THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 38: Hai Người Nói Lại

Mười hai giờ tám phút, nhân chứng thứ nhất của phiên hội thẩm quỳ xuống giữa công đường. Tôn Nhị Nương, năm mươi hai tuổi, chủ quán chè ở bến đò Vãn Độ,…

Nội dung chương

Mười hai giờ tám phút, nhân chứng thứ nhất của phiên hội thẩm quỳ xuống giữa công đường.

Tôn Nhị Nương, năm mươi hai tuổi, chủ quán chè ở bến đò Vãn Độ, quỳ trên mặt gạch đã mòn, hai tay nắm chặt vào nhau đặt trên đầu gối, người run không ngừng. Bà là người đã khai ở sơ thẩm rằng đêm mười hai tháng tám, bà thấy Trần Đại Trụ lảng vảng gần tiệm họ Ngô lúc nửa đêm. Lời khai ấy, cùng với túi tiền tìm thấy cạnh người Đại Trụ, là hai trụ chính dựng nên bản án tử của Quyền Đức Lâm. Sáng nay, ở quán chè của mình, trước mặt thư lại và bộ đầu, bà đã khai lại toàn bộ và điểm chỉ vào bản khai mới. Bây giờ, trước mặt cả sân phủ, bà phải nói lại những lời ấy một lần nữa, bằng miệng của mình, không có tờ giấy nào che mặt.

Cố Minh Đức nói với bà bằng giọng nhẹ hơn giọng ông dùng cho ngỗ tác.

- Bà Tôn, ở đường này, bà chỉ nói điều bà thật sự thấy và thật sự làm. Sai một lời, phép nước hỏi tới. Nói thật hết, việc cũ của bà, đường này sẽ xét riêng. Bà bắt đầu đi.

Bà Tôn hít một hơi, ngẩng mặt lên, và nói. Ban đầu giọng bà nhỏ tới mức Khải phải hơi nghiêng người về phía trước mới ghi kịp, nhưng càng nói, giọng bà càng rõ, như một người đã quyết, dù sợ, cũng phải nói cho hết một lần trong đời.

- Bẩm đại nhân, lời khai cũ của con là khai gian. Đêm mười hai tháng tám, trời mưa nhỏ, con đóng quán chè từ đầu giờ Hợi, đóng cửa, hạ phản, vào buồng trong ngủ. Con không bán tới nửa đêm. Con không thấy ai lảng vảng gần tiệm ông Ngô hết, không thấy Trần Đại Trụ, không thấy một người nào qua lại ở bến vào giờ ấy. Điều con khai ở sơ thẩm, rằng con thấy anh Trụ lúc nửa đêm, là do người ta đọc cho con nghe thuộc rồi bảo con nói lại.

Cả sân nín thở. Bà nói tiếp, nước mắt chảy xuống hai má.

- Mấy hôm sau đêm án mạng, quản gia Lỗ Phúc của biệt viện họ Lỗ tới quán của con. Hắn cho con mười đồng đại dương, và hắn nói con trai con đang nợ tiền ở sòng bạc trên bến, món nợ ấy nhà hắn biết rõ, nếu con không giúp nhà hắn một lời khai thì món nợ ấy sẽ tới ngày phải trả bằng cách khác. Hắn đọc cho con nghe một bản khai có sẵn, bảo con học thuộc, tới ngày ra phủ thì cứ vậy mà nói, quan chỉ cần một người ở bến xác nhận là đủ. Con nghèo, con sợ nợ của con trai, con đã nhận mười đồng ấy và đã nói dối trước phủ. Con xin chịu tội khai gian. Con chỉ xin đại nhân một điều.

Bà dập đầu xuống mặt gạch, trán chạm đất, giọng vỡ ra.

- Đừng để một người vô tội chết vì miệng của con.

Vương Tú Anh ở sân ngoài khóc thành tiếng. Nhiều người ở sân trong cũng đưa tay áo lên lau mắt. Khải ghi lời khai của bà Tôn vào biên bản hội thẩm, ghi cả đoạn bà xin tội, và khi hắn ngẩng lên, hắn thấy Cố Minh Đức đang nhìn bà Tôn rất lâu, không giận, không thương hại ra mặt. Chỉ là cái nhìn của một vị quan về một người đàn bà nghèo đã làm một việc sai vì sợ, và đã dám quay lại nói thật trước mặt kẻ đã mua chuộc mình đang có người nhà ngồi ở ghế dự khán.

- Bà Tôn, Cố Minh Đức tuyên bố ngay tại đường, giọng rõ để cả sân cùng nghe và để thư lại ghi vào biên bản, bà tự thú và khai lại toàn bộ trước giờ Ngọ hôm nay, trước khi phiên xử này tuyên án. Theo lệ, người khai gian tự thú trước hạn và lời khai lại của họ giúp sáng tỏ một án tử oan, thì tội khai gian được tha. Đường này tha tội cho bà, ghi vào biên bản để làm gương cho cả trấn: ai đã nói sai vì bị mua chuộc hay bị dọa, hôm nay nói lại, còn kịp. Còn kẻ bỏ tiền mua chuộc nhân chứng, và kẻ dùng nợ của con người ta để dọa người ta, đường này sẽ hỏi tới nơi, không tha.

Từ ghế dự khán, Đề đốc Lỗ Đình Uy lần đầu tiên đổi sắc mặt. Không phải một cái cau mày rõ rệt cho dân chúng chỉ trỏ, mà là sự lạnh đi của cả khuôn mặt, như một mặt nước vừa bị một cơn gió rất mạnh quét qua. Khải chỉ nhìn thấy trong một thoáng, vì Đề đốc lấy lại vẻ bình thản rất nhanh, nhưng viên sư gia đứng sau ghế thì không giấu được: hắn cúi đầu xuống, quạt trong tay khép lại hẳn.

Nhân chứng thứ hai được dìu vào đường.

Giả Tam Giang, sáu mươi sáu tuổi, lão chài ở bãi sông ngoài trấn, được cháu gái và một lính lệ dìu hai bên. Vai trái của ông còn băng vải, lớp vải ngoài đã thấm một vệt nâu của thuốc đắp vết bỏng, vì đêm qua, rạng sáng nay, nhà chài của ông bị kẻ lạ phóng hỏa từ phía ngoài vách trong lúc ông ngủ. Và ông chỉ kịp được cháu gái kéo ra khỏi căn nhà đang cháy, mang theo một vết thương nhẹ ở vai và một mảnh lưới cháy dở ôm trong tay. Ông quỳ xuống rất khó khăn, phải nhờ lính lệ đỡ, và Cố Minh Đức cho phép ông ngồi trên ghế thấp ở giữa đường mà khai, không phải quỳ, vì tuổi già và vì vết thương.

- Bẩm đại nhân, đêm mười hai tháng tám, già này chài lưới ở bãi sông ngoài trấn tới khuya mới về, có ghé qua phía bến Vãn Độ. Già thấy một chiếc thuyền nhỏ, không treo đèn, từ hướng biệt viện Tùng Phong ở thượng lưu đi xuống, neo lại ở bến gần tiệm ông Ngô một lúc lâu. Một người từ thuyền lên bờ. Người ấy chèo mái bên trái, lúc lên bờ và lúc quay xuống thuyền, tay trái cầm một bọc vải dài. Đêm ấy có mưa nhỏ, mặt sông tối, già không thấy rõ mặt người ấy, già chỉ dám nói điều mắt già thấy thật: thuyền không đèn, người chèo tay trái, bọc vải ở tay trái.

Ông nói chậm, từng đoạn một, tay phải lành lặn đặt lên đầu gối, thỉnh thoảng phải dừng lại vì vai trái đau khi ông thở mạnh. Nhưng không một chữ nào của ông lệch với lời kể đầu tiên ông đã nói cho Khải nghe từ ngày mười bảy tháng tám, khi chưa một ai trong trấn tin ông. Và cũng không lệch với lời kể thứ hai ông nói trước mặt tri phủ ở bãi sông cháy lúc năm giờ sáng nay.

- Già kể chuyện thuyền này cho người của phủ nghe từ mười mấy ngày trước, không ai tin một lão chài. Đêm qua, sau khi già dám kể lại chuyện ấy cho thư lại của phủ nghe rõ hơn, nhà chài của già bị đốt. Già không bắt được người đốt, già chỉ nói một điều: nếu chuyện thuyền không đèn là chuyện bịa, thì không ai phải đốt nhà một ông già sắp xuống lỗ để bịt miệng ông già ấy.

Lời ấy rơi xuống công đường nặng hơn mọi lời buộc tội. Khải đứng dậy, theo lệnh của chủ tọa, trình bổ sung một chi tiết từ hồ sơ lao mà hắn đã ghi trong đêm phúc tra: trong lời khai thật của Trần Đại Trụ ở trong lao, ông có nói một chuyện. Đêm ấy, khi ông ngủ gục ở bến chờ gánh hàng sớm, ông nghe tiếng chó của tiệm họ Ngô sủa một tràng rất dữ, rồi im bặt rất nhanh, như con chó vừa nhận ra người tới là người quen nên thôi sủa. Chi tiết tiếng chó im bặt ấy, đêm qua, khớp với lời của vợ nạn nhân rằng chồng bà không mở cửa sau cho người lạ, khớp với chiếc thuyền không đèn của lão chài. Và khớp với một người quen mặt đi đường sông tới tiệm: ba mảnh rời, từ ba miệng khác nhau, trong ba thời điểm khác nhau, đến trưa nay đứng cạnh nhau giữa công đường và thành một hình nguyên vẹn.

Đúng lúc ấy, một lính lệ gác cổng trong bước nhanh vào đường, tới bên án thư, cúi xuống trao cho Khải một phong thư tay gấp nhỏ. Miệng thư không đóng triện, chỉ ghi mấy chữ run tay ở mặt ngoài là gửi gấp tới tay đại nhân trong giờ xử. Khải nhìn nét chữ thì nhận ra ngay: chữ của Lương Thanh Hư, đạo sĩ ở quán Bạch Vân.

Hắn mở thư đọc lướt, rồi bước tới bên ghế chủ tọa, cúi xuống trình lại nguyên văn cho Cố Minh Đức nghe bằng giọng chỉ đủ hai người nghe. Trong giờ hội thẩm, không một người ngoài nào được vào sân trong. Lương Thanh Hư biết lệ ấy. Ông không vào được sân phủ, nên chỉ gửi được một lá thư tay tới cổng, nhờ lính lệ chuyển vào cho thư lại truyền đạt lên chủ tọa.

Thư viết ngắn, chữ vội: đạo sĩ xin được lập một đàn nhỏ ở miếu Thành Hoàng ngay trong trưa nay, dùng bút Phán Quan của sư môn. Thử xin thêm một ít giờ như tiền lệ Diên Thọ đã kể, không dám nói chắc thành, chỉ xin tri phủ cho phép thử một lần, để khỏi ân hận về sau.

Khải đã biết câu trả lời từ đêm qua ở thư phòng, khi Cố Minh Đức từ chối đề nghị lập đàn lần thứ nhất, với câu nói quan không nói hai lời, nhất là với âm ty. Nhưng hắn vẫn phải truyền đạt cho hết.

Cố Minh Đức nghe xong, im lặng đúng một nhịp, rồi lắc đầu, rất nhẹ, và nói vừa đủ cho Khải nghe, để Khải chuyển lời ra cổng sau phiên xử.

- Chuyển lời tới ông ấy: ta cảm tạ. Nhưng không. Đây là lần thứ hai ta từ chối việc ấy, và sẽ không có lần hỏi thứ ba. Giao kèo đã hứa thế nào, giữ đúng thế ấy. Không đàn nào được dựng lên để xin thêm giờ cho ta, dù chỉ một khắc. Ông ấy là bạn ta, ông ấy sẽ hiểu.

Khải gấp lá thư lại, cất vào cặp hồ sơ. Việc ấy diễn ra trong chưa đầy một phút, không làm chậm đường một khắc nào, và phần lớn dân ở sân ngoài không hề biết rằng ở giữa công đường trưa nay. Vừa có một cánh cửa nhỏ nữa được mở ra trước mặt tri phủ, và vừa bị chính ông đóng lại bằng tay mình, lần thứ hai.

Cố Minh Đức quay lại án thư, giọng trở lại nhịp của công đường.

- Gọi vật chứng chiếc nhẫn.

Khải quay về phía án thư, tay đưa ra vị trí hộp nhẫn ngọc đã xếp sẵn từ trước khi thăng đường, và cùng lúc ấy. Mắt hắn quét qua dãy ghế dành cho nhân chứng chờ ở phía bên công đường, nơi bà Tôn và lão chài vừa ngồi, và nơi một chiếc ghế nữa đã được kê sẵn từ đầu phiên cho người sẽ mang sổ cầm đồ gốc ra đối chứng.

Chiếc ghế ấy trống.

Tiền Bảo Sâm, chủ tiệm cầm đồ Điển Ký, người đã hẹn từ sáng sẽ tới công đường làm chứng về chiếc nhẫn ngọc, vẫn chưa tới, dù giờ đã là mười hai giờ mười sáu phút, và dù nhà ông chỉ cách phủ một đoạn phố ngắn.

Chương khác

Xem thêm