Thước Lỗ Ban - Chương 4: Cung tử trên khuôn cửa cũ

Căn nhà tổ sau đám tang vắng ngắt như một cái xác không hồn. Khói nhang ba ngày qua đã kịp nhuộm vàng những bức vách gỗ xoan, bám thành một lớp màng dính…

Nội dung chương

Căn nhà tổ sau đám tang vắng ngắt như một cái xác không hồn. Khói nhang ba ngày qua đã kịp nhuộm vàng những bức vách gỗ xoan, bám thành một lớp màng dính dấp trên những chiếc cột lim đen bóng. Mùi dầu rái dùng để lau quan tài vẫn chưa bay hết, nó quẩn quanh dưới những góc xà kèo, quyện với mùi ẩm mốc của nền đất nện lâu ngày tạo thành một thứ không khí đặc quánh, ngửi vào là thấy lợm giọng. Người làng đã về hết. Những chiếc rạp tre dựng ngoài sân đã dỡ, để lại những hố chôn cọc nham nhở và đống tro tàn của những tờ vàng mã cháy dở bay lác đác theo gió heo may.

Cô Hạnh ngồi bên bực thềm, mắt sưng húp, tay run rẩy cầm chiếc nón lá rách vành. Bà nhìn Minh, giọng khản đặc vì khóc nhiều:

- Minh à, nghe cô. Khóa cửa lại rồi theo cô lên phố. Căn nhà này không ở được nữa đâu. Đất này độc lắm, từ đời ông nội con đến đời bố con, có ai sống thọ đâu. Giờ đến lượt thằng Dậu chết tức tưởi ngay sát bờ rào. Con ở lại đây một mình, cô không yên lòng.

Minh không nhìn cô. Anh đang đứng giữa gian nhà chính, mắt dăm dăm nhìn lên bức hoành phi cổ sơn son thếp vàng đã bong tróc gần hết. Trên đó khắc ba chữ "Đức Lưu Quang", nhưng nét chữ nguệch ngoạc như những con giun bò trên mặt gỗ mục.

- Con không đi - Minh trả lời, giọng lạnh lùng - Bố con chết đột ngột thế này, bao nhiêu chuyện trong nhà vẫn chưa rõ ràng. Cả cái chết của anh Dậu nữa. Người ta bảo anh ấy say rượu ngã, nhưng vết hằn trên cổ anh ấy rõ ràng là có uẩn khúc. Con phải ở lại tìm hiểu cho ra nhẽ.

- Con bướng thế giống hệt bố con! - Cô Hạnh nghẹn ngào, nước mắt lại chực trào ra - Ngày xưa ông nội con mất, bố con cũng nhất quyết không chịu bán nhà, cứ ôm khư khư cái buồng tối ấy mà đục đục bào bào. Để rồi cuối cùng được cái gì? Chết cô độc trên chiếc giường mục, lúc đi không có một người thân bên cạnh!

Minh im lặng. Cơn giận âm thầm đối với người cha đã khuất nhen nhóm trong lòng anh. Cha anh đã mang đi quá nhiều bí mật xuống nấm mồ. Cả người ông nội mà anh chưa từng biết mặt, người đã dựng lên ngôi nhà này bằng những đường bùa Lỗ Ban bí hiểm. Căn nhà này giống như một cái bẫy gỗ khổng lồ, và anh chính là con mồi tự nguyện bước vào.

Sau khi tiễn cô Hạnh ra đầu ngõ để bà bắt xe về thị xã, Minh quay lại nhà. Anh đóng chặt cánh cổng gỗ lim nặng trịch. Tiếng chốt cửa sập vào nghe cộc một tiếng khô khốc, như tiếng nắp quan tài đóng lại mà anh đã nghe thấy trong cơn mơ.

Minh bắt đầu đo đạc lại căn nhà.

Anh không dùng cây thước Lỗ Ban bằng gỗ mun khắc bốn chữ "Tử biệt cô bần" mà ông Bảy Mộc đã chỉ. Anh dùng một cuộn thước dây kim loại màu vàng và một cuốn sổ tay nhỏ. Anh muốn dùng những con số khoa học để giải mã sự bất thường của ngôi nhà cổ này. Nhưng càng đo, mồ hôi trên trán Minh càng túa ra.

Đầu tiên là cửa chính. Theo bản vẽ thông thường của nhà ba gian hai chái miền Bắc, cửa chính phải nằm chính giữa gian giữa, đối diện với bàn thờ tổ tiên. Nhưng khi Minh kéo thước từ mép cột cái bên trái sang mép cột cái bên phải, anh phát hiện cửa chính bị lệch sang hướng Tây đúng ba tấc. Ba tấc, tương đương với ba mươi centimet, một khoảng lệch quá lớn đối với một người thợ cả lành nghề như ông Khang. Không một người thợ mộc nào có thể phạm phải sai lầm ngớ ngẩn như vậy, trừ khi họ cố tình làm thế.

Tiếp theo là hai cửa buồng. Cửa buồng Tây, nơi Minh nằm ngủ mấy hôm nay, thấp hơn cửa buồng Đông đúng một phân rưỡi. Khi đặt thước dây đo chiều cao từ ngạch cửa lên xà ngang, Minh nhận ra sự chênh lệch này khiến cho bất cứ ai bước vào buồng Tây đều phải khẽ cúi đầu xuống thấp hơn một chút so với khi vào buồng Đông. Trong nghề mộc tâm linh, đây gọi là thế "tả thanh long, hữu bạch hổ" bị lệch, tạo ra một luồng âm khí đè nặng lên người ngủ trong buồng Tây.

Đáng sợ nhất là khoảng cách từ bàn thờ đến trục cột cái. Bàn thờ không được đặt sát vách lậu như bình thường, mà lùi sâu vào khoảng tối phía sau cột cái vừa vặn bằng một sải tay. Vị trí này khiến cho bất kỳ ai đứng thắp hương đều phải bước hẳn vào vùng tối của gian nhà, đầu cúi thấp dưới bóng của chiếc xà ngang đè ngay phía trên.

Minh lật cuốn sổ tay, ghi chép lại những con số. Anh cố gắng quy đổi chúng ra kích thước Lỗ Ban thông thường. Cửa chính lệch ba tấc rơi đúng vào khoảng đo của cung "Hại bối" (bị hại sau lưng). Cửa buồng Tây thấp hơn một phân rưỡi rơi vào cung "Thoát tài" (mất tiền của). Mỗi số đo trong ngôi nhà này, bằng cách này hay cách khác, đều được tính toán để rơi vào những cung xấu nhất trên thước.

Anh bước ra giữa gian, nơi thanh ngạch cửa cũ bị thợ Dậu cạy lên trước khi chết. Nền đất nện ở đó vẫn còn ẩm ướt, bốc lên mùi bùn ao nồng nặc. Minh cúi xuống, dùng chiếc xẻng nhỏ gạt bớt lớp đất cát xung quanh. Dưới độ sâu khoảng mười phân, lộ ra ba chiếc đinh gỗ dài bằng ngón tay trỏ.

Những chiếc đinh này không phải làm bằng sắt, mà được đẽo từ gỗ dâu rừng, một loại gỗ chuyên dùng để trừ tà nhưng cũng có thể dùng để trấn yểm nếu kết hợp với bùa chú. Ba chiếc đinh được cắm chéo nhau thành hình chữ nhân. Điều khiến Minh rùng mình là quanh đầu mỗi chiếc đinh gỗ đều được quấn chặt bằng những sợi tóc người màu đen, dài và xơ xác. Những sợi tóc bị chôn dưới đất lâu ngày nhưng không hề bị phân hủy, chúng bám chặt vào thớ gỗ dâu như những con giun đất nhỏ.

- Đó là đinh trấn miệng - Một giọng nói khàn khàn vang lên từ phía sau.

Minh giật mình quay lại. Ông Bảy Mộc đã đứng ở bực thềm từ lúc nào. Ông mặc bộ quần áo nâu sòng bạc màu, tay cầm chiếc tẩu thuốc bằng tre, đôi mắt nheo lại nhìn đăm đăm vào ba chiếc đinh gỗ dưới đất.

- Ông Bảy... - Minh đứng dậy, phủi bụi trên tay - Ông vào bằng ngõ nào thế?

- Cổng nhà anh khóa, nhưng bờ rào nhà anh thì thấp. Tôi nghe mùi đất động nên vào xem - Ông Bảy bước tới, ngồi xổm xuống cạnh hố đất - Ông nội anh ngày xưa dùng đinh dâu quấn tóc người chết để trấn miệng.

- Miệng gì hả ông? - Minh hỏi, tim anh đập nhanh hơn một nhịp.

- Miệng nhà. Ngôi nhà này được coi như một cơ thể sống. Cửa chính là miệng, hai cửa buồng là hai mắt, xà ngang là xương sống. Trấn miệng nhà nghĩa là không cho những thứ bên trong nói ra, và cũng không cho những thứ bên ngoài nghe thấy. Nhưng quan trọng hơn... - Ông Bảy dừng lại, rít một hơi thuốc dài, khói bay mù mịt - ...đây là để trấn miệng người nằm dưới nhà.

Ngay lúc đó, một tiếng "xoảng" chói tai vang lên từ trong buồng Tây.

Minh và ông Bảy vội vàng chạy vào. Cô Hạnh đang đứng chết trân cạnh chiếc bàn gỗ, dưới chân bà là những mảnh vỡ của chiếc bát sứ đựng nước chè tươi. Mặt bà cắt không còn giọt máu, đôi môi run rẩy không thốt nên lời.

- Cô Hạnh? Cô chưa về sao? - Minh hỏi, bước tới giữ lấy vai cô.

- Cô... cô quên cái ví tiền... quay lại lấy... - Cô Hạnh lắp bắp, ngón tay run rẩy chỉ xuống nền nhà - Minh ơi... cô nghe thấy rồi... Cô nghe thấy tiếng ông nội con cãi nhau với bà nội dưới nền nhà này...

Minh nhíu mày:

- Cô nghe thấy gì? Cô bình tĩnh lại xem nào.

Cô Hạnh ngồi sụp xuống chiếc phản gỗ, hai tay ôm lấy mặt, giọng nghẹn ngào trong tiếng nấc:

- Hồi cô mới lên mười, có một đêm mưa to lắm. Bố con lúc đó mới bảy tuổi, đang bị sốt co giật, người nóng như hòn than. Cô nằm ở buồng Đông, nghe thấy tiếng mẹ cô khóc lóc thảm thiết ở gian giữa. Mẹ cô bảo: "Ông Khang ơi, tôi lạy ông, ông đừng làm thế. Lấy của trẻ con là tổn thọ, là tuyệt tự đấy ông ơi!". Nhưng ông nội con lúc đó như bị ma làm, ông ấy quát lớn: "Bà câm miệng! Không làm thế thì thằng Đại chết mất. Tôi phải vay mạng cho nó!".

Minh rùng mình. "Vay mạng". Cụm từ này anh đã đọc thấy trong cuốn sổ nghề của cha, nhưng lúc đó anh không hiểu.

- Rồi sao nữa cô? - Minh ép hỏi.

- Sau đó... cô nghe thấy tiếng đục đá dưới nền nhà. Tiếng đục cộc cộc suốt cả đêm. Sáng hôm sau, bố con hết sốt, tỉnh lại như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Nhưng từ đó, gian giữa nhà mình lúc nào cũng có mùi tanh. Bố con không bao giờ cho ai chạm vào ngạch cửa chính. Mẹ cô thì cứ héo úa dần rồi mất sớm. Cô hỏi bố con dưới nền nhà chôn cái gì, bố con chỉ trợn mắt bảo nếu cô còn hỏi thì sẽ bị thước Lỗ Ban gõ vào đầu. Cô sợ quá nên không bao giờ dám nhắc lại nữa.

Cô Hạnh khóc nấc lên, bám chặt lấy tay Minh:

- Minh ơi, dưới nền nhà này có chôn một phần người. Không phải xác người nguyên vẹn đâu, mà là của một đứa trẻ. Ông nội con đã lấy nó để đổi mạng cho bố con.

Ông Bảy Mộc đứng bên cạnh thở dài một tiếng, khói thuốc từ tẩu của ông bay vất vương rồi tan biến vào khoảng tối trên xà nhà. Ông không nói gì, chỉ lặng lẽ quay lưng đi ra ngoài sân.

Trưa hôm ấy, đầu óc Minh rối bời. Anh quyết định lên UBND xã để tìm lại những hồ sơ địa chính cũ của làng Vân Độ, hy vọng tìm thấy manh mối về nguồn gốc đất đai của ngôi nhà.

Văn phòng địa chính xã nằm trong một căn nhà cấp bốn cũ kỹ, tường vôi bong tróc. Khi Minh đang lật giở những cuốn sổ đăng ký ruộng đất từ những năm tám mươi, một giọng nói quen thuộc vang lên từ phía sau:

- Nguyễn Thế Minh? Phải cậu không?

Minh quay lại. Trước mặt anh là một cô gái mặc chiếc áo sơ mi xanh thanh niên xung phong, tóc buộc đuôi ngựa gọn gàng. Đôi mắt cô sáng và có nét tinh anh tinh nghịch mà anh không thể nào quên.

- Linh? - Minh ngạc nhiên - Cậu làm gì ở đây?

Linh cười, nụ cười làm bừng sáng căn phòng làm việc u tối:

- Tớ làm bên địa chính huyện, đang được cử về đây khảo sát và lập hồ sơ di tích cho ngôi đình Vân Độ. Mười tám năm rồi không gặp, cậu trông khác quá, chững chạc hơn nhiều.

Nhưng nụ cười của Linh nhanh chóng vụt tắt khi nhìn thấy vẻ mệt mỏi và quầng thâm trên mắt Minh. Cô kéo một chiếc ghế ngồi đối diện với anh, giọng trầm xuống:

- Tớ nghe nói về đám tang của bác Đại rồi. Xin chia buồn với cậu nhé. Nhưng Minh này... cậu về làng đúng lúc không hay chút nào đâu.

- Có lúc nào ở cái làng này là hay không? - Minh hỏi, giọng có phần cay đắng.

Linh nhìn quanh phòng một lượt, rồi ghé sát tai Minh nói nhỏ:

- Ba năm nay, ở làng Vân Độ có rất nhiều chuyện kỳ lạ xảy ra. Đã có bốn người chết trong những căn nhà cổ. Người thì ngã từ xà nhà xuống gãy cổ khi đang sửa mái, người thì chết đột ngột trên giường ngủ mà mặt mũi tím tái, người lại tự treo cổ ngay trước cửa buồng. Cảnh sát huyện về điều tra đều kết luận là tai nạn hoặc tự tử. Nhưng tớ đã đối chiếu hồ sơ địa chính. Tất cả những ngôi nhà có người chết đó... đều do ông nội cậu dựng hoặc sửa chữa từ mấy chục năm trước.

Minh cảm thấy tim mình thắt lại. Anh mở balô, lấy cuốn sổ nghề bìa da cũ kỹ của cha ra đặt lên bàn, đẩy về phía Linh:

- Cậu xem cái này đi.

Linh tò mò mở cuốn sổ. Khi nhìn thấy những dòng chữ viết bằng mực tàu đỏ chót bên cạnh những hình vẽ bát quái và số đo kỳ dị, nét mặt cô dần căng thẳng. Ngón tay cô lướt qua những cái tên quen thuộc trong làng: nhà ông Mão, nhà ông Hựu, nhà cụ Đoan... bên dưới mỗi cái tên đều có những dòng chú thích như "mộng đông bắc, tóc trẻ", "khóa ba phân", "cung Bệnh lâm".

- Đây là... sổ nghề của ông nội cậu để lại sao? - Linh ngẩng đầu lên, mắt mở to - Những số đo này không giống với kích thước xây dựng thông thường. Nó giống như một loại mật mã.

- Tớ có bản đồ địa chính cũ của làng ở đây - Linh vội vàng đứng dậy, đi tới tủ tài liệu lấy ra một tấm bản đồ vẽ tay từ năm 1972 - Nếu đối chiếu vị trí của những ngôi nhà này trên bản đồ, có thể chúng ta sẽ tìm ra quy luật nào đó.

Chiều muộn, Minh và Linh cùng trở về ngôi nhà tổ.

Khi họ bước qua cổng, ông Bảy Mộc vẫn đang ngồi ở bực thềm. Ông đang dùng một con dao nhỏ tỉ mẩn khắc từng vạch đo lên một thanh gỗ xoan nhỏ. Tiếng dao gọt gỗ nghe "sột sạt" đều đặn trong không gian yên tĩnh. Thấy Linh đi cùng Minh, ông Bảy dừng tay, ngước đôi mắt đục mờ nhìn cô gái trẻ:

- Cháu là con gái nhà họ Phạm đúng không? Nhà cháu còn giữ chiếc chìa khóa đồng của đình Vân Độ chứ?

Linh khựng lại ở sân gạch, nét mặt đầy vẻ cảnh giác:

- Sao ông biết nhà cháu giữ chìa khóa đình? Chuyện này ngay cả người trong làng cũng ít ai biết.

Ông Bảy cười khẩy, cất con dao vào túi áo:

- Vì năm xưa, khi ông nội của Minh dựng ngôi đình đó, chính tay bố cháu đã rước chiếc chìa khóa ấy từ tay ông Khang về thờ trên bàn thờ gia tiên. Ngôi đình Vân Độ không đơn giản chỉ là nơi thờ thành hoàng làng. Đình là cái đầu của con rồng đất này. Còn ngôi nhà họ Nguyễn này... chính là cái tim.

Ông Bảy đứng dậy, phủi những dăm gỗ bám trên quần:

- Muốn đọc được bùa Lỗ Ban của ông Khang, không thể chỉ nhìn vào một ngôi nhà. Phải nhìn cả đầu lẫn tim. Nếu cái tim này rỉ máu, thì cái đầu ở đình làng cũng sẽ hóa điên.

Nói rồi, ông Bảy lững thững đi ra cổng, để lại Minh và Linh đứng giữa sân với những câu hỏi không lời đáp.

Đêm hôm đó, trời đổ mưa phùn. Những hạt mưa mỏng như tơ rây rắc trên mái ngói âm dương, tạo nên những tiếng động rì rầm như tiếng hàng ngàn con mọt đang nghiến gỗ.

Minh một mình đứng trước cửa chính gian giữa. Trên bàn thờ, ngọn đèn dầu leo lét tỏa ra ánh sáng vàng vọt, đổ bóng của anh dài ngoằng lên bức vách. Mảnh bùa màu vàng lấy từ ngạch cửa mà thợ Dậu cạy lên đang được Minh đặt tạm trong một chiếc hộp kính nhỏ trên bàn.

Anh cầm chiếc đèn pin, chiếu luồng sáng trắng vào khuôn cửa chính. Dưới ánh sáng mạnh, anh phát hiện ra dưới lớp sơn ta màu nâu đỏ đã cũ kỹ và bong tróc, có những vết khắc chìm rất nhỏ. Những vết khắc này sâu khoảng một ly, mảnh như sợi chỉ, nếu không nhìn kỹ dưới ánh đèn sát sạt thì không thể nào phát hiện ra.

Đó không phải là hoa văn trang trí hình chữ vạn hay hoa sen. Đó là những vạch đo.

Minh đặt cuộn thước dây lên khuôn cửa, bắt đầu đo từ bực thềm đá lên đến vạch khắc đầu tiên. Số đo hiển thị trên thước dây là một mét tám mươi mốt. Anh vội vàng lật cuốn sổ nghề của cha, tìm đến trang vẽ khuôn cửa chính.

Dưới dòng chữ ghi kích thước cửa, có một dòng chữ nhỏ viết bằng mực đỏ: "Cửa chính cao lục xích nhất thốn" (sáu thước một tấc). Quy đổi ra thước Lỗ Ban cổ mà ông nội anh dùng, số đo này dừng đúng vào chữ "Tử" trong cung "Tử biệt".

Minh cảm thấy sống lưng mình lạnh toát. Cửa chính của một ngôi nhà, nơi đón sinh khí và tài lộc, lại được thiết kế cố ý để rơi vào cung chết chóc.

Ngay lúc đó, một tiếng động lạ vang lên.

Cộc.

Tiếng gõ rất khẽ, nhưng vang lên cực kỳ rõ ràng trong đêm tĩnh mịch.

Minh nín thở, đưa đèn pin chiếu xung quanh. Không có ai. Mưa vẫn rơi đều đặn ngoài sân.

Cộc. Cộc.

Tiếng gõ thứ hai và thứ ba vang lên liên tiếp. Lần này, Minh xác định được hướng phát ra âm thanh. Nó không phải từ ngoài sân gõ vào, cũng không phải từ trong nhà vọng ra.

Tiếng gõ phát ra từ chính bên trong thớ gỗ của khuôn cửa chính. Ngay tại vị trí của vạch khắc chìm mang cung Tử.

Minh như bị thôi miên, anh từ từ bước lại gần khuôn cửa. Anh tắt đèn pin. Bóng tối lập tức ập đến, chỉ còn ánh sáng đỏ lòm từ ngọn đèn dầu trên bàn thờ hắt lại. Anh áp tai vào thớ gỗ lim mát lạnh của khuôn cửa.

Từ sâu thẳm trong thớ gỗ mục, tiếng gõ vẫn tiếp diễn, đều đặn như nhịp tim của một sinh vật đang thức giấc. Và rồi, lẫn trong tiếng gõ cộc cộc ấy, một giọng nói thì thầm rất nhỏ, khản đặc và non nớt của một đứa trẻ vang lên, như thể nó đang bị nhốt sau một bức tường gỗ dày:

- Chú ơi... mở cho cháu về... lạnh quá...

Minh giật mình lùi lại một bước, chân anh vấp phải chiếc ghế đẩu suýt ngã. Cùng lúc đó, ngọn đèn dầu trên bàn thờ bỗng phụt tắt, đẩy cả gian nhà vào bóng tối đen kịt. Chỉ còn tiếng mưa phùn rơi đều đặn trên mái ngói, và tiếng gõ cộc cộc vẫn vang lên đều đặn từ khuôn cửa chính.

Chương khác

Xem thêm