THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 30: Chiếc Nhẫn Ở Tiệm Cầm Đồ

Giờ Tỵ của ngày hai mươi tám tháng tám, Trần Văn Khải tới tiệm cầm đồ Điển Ký một mình. Bộ đầu Triệu Thiết Ngưu đã chính thức bị rút về doanh từ giờ…

Nội dung chương

Giờ Tỵ của ngày hai mươi tám tháng tám, Trần Văn Khải tới tiệm cầm đồ Điển Ký một mình. Bộ đầu Triệu Thiết Ngưu đã chính thức bị rút về doanh từ giờ trước, bề ngoài không còn ở phủ nữa, nên chuyến đi này không có người cầm dao đi bên cạnh hắn. Hắn chỉ mang theo thẻ gỗ của phủ, cặp hồ sơ, và một hộp vật chứng trống của phủ có niêm phong sẵn, ôm trước ngực như ôm một phần của phiên tòa sắp tới.

Điển Ký là tiệm cầm đồ lớn nhất trong trấn, nằm ở phố chính gần bến, cửa tiệm hẹp, quầy gỗ cao, sau quầy là tủ sắt và dãy kệ chứa đồ cầm đã quá hạn chưa chuộc. Chủ tiệm Tiền Bảo Sâm, năm mươi tám tuổi, người gầy, mắt tinh, làm nghề cầm đồ mấy chục năm ở trấn này, thuộc mặt gần như mọi người trong trấn và thuộc cả thói quen của từng món đồ quý qua tay ông. Một chiếc nhẫn ngọc của chủ tiệm tạp hóa ở bến, nếu từng qua cửa tiệm này, sẽ không qua nổi mắt ông mà không để lại dấu vết trong sổ.

Khải xuất trình thẻ gỗ của phủ, nói rõ việc cần: xem sổ cầm đồ buổi sáng ngày mười ba tháng tám, ngày phát hiện án mạng ở tiệm họ Ngô, và kiểm một món đồ cầm có thể liên quan tới vụ án sắp xử lại vào trưa nay.

Tiền Bảo Sâm ban đầu chối quanh, đúng như Khải đã liệu. Ông nói sổ cầm đồ là sổ làm ăn của tiệm, khách cầm đồ tin tiệm mới mang đồ tới, lộ tên khách ra là mất chữ tín, mất cả nghề. Ông nói tháng tám tiệm nhận hàng trăm món, sáng mười ba có gì đặc biệt mà nhớ. Ông vừa nói vừa liếc về phía cửa tiệm, nơi người qua phố bắt đầu đông lên trong nắng giờ Tỵ, như sợ một cuộc hỏi han ở quầy này sẽ lọt vào tai ai đó đang đứng ngoài kia nghe ngóng.

Khải không tranh cãi về chữ tín của nghề cầm đồ. Hắn đặt lên quầy hai điều, không phải giấy tờ, mà là hai sự thật của buổi sáng nay, nói bằng giọng đủ nhỏ để chỉ người sau quầy nghe thấy.

- Ông Tiền, đêm qua nhà chài của lão Giả Tam Giang bị đốt vì ông già ấy dám kể chuyện chiếc thuyền không đèn. Sáng nay bà Tôn ở quán chè đã khai lại toàn bộ lời khai gian của mình trước phủ, có điểm chỉ, có bộ đầu chứng kiến. Vụ án này trưa nay sẽ xử lại trước cả trấn, không còn là chuyện trong hồ sơ nữa. Bây giờ ta hỏi ông một câu, ông chọn trả lời cho rõ: ông muốn ra công đường với tư cách nhân chứng giữ đồ cầm của nạn nhân? Hay ông muốn sau này người ta hỏi vì sao đồ của người chết nằm trong tủ của tiệm ông mà ông im lặng? Lúc ấy ông sẽ trả lời với tư cách tòng phạm che giấu tang vật?

Tiền Bảo Sâm lặng đi. Bàn tay đang lần tràng hạt của ông dừng lại. Ông nhìn Khải rất lâu, nhìn thẻ gỗ của phủ trên quầy, nhìn hộp vật chứng trống Khải mang theo. Rồi như người đã tính xong một món nợ khó nhất trong nghề, ông đứng dậy. Ông tự tay hạ cửa tiệm xuống một nửa, treo bảng tạm nghỉ lên cửa, và dẫn Khải vào phía trong, nơi tủ sắt và sổ cầm đồ được giữ.

Sổ cầm đồ của tháng tám là một cuốn dày, ghi theo ngày, mỗi món một dòng: ngày cầm, tên người cầm, món đồ, số tiền cho vay, hạn chuộc. Khải lật tới sáng mười ba tháng tám theo chỉ tay của chủ tiệm. Dòng ghi nằm ở gần đầu trang của ngày ấy, nét chữ của người ghi sổ trong tiệm đều và rõ.

Sáng mười ba tháng tám, một người đàn ông tới cầm một chiếc nhẫn ngọc bích, mặt nhẫn khắc chữ Thọ, lấy bốn mươi đồng đại dương, hạn chuộc ba tháng. Tên người cầm ghi trong sổ là Trần Văn.

Khải đọc cái tên ấy hai lần. Trần Văn. Một cái tên giả trơn tru, không họ hàng, không địa chỉ, không một dấu vết nào để truy, trừ một điều người cầm nó không tính tới. Mặt của hắn đã bị chủ tiệm cầm đồ nhớ kỹ, như nhớ mọi khuôn mặt mang đồ quý tới cầm vào một buổi sáng trấn vừa có án mạng.

Tiền Bảo Sâm mở tủ sắt, lấy ra một hộp gỗ nhỏ bọc vải đỏ, mở hộp ngay trước mặt Khải. Trong hộp, trên lớp vải lót, là chiếc nhẫn ngọc bích, màu ngọc sâu, mặt nhẫn khắc chữ Thọ đã mòn nhẹ ở nét. Đó là đúng chiếc nhẫn cả bến đò Vãn Độ đều biết của Ngô Đức Tài. Đó là chiếc nhẫn ông đeo thường trực ở ngón cái tay trái. Chiếc nhẫn ấy đã biến mất khỏi ngón tay của tử thi trong biên bản khám nghiệm đầu tiên, mà không một ai trong đoàn khám đầu tiên chịu truy tới cùng.

Khải nhìn chiếc nhẫn, trong lòng hiện lên ngón tay trống nhẫn trên thi thể ở nhà quàn đêm qua. Mắt xích bị đứt mười sáu ngày qua, sáng nay, nằm gọn trong lòng bàn tay của một chủ tiệm cầm đồ.

- Ông Tiền, tên trong sổ là giả. Người cầm thì sao?

Tiền Bảo Sâm đáp không do dự nữa, giọng chắc như người đã quyết sẽ nói câu này ra công đường.

- Tên thì giả, nhưng mặt thì tôi nhớ. Người cầm nhẫn là quản gia của biệt viện họ Lỗ, Lỗ Phúc. Hắn tới lúc trời còn chưa sáng hẳn, tiệm vừa mở cửa, tay áo còn ướt tới khuỷu, như vừa đi từ bến lên. Hắn nói nhặt được nhẫn, cần tiền gấp, bảo ghi tên nào cũng được. Tôi làm nghề này mấy chục năm, mặt người cầm đồ quý vào giờ sớm như thế, tôi không quên được. Huống chi trưa hôm ấy cả trấn đã đồn ầm chuyện ông Ngô chết, nhẫn của ông ấy mất. Tôi giữ nhẫn lại trong hộp riêng, không cho vào dãy đồ cầm thường, vì tôi biết sớm muộn cũng có ngày phủ tới hỏi.

Khải lập biên bản giao nhận ngay tại tiệm, ghi rõ từng mắt xích của chuỗi giữ gìn vật chứng từ giờ này trở đi, để tới khi trình trước công đường không một ai bẻ được. Vật chứng gồm chiếc nhẫn ngọc và biên lai gốc của món cầm sáng mười ba tháng tám. Hai thứ ấy do chủ tiệm Điển Ký giao trực tiếp cho thư lại của phủ là Trần Văn Khải, niêm phong ngay tại tiệm thành hộp vật chứng của phủ. Khải ký nhận và giữ hộp, sẽ trình tại công đường trong phiên hội thẩm trưa nay. Tiền Bảo Sâm ký tên vào biên bản giao nhận, điểm chỉ thêm một dấu, và đồng ý theo lời mời của phủ ra công đường làm chứng khi được gọi, mang theo cuốn sổ cầm đồ gốc của tiệm.

Biên lai gốc được lấy ra từ kẹp giấy lưu của tiệm, giấy mỏng đã ngả màu ở mép, ghi đúng những điều trong sổ: ngày cầm mười ba tháng tám, món đồ nhẫn ngọc khắc chữ Thọ, số tiền bốn mươi đồng, tên người cầm Trần Văn. Khải đặt biên lai cùng hộp nhẫn vào trong hộp vật chứng lớn hơn của phủ, niêm phong hai lớp, ghi giờ niêm phong là giờ Tỵ, ký tên mình lên mép niêm phong. Rồi hắn ôm hộp rời tiệm bằng cửa sau theo lời dặn của chủ tiệm, vì cửa trước phố chính sáng nay đông người qua lại bất thường.

Trên đường về phủ, qua hai con phố và một cây cầu đá nhỏ bắc qua kênh, Khải cảm nhận rõ có người bám theo sau. Kẻ ấy không gần tới mức nghe được tiếng chân, mà đủ gần để mỗi lần hắn rẽ góc là một bóng áo tối màu lại xuất hiện ở đầu phố phía sau một nhịp chậm hơn. Hắn không dừng lại, không quay đầu. Hắn ôm chặt hộp vật chứng vào ngực, đi nhanh hơn qua những đoạn phố vắng. Hắn lẫn vào đám người gánh hàng đi chợ sớm ở đoạn phố đông, rồi rẽ gấp vào cổng trong của phủ đúng lúc trống điểm giờ Tỵ vang lên ngoài phố.

Ở thư phòng, Cố Minh Đức đã trải sẵn một tờ giấy trắng trên án, bên cạnh là con triện tri phủ đặt ngay ngắn từ giờ trước. Ông nghe Khải trình lại toàn bộ việc ở Điển Ký, xem biên bản giao nhận, kiểm niêm phong của hộp vật chứng mà không mở hộp, rồi gật đầu, đặt hộp nhẫn vào chồng hồ sơ hội thẩm ở vị trí mắt xích cuối cùng của buổi trưa nay.

Khải còn trình thêm một điều hắn đã hỏi kỹ ở tiệm trước khi lập biên bản, điều mà hắn biết tri phủ sẽ hỏi tới nếu hắn không hỏi trước. Từ sáng mười ba tháng tám tới nay, có ai tới Điển Ký hỏi chuộc chiếc nhẫn, hỏi mua đứt nó, hay dặn chủ tiệm phải xử lý nó thế nào không. Tiền Bảo Sâm đáp rằng khoảng mười ngày sau khi cầm, có một người của biệt viện tới tiệm uống trà và hỏi vòng vo về mấy món đồ cầm quá hạn ở bến, trong đó nhắc riêng tới đồ ngọc. Ông giả vờ không nhớ, nói đồ cầm chưa tới hạn thì tiệm không được phép bán, người ấy nghe xong bỏ đi và không quay lại nữa. Chi tiết ấy Khải cũng ghi vào biên bản phụ, vì nó cho thấy phía biệt viện biết chiếc nhẫn đang nằm ở đâu, đã từng tìm cách chạm vào nó, và chỉ chưa ra tay mạnh vì chưa tới lúc vụ án bị lật lại. Sáng nay, khi Khải ôm hộp vật chứng rời tiệm bằng cửa sau, hắn hiểu vì sao sau lưng mình có người bám theo. Chiếc nhẫn rời khỏi tủ sắt của Điển Ký là chiếc nhẫn bắt đầu đi về phía công đường. Đó là hướng đi mà phía bên kia sợ nhất trong buổi sáng nay.

- Đủ rồi. Nhẫn có, biên lai có, người nhận diện có, chuỗi giữ gìn liền mạch từ tiệm cầm đồ qua tay con về tới phủ này. Dù trưa nay chủ tiệm có tới được công đường hay không, vật chứng này vẫn đứng được một mình.

Ông nhìn tờ giấy trắng trên án, rồi nhìn con triện, và nói với Khải một câu làm thư lại trẻ hiểu rằng giờ của tờ giấy ấy đã tới.

- Ngồi xuống. Mài mực. Ta đọc tên lệnh. Con chép.

Chương khác

Xem thêm