Thước Lỗ Ban - Chương 6: Lá bùa giấu trong mộng gỗ
Minh không ngủ nữa. Bóng tối trong buồng tây đặc quánh như một lớp nhựa sơn ta chưa khô, dính dấp và nặng nề. Mùi nhang tàn từ gian thờ chính đưa sang,…
Nội dung chương
Minh không ngủ nữa.
Bóng tối trong buồng tây đặc quánh như một lớp nhựa sơn ta chưa khô, dính dấp và nặng nề. Mùi nhang tàn từ gian thờ chính đưa sang, lẫn với mùi ẩm mốc của những thớ gỗ xoan đào đã qua ba đời người, tạo nên một thứ không khí ngột ngạt đến khó thở. Anh đặt chiếc điện thoại di động lên chiếc hòm gỗ đựng đồ nghề cũ của cha, bật chế độ quay phim hướng thẳng ra phía cửa buồng, nơi cây thước Lỗ Ban gỗ mun đang nằm chắn ngang. Bản thân anh thì ngồi thu mình ở góc vách, hai tay ôm gối, ngón cái đặt sẵn trên nút bấm của chiếc đèn pin vỏ sắt cũ kỹ.
Bên ngoài, trời vẫn mưa phùn. Tiếng mưa rơi trên mái ngói âm dương nghe âm u, bền bỉ như tiếng gõ của hàng ngàn bàn tay nhỏ xíu vào những tấm ván tài. Trong căn nhà cổ này, mỗi tiếng động nhỏ đều bị phóng đại lên gấp nhiều lần. Tiếng mọt nghiến ken két trong lòng cột lim, tiếng gió lùa qua khe cửa gỗ co ngót, và cả tiếng tim đập thình thịch của chính anh.
Đồng hồ điện thoại hiển thị hai giờ năm mươi bảy phút sáng. Giờ Tý chuẩn bị qua, giờ Sửu sắp tới, lúc âm khí dưới lòng đất Vân Độ bốc lên mạnh nhất.
Bỗng nhiên, chiếc camera điện thoại khẽ rung nhẹ. Minh nín thở, mắt trừng trừng nhìn vào khoảng tối nơi ngưỡng cửa.
Cây thước Lỗ Ban bằng gỗ mun, thứ vốn nằm im lìm suốt mấy tiếng đồng hồ qua, chợt nhúc nhích. Không hề có gió, bốn phía cửa buồng đều đóng chặt bằng chốt tre, nhưng cây thước lại tự xoay. Nó không trượt đi mà xoay tròn từng chút một trên nền gạch hoa xám xịt, phát ra tiếng sột soạt khô khốc như tiếng xương khô cọ sát vào nhau. Đầu thước có khắc bốn chữ đỏ khẽ nhấc lên rồi hạ xuống, cuối cùng dừng lại, chỉ thẳng về phía buồng đồ nghề khóa kín của ông Khang phía sau nhà.
Ngay khi cây thước dừng lại, từ sâu trong buồng đồ nghề vang lên một tiếng ho.
Tiếng ho khan, khản đặc và non nớt của một đứa trẻ. Nó nghe như thể cổ họng đứa bé chứa đầy đất cát ẩm ướt của lòng đất, cố rướn cổ để hít một hơi khí lạnh. Tiếng ho rộ lên một tràng ngắn rồi tắt lịm, trả lại gian nhà sự im lặng tịch mịch.
Tóc gáy Minh dựng đứng. Anh bật dậy, tay cầm đèn pin, chân không mang dép bước nhanh ra cửa buồng. Cây thước Lỗ Ban nằm dưới chân anh lạnh ngắt như một thỏi băng. Anh cúi xuống nhặt cây thước lên, cảm giác gỗ mun nặng trịch như sắt nguội bám chặt lấy lòng bàn tay. Anh bước về phía buồng đồ nghề.
Cánh cửa buồng vốn bị cha anh khóa bằng một ổ khóa đồng hoen gỉ suốt mười mấy năm qua, nay lại hé mở một khe nhỏ bằng hai ngón tay. Chiếc khóa đồng nằm dưới đất, chốt khóa vẫn khóa chặt nhưng khoen cửa gỗ đã bị gãy đôi, để lại vệt xước mới toanh.
Minh đẩy nhẹ cửa. Tiếng kẽo kẹt kéo dài nghe buốt óc.
Ánh đèn pin quét qua căn buồng nhỏ. Mùi mạt cưa cũ, mùi dầu rái và bụi bặm xộc thẳng vào mũi. Trên chiếc bàn thợ bằng gỗ nghiến thô mộc, nơi đặt những chiếc đục vũm, cưa tay và bào gỗ đã gỉ sét, cuốn sổ nghề bìa da bò của ông Khang đang mở sẵn.
Minh bước tới, luồng sáng từ đèn pin rọi thẳng vào trang giấy ố vàng. Trang sách bị mở bằng một lực vô hình nào đó, mép giấy vẫn còn hơi ẩm. Trên đó, những dòng chữ viết bằng mực tàu đen nhánh hiện ra rõ mồn một.
"Nhà Trần Văn Mão, năm Tân Hợi, cửa cung Tài, giường cung Bệnh, bếp cung Ly."
Bên dưới dòng chữ đó còn có một hàng chữ nhỏ hơn. Nét chữ viết vội bằng mực đỏ chu sa đã xỉn màu theo thời gian:
"Ghi chú bên lề: mộng đông bắc, tóc trẻ, khóa ba phân."
Minh đứng lặng người. Trần Văn Mão là tên của cụ Mão ở cuối xóm. Cụ Mão đã mất từ lâu, nay căn nhà đó do con trai cụ là Trần Hữu Sỹ quản lý. Sỹ là chủ xưởng gỗ lớn nhất vùng này, chuyên thu mua gỗ lậu từ mạn ngược về xẻ bán. Vài năm trở lại đây, nhà Sỹ giàu lên nhanh chóng, tiền vào như nước, xây nhà hai tầng to nhất nhì làng Vân Độ. Người trong làng vẫn kháo nhau rằng nhà Sỹ phất lên là nhờ giữ được cái lộc tổ nghề mộc do ông Khang ngày xưa ban cho.
Nhưng chữ "Bệnh" nằm chễm chệ ở giường ngủ và chữ "Ly" ở bếp trong cuốn sổ kia nghĩa là gì?
Sáng hôm sau, sương mù từ sông Hồng vẫn chưa tan hết, giăng một lớp màn trắng đục lên những ngọn tre xơ xác. Minh cùng Linh đi bộ xuống cuối xóm. Đường làng trơn trượt sau trận mưa đêm, bùn đất đỏ quạch dính chặt vào đế giày.
Căn nhà của Trần Hữu Sỹ sừng sững hiện ra sau rặng rào cúc tần. Đó là một ngôi nhà hai tầng mái bằng trát xi măng xám xịt, xây đè lên đúng nền của ngôi nhà gỗ ba gian cũ kỹ ngày xưa. Cửa chính của ngôi nhà làm bằng gỗ lim dày cộp, sơn PU bóng loáng đến mức soi rõ mặt người, hai bên thềm đặt đôi nghê đá bằng đá xanh Ninh Bình, mắt trợn trừng nhìn ra đường như hai con thú dữ canh giữ một bí mật khuất tất.
Sỹ tiếp họ ở phòng khách. Gã đàn ông ngoài bốn mươi tuổi, bụng phệ, cổ đeo sợi dây chuyền vàng to bằng ngón tay cái. Sỹ nhấp một ngụm trà đặc, nhìn Minh bằng nửa con mắt, giọng điệu đầy vẻ khó chịu:
- Cậu Minh mới ở thành phố về chịu tang ông cụ mà đã rỗi việc đi dạo khắp làng thế này à? Chuyện bùa chú, ma quỷ nhà cậu thì tự đi mà giải quyết, đừng có lôi nhà tôi vào. Nhà tôi làm ăn lương thiện, thờ cúng tổ tiên đàng hoàng, không có ba cái thứ tà ma ấy.
Minh không nói không rằng, đặt thẳng cuốn sổ nghề cũ kỹ lên bàn mặt kính. Anh lật đúng trang giấy có ghi tên Trần Văn Mão rồi đẩy về phía Sỹ.
Nhìn thấy nét chữ viết tay của ông Khang và cái tên của cha mình nằm ngay dòng đầu tiên, mặt Sỹ bỗng cứng đờ. Khói thuốc trên tay gã ngừng bay, đôi mắt híp lại lộ rõ vẻ dao động.
Linh ngồi bên cạnh, lên tiếng phá vỡ sự im lặng:
- Anh Sỹ, chúng tôi không đến đây để gây sự. Chúng tôi chỉ muốn kiểm tra một chi tiết nhỏ trong căn nhà của anh. Theo cuốn sổ này, khi dỡ nhà gỗ cũ để xây nhà mới, bố anh đã giữ lại một thanh mộng gỗ ở góc đông bắc của ngôi nhà cũ và ghép nó vào ngôi nhà mới này. Chúng tôi muốn xem thanh mộng đó.
Sỹ đập mạnh chén trà xuống bàn, nước trà bắn tung tóe:
- Vớ vẩn! Nhà tôi xây mới hoàn toàn, bê tông cốt thép đàng hoàng, giữ lại khúc gỗ mục làm cái gì? Các người đi ra ngoài ngay cho tôi, trước khi tôi thả chó đuổi!
Gã vừa dứt lời thì từ gian buồng phía sau, một người đàn bà bước ra. Đó là vợ Sỹ. Người chị ta gầy rộc, da mặt xanh xao như người mất máu lâu ngày, hai mắt trũng sâu, thâm quầng. Chị ta mặc bộ quần áo bà ba giản dị, bước đi lảo đảo như không có lực.
Vừa nhìn thấy Minh và Linh, chị ta đã khuỵu gối xuống nền gạch đá hoa, hai tay chắp lại, nước mắt chảy ròng ròng trên gò má hóp:
- Tôi lạy hai bác, tôi lạy hai bác cứu con tôi với... Nhà tôi không giấu gì đâu. Thằng bé... thằng bé nhà tôi nằm liệt giường hơn một năm nay rồi, người cứ teo tóp dần đi như củi khô. Đi hết bệnh viện tỉnh đến bệnh viện trung ương, bác sĩ đều lắc đầu bảo không tìm ra bệnh. Cứ đêm đến là nó lại co giật, mồm miệng sùi bọt mép, kêu lạnh...
Sỹ đỏ mặt tía tai, quát lớn:
- Con mụ này điên rồi! Ai cho mày ra đây nói nhảm? Đi vào buồng ngay!
Nhưng vợ Sỹ không chịu đứng dậy. Chị ta ôm lấy chân chồng, khóc nấc lên:
- Ông Sỹ ơi là ông Sỹ! Ông tiếc cái xưởng gỗ hay tiếc mạng con trai ông? Nó là đứa con duy nhất của nhà này đấy! Ông nhìn xem nó có còn giống người nữa không? Tôi xin ông, cho người ta xem đi!
Minh nhìn thẳng vào mắt Sỹ, giọng anh lạnh đi vài phần:
- Trong sổ ghi rất rõ: giường cung Bệnh. Anh có biết tại sao con anh lại nằm liệt giường không? Vì cái lộc cung Tài ở cửa chính của anh được nuôi bằng chính sinh khí của người nằm trên chiếc giường đó.
Sỹ run lên, hàm răng nghiến chặt vào nhau. Sau một hồi giằng xé nội tâm, gã hất tay vợ ra, gầm lên một tiếng rồi quay lưng bước vào phía trong. Đó là sự ngầm đồng ý.
Vợ Sỹ vội vã dẫn Minh và Linh đi vòng ra phía sau nhà, hướng về góc đông bắc. Ở đó, sau một chiếc tủ gỗ gụ to lớn và nặng trịch dùng để đựng chăn màn, có một khoảng tường bị ẩm mốc, lớp vôi vữa bong tróc từng mảng lớn.
Minh cùng Sỹ phải ghé vai đẩy chiếc tủ ra một bên. Khi chiếc tủ được dịch chuyển, lộ ra một khoảng trống nhỏ ở góc tường. Nơi đó, đè dưới một cây xà bê tông mới, là một thanh gỗ lim cũ kỹ, màu đen xỉn, dài khoảng ba mươi phân. Thanh gỗ này được đục đẽo khéo léo theo dạng mộng đuôi én, ghép chặt vào phần tường gạch. Nó chính là thanh ngạch cửa cũ của ngôi nhà ba gian ngày xưa, được giữ lại và chôn vào móng nhà mới ở góc đông bắc.
Minh quan sát kỹ thanh gỗ. Ở phần khe mộng âm dương phía dưới, có một vết nứt nhỏ được trám kín bằng thứ nhựa sơn ta trộn đất sét.
Anh quay sang nhìn Linh:
- Đưa tôi cái đục.
Linh mở ba lô lấy ra chiếc đục sắt nhỏ mà Minh đã chuẩn bị từ trước. Minh đặt mũi đục vào khe nứt, dùng một viên gạch vỡ gõ nhẹ từ phía sau.
Tiếng cộc cộc vang lên khô khốc. Lớp nhựa sơn ta vỡ ra, để lộ ra một khe hở sâu khoảng ba phân bên trong thớ gỗ.
Minh dùng một đoạn dây kẽm uốn cong đầu, thọc sâu vào khe mộng rồi kéo mạnh ra.
Một cuộn giấy vàng nhỏ, chỉ to bằng ngón tay út, được lôi ra ngoài. Cuộn giấy được buộc chặt bằng nhiều vòng của một thứ sợi màu đen, nhìn kỹ mới thấy đó là tóc người. Tóc trẻ con, mảnh và khô xác.
Ngay khi cuộn giấy được kéo ra khỏi thớ gỗ, một mùi tanh tưởi khủng khiếp bốc lên. Mùi tanh của bùn ao lâu ngày, quyện với mùi thịt thối rữa và mùi ẩm mốc của gỗ mục. Nó nồng nặc đến mức Linh phải lấy tay che mũi, còn vợ Sỹ thì oằn người nôn khan ngay tại chỗ.
Cùng lúc đó, từ trong buồng ngủ phía bên kia bức tường, tiếng đứa trẻ bật ho dữ dội vang lên. Tiếng ho xé ruột xé gan, như thể nó đang cố nôn ra một vật gì đó đang chặn ngang cổ họng.
Minh lập tức gọi điện cho ông Bảy Mộc.
Mười lăm phút sau, ông Bảy lật đật chạy đến. Gương mặt ông lão thợ mộc già hiện rõ vẻ mệt mỏi sau những biến cố liên tiếp trong làng. Nhìn thấy cuộn giấy vàng buộc bằng tóc trên bàn, ông Bảy thở dài, rút trong túi áo ra một chiếc khăn tay sạch, cẩn thận đặt cuộn giấy lên đó.
Ngón tay run rẩy của ông Bảy gỡ từng sợi tóc đen xung quanh cuộn giấy. Khi sợi tóc cuối cùng rơi xuống, tờ giấy vàng tự động bung ra.
Trên mặt giấy, nét mực chu sa đỏ lòm vẽ hình một chiếc giường gỗ ba thành, nhưng bốn chân giường lại được vẽ kéo dài xuống dưới, cắm thẳng vào một chiếc quan tài nằm ẩn dưới đất. Giữa chiếc giường và quan tài là ba chữ nho được viết nguệch ngoạc nhưng sắc sảo:
"Tá bệnh sinh tài."
Vợ Sỹ nhìn tờ bùa, mặt cắt không còn giọt máu, lắp bắp hỏi:
- Ông Bảy... thế này là thế nào hả ông?
Ông Bảy Mộc vuốt chòm râu bạc, giọng trầm xuống đầy u uất:
- Đây là thuật mượn mạng nuôi tài của cánh thợ Lỗ Ban ngày xưa. Năm Tân Hợi, nhà ông Mão nghèo xơ xác, cơm không có mà ăn. Ông Khang đã dùng cây thước Lỗ Ban đo đạc, đặt cửa chính vào cung Tài để đón lộc. Nhưng luật trời công bằng, không ai tự nhiên giàu lên được. Muốn có tài lộc mà phúc đức không đủ, thì phải mượn.
Ông Bảy chỉ vào hình vẽ chiếc giường đè lên quan tài:
- Ông Khang đã yểm lá bùa này vào mộng gỗ đông bắc, đặt giường ngủ của nhà ông Mão vào cung Bệnh. Cái bệnh của người nằm trên giường sẽ là cái giá phải trả để nuôi cái lộc ở cửa chính. Đời trước, ông Mão chỉ bị đau ốm qua loa, thỉnh thoảng nhức đầu sổ mũi vì cái lộc lúc đó mới bắt đầu tụ. Nhưng đến đời sau, khi cái xưởng gỗ này phất lên, tiền tài đổ về càng nhiều, thì cái giá phải trả càng nặng. Đứa trẻ này... nó đang gánh toàn bộ cái nghiệp chướng của cả gia đình này.
Sỹ đứng bên cạnh, mặt mũi lúc xanh lúc đỏ. Gã nhìn chằm chằm vào thanh mộng gỗ cũ, rồi lại nhìn sang vợ mình đang khóc lóc thảm thiết.
Minh hỏi thẳng ông Bảy:
- Có phá được không ông?
Ông Bảy nhìn Minh, ánh mắt đầy vẻ ái ngại:
- Phá thì phá được. Chỉ cần đốt lá bùa này đi, đem thanh mộng gỗ kia ra khỏi nhà, chôn xuống đất sâu hoặc thả sông. Nhưng Minh này... phá bùa rồi thì cái cung Tài của nhà này cũng tan. Xưởng gỗ sẽ sập tiệm, nợ nần sẽ ập đến, tiền tài tích lũy bao năm qua sẽ theo gió mà bay sạch. Đổi lại, bệnh của thằng bé có thể sẽ lui dần, nó giữ được mạng sống. Còn nếu không phá...
Ông Bảy dừng lại, nhìn Sỹ bằng ánh mắt lạnh lùng:
- Thì nó sẽ nằm đó cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, và cái giường cung Bệnh này sẽ đợi một người khác trong nhà vào nằm thay.
Vợ Sỹ nghe xong liền phủ phục dưới chân chồng, gào khóc thảm thiết:
- Ông Sỹ ơi! Tôi xin ông! Bỏ hết đi ông ơi! Tiền bạc chết có mang đi được đâu! Cứu con đi ông ơi!
Sỹ đứng trơ ra như một khúc gỗ. Đôi mắt gã đỏ sọc lên vì lòng tham và sự sợ hãi giằng xé. Gã nhìn ra phía xưởng gỗ rộng lớn bên ngoài, nơi những kiêu gỗ lim, gỗ sến trị giá hàng tỷ đồng đang nằm xếp lớp. Nếu mất hết, gã sẽ trở lại làm thằng Sỹ nghèo kiết xác của hai mươi năm trước, bị người đời khinh rẻ.
Gã nghiến răng, trợn mắt nhìn vợ rồi đẩy mạnh chị ta ra:
- Câm mồm! Mày thì biết cái gì? Không có tiền thì lấy cái gì mà ăn? Lấy cái gì mà chữa bệnh cho nó? Thầy thuốc trên huyện không chữa được thì tao đưa nó đi Hà Nội, ra nước ngoài! Tao không tin cái thứ bùa chú nhảm nhí này!
Sỹ giật lấy lá bùa trên tay ông Bảy, vò nát rồi đút vào túi quần. Gã chỉ tay thẳng vào mặt Minh:
- Các người cút ngay ra khỏi nhà tôi! Từ nay cấm đứa nào được bén mảng đến đây nữa!
Nói rồi, Sỹ hầm hầm bỏ đi thẳng ra phía xưởng gỗ, để lại người vợ nằm khóc ngất trên nền đất lạnh.
Minh và Linh chỉ biết im lặng bước ra ngoài. Ông Bảy Mộc đi phía sau, lắc đầu thở dài liên tục. Ông lẩm bẩm trong miệng:
- Nghiệp tự tác thì tự chịu. Cây thước Lỗ Ban một khi đã đo mạng, thì không ai trốn được.
Đêm hôm đó, một trận giông bão bất ngờ ập xuống làng Vân Độ. Gió rít qua các khe cửa nhà tổ nghe như tiếng hú của quỷ dữ. Minh nằm trên phản gỗ ở buồng tây, mắt nhắm nghiền nhưng không thể nào chợp mắt được. Trong đầu anh cứ lảng vảng hình ảnh đứa con trai của Sỹ, một đứa bé tám tuổi nhưng người gầy guộc, da bọc xương, nằm thoi thóp trên chiếc giường gỗ.
Đúng ba giờ sáng, tiếng chuông điện thoại của Minh vang lên dồn dập.
Anh bật dậy, nhìn màn hình. Là số của ông Bảy Mộc. Giọng ông Bảy trong điện thoại run rẩy, lẫn trong tiếng mưa gió gầm rú:
- Minh ơi... Thằng bé nhà Sỹ... mất rồi.
Minh lặng người. Anh không hỏi thêm gì, lập tức khoác chiếc áo mưa tiện lợi rồi chạy thẳng xuống cuối xóm. Linh cũng thức giấc, chạy theo sau anh.
Khi họ đến nơi, căn nhà hai tầng của Sỹ đã chìm trong tiếng khóc than xé lòng của người vợ. Nhưng điều kinh hoàng nhất không phải là cái chết của đứa trẻ, mà là những gì xảy ra ngay trước khi nó tắt thở.
Vợ Sỹ, đầu tóc rũ rượi, ngồi bệt dưới đất bên cạnh chiếc giường. Chị ta kể lại trong tiếng nấc nghẹn rằng, vào lúc hai giờ năm mươi bảy phút sáng, đứa bé bỗng nhiên ngồi bật dậy. Đôi mắt nó vốn nhắm nghiền suốt mấy tháng qua nay mở to, nhưng tròng đen biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại một màu trắng dã.
Nó nhìn thẳng vào mặt mẹ nó, rồi nhìn sang Sỹ đang đứng ở góc phòng. Nó cất tiếng nói. Giọng nói của nó không còn là giọng của một đứa trẻ tám tuổi, mà là một giọng nói khàn khản, u uất, lạnh lẽo vô cùng, giống như giọng của một người đàn ông trung niên bị bóp cổ:
- Trả cửa lại cho con... Trả cửa lại cho con...
Nói xong câu đó, đứa bé đổ gục xuống giường, máu mũi và máu miệng trào ra đen kịt, nhuộm đẫm cả chiếc gối bông. Nó đã chết.
Sỹ đứng nhìn xác con, mặt cắt không còn giọt máu. Gã như kẻ mất hồn, bước loạng choạng ra khỏi phòng ngủ.
Sáng hôm sau, khi sương mù vừa tan, người làng Vân Độ bị đánh thức bởi một cột khói đen kịt bốc lên từ phía cuối xóm.
Xưởng gỗ của Trần Hữu Sỹ cháy.
Ngọn lửa bùng lên dữ dội từ khu chứa gỗ thành phẩm, nhanh chóng lan sang văn phòng và khu nhà xưởng chính. Trong tiếng nổ lách tách của những thớ gỗ lim, gỗ sến đắt tiền bị lửa thiêu rụi, người ta thấy Sỹ không hề bỏ chạy.
Gã ngồi ngay giữa đống tro tàn của xưởng gỗ, mặc cho tàn lửa bay đầy đầu tóc, quần áo rách rưới bám đầy muội than. Hai tay gã ôm chặt lấy thanh mộng gỗ đông bắc cũ kỹ mà gã đã giật lại từ đống đổ nát của ngôi nhà cổ. Đôi mắt gã dại đi, miệng liên tục lẩm bẩm những câu vô nghĩa:
- Nhà tôi được lộc... Nhà tôi được lộc... Không ai cướp được lộc của nhà tôi...
Gã đã hóa điên.
Minh đứng ngoài hàng rào nhìn vào. Khói bụi mùn cưa và mùi khét của gỗ cháy xộc vào mắt anh cay sè. Anh nhìn thanh mộng gỗ trên tay Sỹ, giờ đây đã bị lửa xém đen một nửa, nhưng cái khe mộng nơi từng giấu tờ bùa vẫn hiện rõ như một cái miệng đang cười nhạo sự ngu muội của con người.
Trở về nhà tổ, Minh bước thẳng vào buồng đồ nghề của cha. Anh thắp một nén nhang đặt lên bàn thờ ông nội và cha, rồi ngồi xuống bên cạnh chiếc bàn thợ cũ kỹ.
Anh mở cuốn sổ nghề của ông Khang ra.
Dưới ánh sáng ban ngày chiếu qua khe cửa sổ, Minh dùng chiếc bút mực đỏ gạch một đường dài dưới tất cả những chữ "Tài", "Sinh", "Quan" xuất hiện trong cuốn sổ. Mỗi nét gạch đỏ như một vết máu mới vẽ trên trang giấy ố vàng.
Anh đếm. Có tổng cộng mười hai căn nhà trong làng Vân Độ được ông Khang trực tiếp đo đạc và yểm bùa theo các cung tốt này. Nhà cụ Đoan được cung Sinh, nhà ông Hựu được cung Quan, nhà họ Nguyễn được cả ba cung...
Một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng Minh.
Anh nhận ra điều đáng sợ nhất của cây thước Lỗ Ban và những lá bùa giấu trong mộng gỗ không phải là các cung xấu như Bệnh, Tử, Ly. Những cung xấu đó hiển hiện rõ ràng, người ta nhìn vào là biết đường mà tránh.
Điều đáng sợ nhất chính là những cung tốt.
Những cung tốt, những sự giàu sang phú quý, những chức quyền danh vọng mà người ta hân hoan nhận lấy, thực chất đều được mua bằng mạng sống. Chúng được mua bằng máu và nước mắt của người khác, rồi chuyển giao tinh vi qua những thớ gỗ vô tri dưới bàn tay tàn nhẫn của kẻ cầm thước.
Ông nội anh, ông Khang thợ cả, đã dùng cây thước này để xoay chuyển vận mệnh của cả một ngôi làng. Nhưng cái giá phải trả cho sự hưng thịnh của Vân Độ là gì? Và ai là người đang phải trả nợ?
Minh lật sang trang tiếp theo của cuốn sổ nghề. Trang giấy này không ghi tên người trong làng, mà chỉ vẽ một sơ đồ nhà cổ ba gian hai chái của chính gia đình anh. Ngay tại vị trí gian giữa, nơi đặt bàn thờ tổ tiên, có một dấu thập màu đỏ rất đậm, kèm theo một dòng chữ viết bằng thứ mực tàu đã chuyển sang màu nâu xám:
"Tim phù... giữ mạng cho thằng Bình."
Bình chính là tên cúng cơm của cha Minh khi còn nhỏ.
Minh run rẩy chạm ngón tay vào dấu thập đỏ trên trang giấy. Từ dưới nền gạch gian giữa, một tiếng động lạ khẽ vang lên, kẽo kẹt như có người đang kéo một chiếc hòm gỗ nặng dưới lòng đất sũng nước.