THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 37: Bàn Tay Trái

Mười hai giờ trưa, vật chứng thứ nhất của phiên hội thẩm được trình giữa công đường: khám nghiệm. Ngỗ tác của phủ bước ra giữa đường, quỳ xuống, rồi đứng…

Nội dung chương

Mười hai giờ trưa, vật chứng thứ nhất của phiên hội thẩm được trình giữa công đường: khám nghiệm.

Ngỗ tác của phủ bước ra giữa đường, quỳ xuống, rồi đứng dậy theo lệnh của chủ tọa. Ông là người đã khám lại tử thi của Ngô Đức Tài trong nhà quàn vào đêm phúc tra, từ hai mươi ba giờ năm mươi tới một giờ sáng. Trước mặt tri phủ, thư lại và bộ đầu, và là người đã ký tên chịu trách nhiệm vào bản khám nghiệm mới mà Trần Văn Khải vừa trao lên án. Sáng nay ông mặc áo dài sạch, hai tay chắp trước bụng, vẻ mặt của một người làm nghề chạm vào tử thi mấy chục năm, biết rõ lời nói của mình ở công đường nặng nhẹ ra sao.

Theo lệnh của Cố Minh Đức, Khải đọc to bản khám nghiệm mới trước cả đường, từng ý một, chậm và rõ, để dân ở sân ngoài cũng nghe được. Ông ngỗ tác đứng bên cạnh xác nhận từng ý sau khi Khải đọc xong.

Tử thi Ngô Đức Tài, năm mươi lăm tuổi, có đúng ba vết đâm. Hai vết ở vai phải và cánh tay trái, nông sâu khác nhau, cùng một hướng. Vết thứ ba, nhát chí mạng, ở sườn trái, đâm vào sâu nhất, hướng đi của lưỡi dao là từ trước và từ phía phải chếch xuống phía trái. Miệng vết xé rộng về một phía đặc trưng: đó là vết xé chỉ tạo ra khi người đâm đứng đối diện với nạn nhân, cầm dao bằng tay trái, đâm thẳng vào rồi rút dao ra theo đà của cánh tay trái. Một người cầm dao bằng tay phải, đứng ở vị trí ấy, sẽ để lại miệng vết xé ngược hoàn toàn.

Khải đọc tới đó thì dừng lại theo hiệu của chủ tọa, để ngỗ tác tự nói phần kết luận bằng lời của nghề mình.

- Bẩm đại nhân, và thưa bà con có mặt ở đường. Tôi làm ngỗ tác ở phủ này đã nhiều năm, khám tử thi không phải việc nói cho vừa ý ai. Ba vết đâm trên người ông Ngô, tôi dám lấy nghề của mình ra mà nói: đều do một người thuận tay trái đâm, đứng đối diện, đâm rất gọn, không một nhát nào vụng. Biên bản khám nghiệm cũ ghi hướng vết thương ngược lại. Ghi như vậy là sai. Sai ở đâu, vì sao sai, tôi không dám nói thay người đã ghi. Tôi chỉ chịu trách nhiệm về bản khám này, bằng tên và dấu điểm chỉ của tôi ở cuối bản.

Cả sân xôn xao một đợt sóng nhỏ. Khải nhìn xuống biên bản cũ đang nằm ở phía dưới chồng hồ sơ trên án thư: bản khám do ngỗ tác cũ Ngô Thế Xương ghi mười lăm ngày trước, ghi ngược hướng vết thương. Và chính Khải là người đã chép bản tóm tắt của nó vào hồ sơ trình lên phủ trong những ngày Cố Minh Đức còn đi kiểm đê vắng mặt. Một dòng chữ ghi sai hướng, chỉ lệch mấy chữ phải trái, đã đủ để đưa một người nông dân thuận tay phải tới cột trói ở pháp trường.

Khải ghi lời của ngỗ tác vào biên bản hội thẩm, ghi từng chữ, và khi ghi tới chữ tay trái, ngòi bút của hắn dừng lại đúng một nhịp như đêm qua trong nhà quàn. Đêm qua, trong ánh đèn dầu và mùi thuốc giữ tử thi, kết luận ấy chỉ có bốn người nghe. Trưa nay, giữa công đường, trước gần một nghìn người, nó được đọc to lần thứ hai và không còn là một bí mật trong hồ sơ nữa. Nó đã thành lời nói công khai, có ngỗ tác đứng chịu trách nhiệm, có dân chúng làm chứng cho việc nó đã được nói ra. Từ giờ phút này, dù buổi trưa nay có xảy ra điều gì, cũng không ai có thể nhét bản khám nghiệm này trở lại vào một ngăn tủ khóa kín như người ta đã nhét trang sổ nợ bị xé vào bìa của một cuốn sổ khác.

Hắn liếc nhìn đồng hồ nước đặt ở góc đường theo lệnh của chủ tọa từ lúc thăng đường. Mười hai giờ vừa qua mấy phút. Còn năm mươi hai phút nữa là tới hạn chót cuối giờ Ngọ. Phần khám nghiệm, phần mà hắn lo nhất vì sợ tranh cãi kéo dài, đã đi qua trong tám phút, gọn hơn cả dự tính, nhờ một đôi bàn tay giơ lên thay cho mười lời tranh luận. Hắn gạch một nét nhỏ vào mép tờ giấy nháp ghi thứ tự trình đường: mục thứ nhất đã xong. Nhưng hắn không cho mình thở phào lâu, vì hắn biết phần tiếp theo, phần nhân chứng nói lại, là phần dễ vỡ nhất của buổi trưa nay. Vật chứng không biết sợ. Người thì có.

Viên sư gia của Đề đốc, đứng sau ghế dự khán, bất ngờ bước ra nửa bước và lên tiếng.

- Bẩm tri phủ đại nhân, ngỗ tác mới này cũng là người của phủ. Phủ tự chọn người, tự khám lại, tự đọc kết luận của mình giữa đường của mình. Lời như vậy, e rằng chưa đủ sức để lật một biên bản đã được phủ này ký duyệt và tỉnh đường chuẩn y.

Lời phản đối ấy không vô lý ở bề ngoài, và Khải thấy vài người dân ở sân trong quay sang nhìn nhau. Đây là đòn mà phía bên kia giỏi nhất: không cãi vào sự thật của vết thương, mà cãi vào tư cách của người nói ra sự thật ấy. Nếu Cố Minh Đức tranh luận dài dòng về tư cách của ngỗ tác, buổi trưa nay sẽ mất thời gian vào một vòng cãi chữ, và đồng hồ ngoài sân sẽ không chờ ai.

Cố Minh Đức không tranh luận.

Ông chỉ đưa tay ra hiệu cho lính lệ, và nói một câu ngắn.

- Trần Đại Trụ, đứng dậy. Giơ cả hai bàn tay ra trước đường.

Đại Trụ đang quỳ giữa đường, nghe tên mình thì giật mình, hai lính lệ hai bên đỡ ông đứng lên. Dây buộc lỏng ở cổ tay ông được nới ra thêm để ông giơ được cả hai tay lên ngang ngực, lòng bàn tay hướng ra phía trước, về phía chủ tọa, về phía ghế dự khán, và về phía cả sân phủ đang nín thở nhìn vào.

Hai bàn tay của một người gánh hàng thuê.

Bàn tay phải lớn, các ngón tay phải dày và cong, lòng bàn tay phải chai thành một lớp sần cứng từ gốc ngón tay tới cổ tay, dày nhất ở chỗ tì đòn gánh và chỗ nắm dây thừng kéo đò. Móng tay phải mòn và bè ra vì mười mấy năm bốc xếp, bổ củi, lảy cá, cầm mái chèo. Bàn tay trái nhỏ hơn thấy rõ, ngón tay trái thẳng và mềm hơn, lớp chai ở lòng bàn tay trái mỏng, chỉ là chai của người thỉnh thoảng cầm phụ một đầu gánh, không phải chai của một bàn tay làm việc chính cả đời.

Một người thợ mộc trong sân, Khải nghe tiếng ông ta nói khẽ với người bên cạnh, nói đúng điều mà cả sân đang cùng nghĩ: tay phải ấy mà cầm dao đâm bằng tay trái cho gọn được ba nhát như vậy, thì tôi xin bỏ nghề mộc.

Cố Minh Đức nói, giọng vẫn không cao, nhưng lần này ông nói chậm hơn, như đặt từng chữ xuống mặt gạch giữa đường.

- Một người gánh thuê bằng tay phải mười lăm năm, không thể đâm ba nhát bằng tay trái, gọn như một người quen dùng dao.

Ông không nói thêm một chữ nào. Ông không cần nói tên của người quen dùng dao bằng tay trái. Cái tên ấy chưa tới lúc nói ở phần khám nghiệm này, và cả sân đều hiểu sự kiềm chế ấy là gì: công đường này đi từng bước một. Vật chứng nào nói việc của vật chứng ấy, không nhảy trước, không buộc tội ai khi chưa tới phần của họ.

Hiệu quả của hai bàn tay giơ giữa đường lớn hơn mọi lời tranh luận về tư cách ngỗ tác. Dân ở sân ngoài bắt đầu xì xào thành tiếng, lần này không phải xì xào nghi ngờ, mà là xì xào của những người vừa tự mắt thấy một điều không cãi được: một bàn tay phải chai dày gấp đôi bàn tay trái. Giơ lên giữa trưa, dưới nắng, trước mặt quan, trước mặt Đề đốc, trước mặt vợ con của người mang hai bàn tay ấy. Vương Tú Anh ở góc sân ngoài khóc thành tiếng, lần này không bịt miệng nữa, và con gái bà ôm lấy áo mẹ, ngẩng mặt nhìn cha mình đang đứng giữa đường với hai tay giơ ra.

Đại Trụ đứng giữa đường với hai tay giơ ra như vậy một lúc lâu, theo đúng lệnh của chủ tọa, không hạ xuống cho tới khi được bảo hạ. Ông không biết hai bàn tay của mình vừa làm được điều gì. Ông chỉ biết cả sân đang nhìn vào chúng, và lần đầu tiên sau mười bảy ngày bị gọi là kẻ giết người, những ánh mắt nhìn ông không còn là ánh mắt nhìn một tử tù nữa. Ông khóc, nước mắt chảy xuống cằm, rơi lên hai bàn tay đang giơ, và ông không dám lấy tay áo lau vì tay còn đang phải giơ theo lệnh đường. Một lính lệ đứng gần nhất lặng lẽ bước tới, dùng tay áo của mình lau mặt cho người tử tù ấy, rồi lại bước về vị trí cũ. Không ai ở đường nói một lời nào về việc ấy. Nó được ghi vào lòng của những người chứng kiến, không ghi vào biên bản.

Khải liếc về phía ghế dự khán.

Đề đốc Lỗ Đình Uy vẫn ngồi thẳng, vẻ mặt vẫn bình thản. Nhưng bàn tay của ông ta, bàn tay đặt trên đầu gối từ đầu phiên xử tới giờ vẫn mở ngay ngắn, bây giờ đã nắm lại. Nắm rất chặt, tới mức các khớp ngón tay nổi lên. Viên sư gia đứng sau ghế nhìn xuống bàn tay ấy của chủ mình, rồi lập tức nhìn đi chỗ khác, quạt trong tay hắn hạ thấp xuống.

Cố Minh Đức ghi nhận điều đó hay không, Khải không biết. Tri phủ chỉ cúi xuống án thư, xem lại một dòng trong biên bản bằng đôi mắt đã mỏi sau một đêm không ngủ, rồi tuyên bố phần vật chứng khám nghiệm đã trình xong, cho Đại Trụ quỳ lại xuống giữa đường, và cho gọi nhân chứng thứ nhất.

Từ sân ngoài, qua lối đi giữa hai hàng lính lệ, bà Tôn bán chè ở bến đò Vãn Độ được dẫn vào. Bà đi rất chậm, chân run tới mức hai lính lệ phải đi sát hai bên để dìu, một tay bà nắm chặt vạt áo của chính mình. Tay kia vịn vào tay của người lính trẻ đi bên cạnh, miệng bà mấp máy không thành tiếng, như đang tự nhắc mình một lời phải nói cho đúng khi tới giữa đường.

Chương khác

Xem thêm