Thước Lỗ Ban - Chương 5: Ông bảy mộc cụt hai ngón tay
Tiếng thì thầm non nớt, khản đặc của đứa trẻ vừa dứt thì cả gian nhà tổ lại rơi vào một sự im lặng đến rợn người. Ngọn đèn dầu trên bàn thờ đã tắt phụt,…
Nội dung chương
Tiếng thì thầm non nớt, khản đặc của đứa trẻ vừa dứt thì cả gian nhà tổ lại rơi vào một sự im lặng đến rợn người. Ngọn đèn dầu trên bàn thờ đã tắt phụt, chỉ còn lại làn khói trắng mỏng mảnh, khét lẹt mùi mỡ bò, lờ lững trôi trong bóng tối đen kịt. Minh đứng chôn chân giữa buồng tây, tim đập liên hồi như gõ trống vào lồng ngực. Anh ngửi thấy mùi ẩm mốc của những bức vách gỗ lâu năm, quyện lẫn với một mùi hôi hám, lạnh lẽo giống như mùi nước ao tù lâu ngày không có ánh mặt trời chiếu tới.
Anh run rẩy quẹt một que diêm. Ánh lửa vàng vọt bùng lên, soi rõ khuôn mặt tái mét của anh phản chiếu qua tấm gương ố vàng trên chiếc tủ chè cũ. Minh với tay lấy cây đèn bão đặt trên bàn, vặn bấc cho lửa sáng tỏ rồi chậm rãi bước ra phía cửa chính. Tiếng mưa phùn ngoài hiên vẫn rơi đều đặn, gõ những tiếng lộp bộp đơn điệu lên mái ngói vảy rồng đã phủ kín rêu xanh.
Minh đưa bàn tay run rẩy chạm vào thanh then cài cửa bằng gỗ lim nặng trịch. Thanh then lạnh buốt như một thỏi đá dưới hầm sâu. Anh nghiến răng, từ từ nhấc thanh then ra khỏi cối cửa. Một tiếng kẹt khô khốc vang lên, phá tan bầu không khí tĩnh mịch của đêm muộn.
Cánh cửa gỗ lim dày cộp mở ra. Một luồng gió buốt mang theo hơi nước mưa phùn ùa thẳng vào mặt Minh, làm ngọn lửa trong cây đèn bão chao đảo, suýt tắt. Minh giơ cao cây đèn, nhìn ra ngoài sân.
Bên ngoài tối đen như mực. Sân gạch bát tràng ướt nhèm dưới màn mưa giăng lối. Dưới gốc khế già sát bờ rào, những tán lá rậm rạp đong đưa theo từng cơn gió lạnh. Không có ai ở đó cả. Chỉ có một vệt nước đen ngỏm, sền sệt như bùn ao loang lổ từ gốc khế kéo dài sát đến tận thềm nhà. Lẫn trong vệt nước đen ấy là những dấu chân chó méo mó, ướt sũng, chạy loằng ngoằng rồi mất hút ở phía cổng ngõ đang khép hờ.
Minh thở phào một hơi, định bụng quay vào nhà để khép cửa lại. Nhưng ngay khi anh vừa xoay người, ánh sáng từ cây đèn bão quét qua mặt trong của cánh cửa gỗ lim. Bước chân của Minh khựng lại giữa chừng.
Ngang tầm mắt của một đứa trẻ lên bảy, lên tám, trên bề mặt gỗ lim cứng như sắt đá, hiện ra năm vết móng tay cào mới toanh. Năm đường rãnh sâu hoắm, sắc lẹm, xé toang lớp sơn ta bóng loáng màu cánh gián để lộ ra thớ gỗ màu vàng nhạt bên trong. Những sợi dăm gỗ nhỏ li ti vẫn còn vương lại nơi đầu vết cào, trông như những mẩu da người bị cọ xát đến rỉ máu. Minh đưa ngón tay run rẩy chạm vào vết cào. Thớ gỗ nơi đó vẫn còn ẩm ướt, và có một hơi lạnh kỳ quái truyền thẳng vào da thịt anh.
Sáng hôm sau, sương mù từ ngoài sông vẫn giăng dày đặc trên những ngọn tre đầu làng Vân Độ. Mưa phùn chưa dứt, nó cứ rả rích, sùi sụt làm cho những con đường đất trong làng trở nên trơn trượt, nhão nhoét. Minh không thể ngồi yên trong căn nhà tổ thêm một khắc nào nữa. Anh lội mưa đi tìm ông Bảy Mộc.
Khi ông Bảy Mộc bước vào sân nhà Minh, ánh mắt ông lập tức khóa chặt vào năm vết cào trên cánh cửa chính. Sắc mặt ông lão vốn đã nhăn nheo, nay lại càng tối sầm đi, xám ngoét như người chết trôi. Ông đứng lặng trước cánh cửa hồi lâu, đôi bàn tay gầy guộc chắp sau lưng, hai ngón tay cụt ở bàn tay phải khẽ giật giật dưới ống tay áo đại măng tô cũ nát.
Nó bắt đầu gọi rồi, ông Bảy nói, giọng ông trầm xuống, khản đặc như tiếng gỗ mục cọ xát vào nhau.
Minh bước lại gần ông, hỏi gặng: Ai? Ai đang gọi?
Đứa trẻ được dùng để đổi mạng, ông Bảy quay sang nhìn Minh, đôi mắt đục ngầu chứa đựng một nỗi sợ hãi đã bị chôn giấu nhiều thập kỷ. Đi theo tôi. Ở đây không tiện nói chuyện. Tai vách mạch rừng, mùi gỗ này, nó biết nghe đấy.
Ông Bảy dẫn Minh ra quán nước chè vối của bà cụ đui đầu làng. Nơi này nằm dưới bóng một cây đa cổ thụ, không khí có phần ấm áp hơn nhờ bếp than tổ ong đỏ lửa và tiếng chiếc đài radio cũ kỹ phát đi những bản tin thời tiết rè rè. Tiếng người cười nói, tiếng bát đĩa va nhau và ánh sáng ban ngày có vẻ đã giúp ông Bảy lấy lại chút bình tĩnh. Ông gọi một ấm chè xanh đặc, rót ra hai chiếc chén sành sứt mẻ, rồi nhìn chăm chằm vào làn khói bốc lên nghi ngút.
Năm xưa, lúc cha cậu mới lên bảy tuổi, làng này gặp một trận dịch lạ, ông Bảy bắt đầu kể, giọng nhỏ chỉ đủ cho hai người nghe. Cha cậu mắc bệnh nặng nhất. Người teo tóp lại, da xám ngoét như lá chuối khô, sốt mê man suốt ba ngày ba đêm không tỉnh. Thầy thuốc trên huyện về nhìn qua rồi lắc đầu bảo chuẩn bị hậu sự. Ông Khang khi đó đang là thợ cả lừng lẫy khắp vùng, tính tình lầm lì, mắt lúc nào cũng vằn tia máu vì thức đêm vẽ bản vẽ nhà. Ông ấy không cam lòng nhìn đứa con trai duy nhất chết đi.
Ông Bảy nhấp một ngụm nước chè nóng, tiếng nuốt khan nghe rõ mồn một.
Cùng thời điểm ấy, trong xưởng mộc của nhà cậu có một đứa bé mồ côi tên là Tí. Thằng bé không cha không mẹ, được ông Khang nhặt về cho ăn cơm thừa canh cặn, tối đến thì ngủ ở chái bếp trên đống dăm bào cho ấm. Nó ngoan lắm, chuyên đi quét dọn mùn cưa và phụ việc vặt cho các thợ phụ. Một đêm mưa gió bão bùng, sấm chớp đùng đùng, thằng Tí bỗng nhiên biến mất. Sáng hôm sau, cha cậu bỗng nhiên hạ sốt, tỉnh táo lại rồi đòi ăn cháo hành như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Minh nghe đến đó, hai bàn tay siết chặt lại dưới gầm bàn gỗ. Lồng ngực anh thắt nghẹn: Người làng hỏi thì sao? Ông nội tôi nói thế nào?
Ông Khang bảo thằng bé bỏ đi theo đoàn buôn gỗ ngược ngàn rồi, ông Bảy cười nhạt, nụ cười méo mó đầy cay đắng. Nhưng người làng ai cũng biết, một đứa trẻ bảy tuổi thì làm sao tự đi theo đoàn buôn trong đêm bão được? Sau cái đêm đó, mỗi khi nhà họ Nguyễn đóng cửa chính vào ban đêm, người đi qua ngõ lại nghe thấy tiếng trẻ con khóc thút thít phát ra từ trong cánh cửa gỗ. Tiếng khóc lúc xa lúc gần, như thể có một đứa trẻ đang bị nhốt kín bên trong thớ gỗ lim dày kia.
Minh nhìn thẳng vào mắt ông Bảy, giọng anh run lên vì phẫn nộ: Ông biết chuyện này, ông biết từ đầu mà không hề nói với ai?
Ông Bảy không trả lời ngay. Ông lẳng lặng đưa bàn tay phải lên bàn. Bàn tay chỉ còn lại ba ngón, ngón trỏ và ngón giữa đã bị cụt sát tận gốc, vết sẹo lồi lõm, thâm đen theo thời gian.
Tôi lúc đó mới mười sáu tuổi, là đứa học trò nhỏ tuổi nhất trong số mười hai người theo học ông Khang, ông Bảy nói, giọng run rẩy khi hồi tưởng lại quá khứ. Đêm hôm đó, tôi lẻn vào buồng thợ để tìm cái đục bị mất. Qua khe cửa gỗ, tôi thấy ông Khang thắp một ngọn đèn dầu lạc leo lét. Thằng Tí đứng im như phỗng trên chiếc bàn thợ lớn. Ông Khang cầm cây thước Lỗ Ban bằng gỗ mun đen bóng, chậm rãi đo từ đỉnh đầu xuống gót chân thằng bé, rồi đo ngang vai, đo ngực, đo lòng bàn tay.
Ông Bảy dừng lại, hơi thở dồn dập: Cậu có biết thước Lỗ Ban không chỉ để đo nhà cửa không? Thợ cả dùng bùa Lỗ Ban có thể dùng thước để đo mạng người. Đo trúng cung Sinh thì giữ, đo trúng cung Tử thì lấy mạng để trấn yểm. Ông Khang đo thằng Tí, miệng lầm rầm đọc chú. Tôi sợ quá, chân tay bủn rủn, không dám ho một tiếng, chỉ biết cắm đầu chạy thẳng về nhà. Hôm sau, khi thằng Tí biến mất, ông Khang gọi tôi vào buồng đồ nghề. Ông ấy nhìn tôi, không nói không rằng, chỉ đưa cho tôi một cây thước và bảo học nghề mộc thì phải biết giữ miệng.
Minh nhìn chằm chằm vào hai ngón tay cụt của ông Bảy: Ông nội tôi đã chặt ngón tay của ông?
Không, ông Bảy lắc đầu, ánh mắt lộ rõ vẻ kinh hoàng tột độ. Ông ấy không chạm vào tôi. Nhưng đêm đó, khi tôi đang ngủ ở nhà ngang, chiếc bào gỗ nặng trịch trên bàn thợ tự dưng chuyển động. Nó tự chạy băng băng trên mặt gỗ, rồi lao thẳng xuống giường, xến ngọt qua hai ngón tay của tôi khi tôi đang say ngủ. Máu chảy lê láng nhuộm đỏ cả đống phoi bào dưới sàn. Sáng hôm sau, ông Khang băng bó cho tôi và nói hai ngón tay này là tiền giữ miệng. Từ đó, tôi giả điên giả dại, bỏ hẳn nghề mộc để giữ mạng. Nhưng giả điên cũng không thoát được bùa chú của ông ấy. Ai đã từng học dưới tay ông Khang, ký tên vào cuốn sổ nghề kia, thì cuộc đời đã bị thước Lỗ Ban định đoạt rồi. Mười hai đứa học trò năm xưa, đến nay hầu hết đã chết vì tai nạn kỳ lạ, chỉ còn lại tôi và một người nữa.
Người kia là ai? Minh hỏi, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh.
Ông Bảy quay đầu nhìn về phía cuối làng, nơi có gò đất cao phủ đầy bóng tre già: Ông từ giữ đình Vân Độ. Tên Lâm. Nhưng ông ta không giống tôi. Ông ta tin rằng trận bùa của ông Khang là đúng đắn, tin rằng nó đã cứu sống cả cái làng này.
Buổi chiều hôm đó, bầu trời Vân Độ xám xịt như một tấm vải liệm khổng lồ. Minh cùng Linh đi bộ đến đình Vân Độ. Linh đi bên cạnh anh, nét mặt lo âu, thỉnh thoảng lại nhìn xung quanh như thể sợ có ai đó đang theo dõi họ từ trong những bụi tre rậm rạp dọc đường.
Ngôi đình cổ nằm cô độc trên một gò đất cao, mái ngói vảy rồng cong vút phủ kín rêu phong xanh rì, những bức tường gạch thất đã xỉn màu vì mưa nắng. Phía trước đình là hai cây đa cổ thụ, rễ phụ rủ xuống như những cánh tay khẳng khiu của quỷ dữ. Trên xà đình, một quả chuông đồng lớn được quấn chặt bằng những vòng vải đỏ xơ xác, không ai dám đánh, bởi người ta đồn rằng tiếng chuông ấy một khi vang lên sẽ gọi những linh hồn chết oan dưới giếng câm trở về.
Ông từ Lâm đang quét lá rụng trước sân đình. Ông ta là một người đàn ông gầy cao, mặc bộ đồ nâu sồng cũ kỹ, khuôn mặt xương xẩu với đôi mắt sâu hoắm, lạnh lùng. Thấy Minh và Linh bước vào, ông ta không dừng tay quét, chỉ ngước mắt nhìn một lượt rồi tiếp tục công việc của mình.
Khi Minh bước lại gần và nhắc đến tên ông nội mình, ông từ Lâm mới dừng chổi. Ông ta chống chiếc chổi tre xuống đất, nhìn Minh bằng đôi mắt không chút cảm xúc, rồi cười nhạt một tiếng.
Không có ông nội cậu thì cái làng Vân Độ này đã thành bãi tha ma hoang phế từ lâu rồi, ông Lâm nói, giọng khàn khàn nhưng vô cùng đanh thép.
Chết vì cái gì? Minh hỏi, giọng anh đanh lại.
Ông từ Lâm quay người, chỉ tay ra phía cánh đồng bao la, nơi những ngôi mộ đất nhấp nhô ẩn hiện trong sương mù: Mạch đất ở đây là mạch quỷ, đất dữ vô cùng. Năm xưa dịch bệnh nổi lên, trẻ con trong làng chết như rạ, chôn không kịp vuốt mắt. Ông Khang đã dùng trận đồ Lỗ Ban để khóa mạch đất dữ lại, giữ cho con cháu làng này được sống sót, làm ăn phát đạt. Nhưng muốn khóa được mạch đất thì phải có đinh trấn yểm. Đinh bằng gỗ lim, gỗ sến không đủ sức chống chọi lại âm khí của đất. Phải dùng đinh bằng mạng người.
Minh cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc xương sống, anh bước lên một bước, giọng run rẩy vì giận dữ: Đinh bằng mạng người? Đứa trẻ tên Tí đó có tội tình gì? Nó chỉ là một đứa trẻ mồ côi! Nó có đáng phải chết để làm cái đinh trấn yểm cho các người không?
Ông từ Lâm nhìn thẳng vào khuôn mặt đang giận dữ của Minh, ánh mắt ông ta bình thản đến đáng sợ: Một mạng đứa trẻ không cha không mẹ đổi lấy sự bình yên, sinh sôi nảy nở của cả một dòng họ, cả một ngôi làng suốt mấy chục năm qua. Cậu nghĩ điều đó không đáng sao? Nếu không có cái mạng của nó, thì cha cậu đã chết từ năm bảy tuổi, và cậu bây giờ cũng chẳng có cơ hội đứng đây mà hỏi tôi những câu này đâu.
Cơn giận dữ bùng lên trong lòng Minh, anh định lao tới nắm lấy cổ áo ông từ Lâm nhưng Linh đã kịp thời giữ chặt tay anh lại. Cô lắc đầu, ánh mắt van nài anh hãy kiềm chế.
Đi thôi Minh, Linh thì thầm, giọng cô run rẩy. Ở đây không giải quyết được gì đâu.
Minh nghiến răng, cố kìm nén cơn giận đang chực trào. Khi anh cùng Linh quay lưng bước ra khỏi cổng đình, một linh cảm kỳ lạ thôi thúc anh quay đầu nhìn lại. Dưới mái hiên âm u của ngôi đình cổ, trên cây xà cái bằng gỗ lim đen bóng nâng đỡ cả mái đình, có khắc một hàng chữ nho nhỏ xíu, nét khắc sâu và sắc sảo. Giữa lớp bụi bặm và mạng nhện bám đầy, Minh nhận ra một chữ quen thuộc mà anh đã thấy trong cuốn sổ nghề của cha.
Chữ Tử.
Chữ viết được tô bằng một thứ mực đỏ sẫm đã xỉn màu, trông như máu khô bám chặt vào thớ gỗ.
Đêm hôm đó, mưa phùn vẫn rơi rả rích bên ngoài cửa sổ nhà tổ. Mùi gỗ ẩm ướt và mùi nhang tàn lạnh lẽo vây hãm lấy Minh khi anh nằm trên chiếc phản gỗ ở buồng tây. Anh không tài nào chợp mắt nổi, đầu óc quay cuồng với câu chuyện về thằng Tí, về hai ngón tay cụt của ông Bảy và ánh mắt lạnh lùng của ông từ Lâm. Tiếng mọt nghiến gỗ kèn kẹt trong vách nhà nghe rõ mồn một trong đêm vắng.
Đột nhiên, từ phía ngoài cửa buồng, vang lên một tiếng động nhẹ.
Cộc... cộc...
Tiếng gõ rất khẽ, như có ai đó dùng đầu ngón tay gõ nhẹ vào nền gạch. Minh bật dậy, tim đập thình thịch. Anh cầm cây đèn pin, bước chậm rãi ra phía cửa buồng.
Dưới ánh sáng vàng vọt của đèn pin, Minh thấy cây thước Lỗ Ban bằng gỗ mun của cha anh, thứ vốn được cất kỹ trong buồng đồ nghề khóa kín, nay không biết bằng cách nào đã tự nằm chắn ngang ngưỡng cửa buồng anh. Cây thước nằm im lìm trên nền gạch hoa xám xịt.
Minh cúi xuống nhìn kỹ. Vạch chỉ giới màu đỏ trên mặt thước đang dừng lại đúng ở cung Sinh.
Và ngay bên cạnh cây thước gỗ mun, trên nền gạch vẫn còn loang lổ hơi ẩm của màn sương đêm, hiện rõ mồn một một dấu chân trẻ con ướt sũng nước mưa. Dấu chân nhỏ xíu, hướng thẳng vào trong buồng, ngay sát nơi Minh đang đứng.