cặp hồ sơ của phủ. Trong cặp có một thứ hắn đặt lên phản quán ngay khi ngồi xuống, trước khi gọi một chén chè nào: bản lời khai cũ của bà Tôn ở phiên sơ thẩm, bản do chính bà điểm chỉ. Trong bản ấy, bà khai đã bán chè tới nửa đêm mười hai tháng tám và thấy Trần Đại Trụ lảng vảng gần tiệm họ Ngô lúc nửa đêm.
Thứ thứ hai Khải đặt lên phản không phải giấy. Là tin hắn nói ra bằng lời, chậm và rõ, cho bà và cho mấy người khách sớm đang ngồi quanh cũng nghe thấy một phần.
- Bà Tôn, nhà chài của lão Giả Tam Giang vừa bị đốt đêm qua. Ông già ấy chỉ kể một câu chuyện về chiếc thuyền không đèn. Người ta đốt nhà ông ấy vì câu chuyện ấy. Bà là nhân chứng còn lại của đêm mười hai. Ta tới đây không phải để lấy cung theo lệ. Ta tới để hỏi bà, bà có muốn lời khai của mình đứng nguyên như cũ, tới ngày có thêm một nhà nữa cháy không.
Bà Tôn lặng đi rất lâu. Bà đặt ấm nước xuống, ngồi xuống mép phản đối diện hai người, hai tay đan vào nhau trên đùi, ngón tay chai sạn vì nhiều năm bưng chè và rửa chén. Mấy người khách sớm biết ý, bưng chén ra ngồi xa ở đầu phản, không ai bỏ đi, cũng không ai lại gần.
Rồi bà sụp xuống. Không phải quỳ theo lễ, mà là người đàn bà năm mươi hai tuổi bỗng không giữ nổi mình nữa, vai run lên, nước mắt rơi xuống phản quán của chính mình.
- Tôi khai gian. Lời khai ấy là gian. Xin hai vị cho tôi nói lại từ đầu, nói thật, có trời đất ở bến này chứng cho tôi.
Thiết Ngưu ra hiệu cho Khải mở sổ, chấm mực. Khải lập văn bản ngay tại quán chè, ghi rõ giờ, nơi chốn, người làm chứng là bộ đầu của phủ, người khai tự nguyện nói lại, không ai ép buộc. Bà Tôn kể, ngắt quãng vì khóc, nhưng từng mốc giờ đều rõ ràng, rõ hơn hẳn bản khai cũ trơn tru một cách đáng ngờ.
Đêm mười hai tháng tám, mưa nhỏ từ đầu buổi tối. Quán chè của bà ế khách, người qua bến thưa hẳn. Bà đóng quán từ đầu giờ Hợi, cài cửa, dọn phản, rồi về nhà sau quán ngủ sớm như mọi đêm mưa khác. Bà không bán chè tới nửa đêm. Bà không thấy Trần Đại Trụ lảng vảng gần tiệm họ Ngô, cũng không thấy bất kỳ ai lảng vảng ở bến sau giờ Hợi đêm ấy, vì bà không có ở quán để mà thấy. Toàn bộ đoạn khai thấy người lúc nửa đêm trong bản cũ là bịa, bịa từng chữ.
Mấy hôm sau đêm án mạng, khi Đại Trụ đã bị bắt và cả trấn đang bàn tán, quản gia của biệt viện Tùng Phong là Lỗ Phúc tới quán của bà. Hắn không tới uống chè. Hắn ngồi xuống phản, đặt lên phản mười đồng đại dương, và đọc cho bà nghe một bản khai có sẵn, bảo bà học thuộc, tới ngày ra phủ thì khai đúng như thế: bán chè tới nửa đêm, thấy người gánh thuê lảng vảng gần tiệm. Hắn còn nhắc khéo món nợ của con trai bà ở sòng bạc và ở tiệm cầm đồ, món nợ mà người của biệt viện có thể làm cho nặng thêm bất cứ lúc nào, hoặc có thể cho qua nếu bà biết điều. Mười đồng trên phản, món nợ của con trai sau lưng, và nỗi sợ một góa phụ hàng chè không dám trái ý nhà họ Lỗ, ba thứ ấy cộng lại thành lời khai gian của bà ở sơ thẩm.
- Tôi nghèo, tôi sợ nợ. Tôi nghĩ bụng, người ta đã bắt được hung thủ rồi, mình khai thêm một câu cũng không đổi được gì, lại được mười đồng và yên chuyện cho con. Tôi không ngờ một câu nói của mình lại thành một sợi dây nữa thắt vào cổ người ta ở công đường. Mấy đêm nay tôi nghe tin sắp tới ngày chém, tôi ngủ không yên. Đêm qua nhà lão Giả cháy, tôi biết nếu tôi còn im, tôi sẽ mang theo một mạng người xuống mồ.
Bà nói câu ấy run rẩy, tay nắm chặt mép phản: tôi chưa muốn chết mà mang theo một mạng người.
Khải ghi trọn lời khai mới, đọc lại từng đoạn cho bà nghe, bà gật đầu xác nhận, rồi điểm chỉ vào văn bản ngay tại phản quán, trước mặt bộ đầu và mấy người khách sớm làm chứng việc điểm chỉ. Văn bản ghi rõ: người khai tự thú đã nhận mười đồng của Lỗ Phúc để khai gian, xin khai lại sự thật, xin chịu tội khai gian trước phủ, và xin được ra công đường nói lại lời này khi phủ gọi. Tên Lỗ Phúc, lần đầu tiên trong toàn bộ vụ án, bị gọi thẳng trong một văn bản chính thức của phủ, không còn là lời đồn, lời say, hay lời kể không ai tin nữa.
Thiết Ngưu cất văn bản vào cặp hồ sơ, khóa cặp lại. Ông nói với bà Tôn một câu vừa dặn vừa trấn an.
- Bà giữ mình. Từ giờ tới trưa, người của phủ sẽ ở gần bến. Ai tới quán hỏi chuyện, bà cứ nói bà đã khai lại với phủ rồi, ngoài ra không nói thêm với ai. Trưa nay phủ gọi, bà phải ra đường, nói lại đúng những lời sáng nay, trước mặt cả trấn.
Trước khi về phủ trình văn bản cho Cố Minh Đức ký duyệt, Khải còn hỏi bà một điều cuối, điều hắn đã thắc mắc từ ngày chép bản khai cũ: vì sao hai lần lấy cung trước đây, giờ giấc trong lời khai của bà lại lệch nhau. Bà cười buồn, lau nước mắt.
- Vì bản người ta đọc cho tôi nghe, tôi học không thuộc. Lần đầu tôi nói một giờ, lần sau tôi nhớ sai, nói giờ khác, mà người lấy cung cũng không hỏi lại. Họ chỉ cần tôi nói có thấy người. Giờ nào, với họ, cũng như nhau cả.
Câu nói ấy Khải cũng ghi vào sổ tay riêng. Nó không nằm trong văn bản khai lại, nhưng nó nói rõ cách một vụ án tử hình đã được làm ra ở phủ này. Nhân chứng học thuộc không xong cũng không sao. Giờ giấc lệch nhau cũng không ai hỏi lại, miễn là kết luận có sẵn được giữ nguyên tới ngày tuyên án. Hắn nghĩ, nếu đêm qua tri phủ không mở lại hồ sơ gốc, thì sáng nay bà Tôn vẫn sẽ mở quán như mọi ngày. Gói mười đồng vẫn nằm dưới đáy hòm. Trưa nay một người vô tội sẽ bị đưa ra pháp trường, trong khi bà đứng ở đầu bến nhìn theo mà không dám mở miệng.
Khải ghi tới đoạn mười đồng, ngòi bút dừng lại một nhịp. Mười đồng mua một lời khai. Mười đồng góp vào một bản án tử hình. Mười đồng, đối với nhà họ Lỗ, không bằng tiền một đêm ở sòng bạc. Mà đối với một góa phụ hàng chè, nó là cả một mùa quán. Nó là món nợ của con trai treo trên đầu, là cái giá người ta đã tính rất kỹ trước khi tới đặt lên phản quán này. Hắn ghi con số ấy khoanh tròn trong sổ tay riêng, vì hắn biết trước công đường, con số càng nhỏ, tội của kẻ mua chuộc càng rõ: chúng coi một mạng người rẻ tới mức chỉ cần mười đồng và một lời dọa là đủ.
Bà Tôn còn kể thêm một việc nhỏ mà bà giấu kín từ ngày khai gian tới nay. Sau phiên sơ thẩm, bà mang mười đồng ấy về, không dám tiêu, gói trong một mảnh vải, giấu dưới đáy hòm gỗ đựng chén ở nhà sau. Đêm nào nghe tiếng trống canh điểm giờ hành hình sắp tới trong tin đồn của bến, bà cũng mở hòm ra nhìn gói vải rồi lại cất đi. Sáng nay, trước khi đoàn tới, bà đã lấy gói vải ra đặt sẵn dưới phản quán, định bụng nếu phủ tới hỏi, bà sẽ mang cả mười đồng ấy ra nộp cùng lời khai lại, để tay mình sạch hẳn. Khải cho ghi việc ấy vào cuối văn bản, ghi rõ mười đồng tiền mua chuộc còn nguyên, người khai xin nộp lại cho phủ khi ra đường, để vật chứng của lời tự thú không chỉ là nước mắt.
Nghe tới đó, mấy người khách sớm ngồi ở đầu phản cũng lặng đi. Một người trong số họ, phu bến đã uống chè ở quán này nhiều năm, đứng lên làm chứng thêm một câu ngắn. Đêm mười hai tháng tám mưa nhỏ, ông về qua quán chè lúc đầu giờ Hợi. Lúc ấy ông đã thấy quán đóng cửa, đèn tắt, đúng như bà Tôn vừa khai lại. Câu nói ấy được Khải ghi vào biên bản phụ, có tên người làm chứng, để lời khai lại của bà Tôn không đứng một mình như lời khai cũ của bà từng đứng một mình ở sơ thẩm.
Khi hai người đứng dậy rời quán, bà Tôn bất ngờ giữ tay áo Khải lại. Bàn tay bà còn ướt nước mắt, nắm rất chặt, như nắm lấy cơ hội cuối cùng để tự cứu mình khỏi một tội sẽ theo bà cả đời.
- Cậu thư lại, trưa nay xử lại thật à? Tôi, tôi có phải ra đường không?
Khải nhìn bà, đáp rõ ràng, không an ủi suông.
- Bà phải ra. Và lần này, bà nói thật.