Thước Lỗ Ban - Chương 7: Người chết dưới xà ngang

Cái chết của con trai Trần Hữu Sỹ như một gáo nước lạnh dội thẳng vào sự bình yên giả tạo của làng Vân Độ. Người ta tìm thấy xác thằng bé ở góc xưởng cưa…

Nội dung chương

Cái chết của con trai Trần Hữu Sỹ như một gáo nước lạnh dội thẳng vào sự bình yên giả tạo của làng Vân Độ. Người ta tìm thấy xác thằng bé ở góc xưởng cưa của gia đình, thân thể nhỏ thóp nằm co quắp dưới đống mùn cưa thông ẩm ướt, miệng ngậm chặt một dăm bào gỗ lim dài đúng ba tấc. Khi người nhà cố cạy miệng nó ra, dăm gỗ đã cắm sâu vào cuống họng, nhuộm một màu đỏ thẫm của máu tươi đã đông cứng. Làng Vân Độ bắt đầu xì xào, những lời đồn thổi như đám ruồi nhặng bay vo ve khắp các ngõ tối.

Người ta bảo Minh về làng mang theo cái huông xui xẻo của dòng họ Nguyễn Đình. Họ nói ông Khang nằm dưới đất ba năm rồi mà nợ nghiệp vẫn chưa tan, nay con trai ông chết, cháu nội ông về, đất dữ lại bắt đầu đòi mạng. Nhưng cũng có những kẻ âm thầm hơn. Cứ đến chập choạng tối, khi sương muối bắt đầu buông trên các rặng cúc tần, lại có những bóng người lầm lũi lẻn vào ngõ nhà Minh. Họ không đi cửa chính mà gõ khẽ vào vách buồng tây. Khi Minh mở cửa, họ run rẩy chìa ra một tờ giấy bản cũ kỹ hoặc một mảnh giấy học trò úa vàng, trên đó ghi nguệch ngoạc tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ của người thân từng chết vì những chứng bệnh lạ lùng, hoặc đột tử không rõ nguyên do.

Họ van xin Minh tra cứu trong cuốn sổ nghề của ông Khang xem nhà họ có bị yểm gì không. Cuốn sổ da bò cũ kỹ nay trở thành một thứ bùa chú đáng sợ, không ai dám nhìn lâu, nhưng ai cũng thèm khát được biết bí mật bên trong nó.

Trong gian buồng tây ngột ngạt mùi nhang tàn, Linh trải rộng tấm bản đồ địa chính làng Vân Độ từ thời Pháp thuộc lên chiếc phản gỗ xoan. Bên cạnh là tấm bản đồ quy hoạch mới nhất mà cô xin được trên huyện. Ánh sáng từ cây đèn dầu lạc tù mù hắt lên khuôn mặt đầy mệt mỏi của cô, tạo thành những quầng bóng đổ dài trên vách đất. Linh dùng một chiếc bút chì đỏ, tỉ mỉ đối chiếu từng địa chỉ được ghi lại trong cuốn sổ nghề của ông Khang.

Cô đặt thước, vạch những đường thẳng nối các điểm lại với nhau. Ngòi bút chì gai trên mặt giấy ráp phát ra những tiếng sột soạt khô khốc.

Nhà ông Mão ở cuối xóm. Nhà ông Hựu sát lối rẽ ra đồng. Nhà cụ Đoan nằm khuất sau bụi tre gai. Đình làng Vân Độ cổ kính. Và cuối cùng là nhà thờ họ Nguyễn, nằm ngay sát bên căn nhà tổ của gia đình Minh.

Khi nét vẽ cuối cùng được nối lại, Linh bỗng rụt tay lại như vừa chạm phải than hồng. Cô nhìn chằm chằm vào những đường chì đỏ trên giấy, da gà nổi lên khắp cánh tay.

Minh cúi xuống nhìn. Những đường thẳng không hề cắt nhau ngẫu nhiên. Chúng đan chéo, uốn lượn rồi quy tụ lại, tạo thành một hình thù kỳ dị, vừa giống một lá bùa trấn trạch sát quỷ cổ xưa, lại vừa giống hình dáng một con rết khổng lồ đang bò trườn trên đất Vân Độ. Đình làng nằm ngay vị trí đầu rết, nhà thờ họ Nguyễn nằm ở phần tim, còn con đường đất chính chạy xuyên qua làng chính là đường xương sống nâng đỡ toàn bộ trận đồ này.

Minh nhìn bản đồ, cảm giác như có một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, anh nói khẽ, giọng khản đặc.

- Cả làng này là một trận đồ.

Ông Bảy Mộc ngồi ở góc phản, tay vân vê chiếc tẩu thuốc lào đã tắt lửa từ lâu. Gương mặt già nua của ông hằn sâu những nếp nhăn như những thớ gỗ mục, mắt ông đăm đăm nhìn vào khoảng tối ngoài sân. Ông thở dài, tiếng thở nghe nặng nề như tiếng cưa gỗ gặp phải mắt tre.

- Ông Khang không yểm riêng một nhà nào cả. Ông ấy dùng cả cái làng này để dựng một trận bùa khổng lồ. Mỗi ngôi nhà ông ấy nhận dựng, mỗi cánh cửa ông ấy đo đạc, đều là một mắt xích để giữ cho mạch khí không bị đứt.

Minh nhíu mày hỏi.

- Nhưng tại sao phải làm thế? Giữ mạch khí để làm gì?

Ông Bảy quay sang nhìn Minh, ánh mắt ông lộ rõ vẻ u uất.

- Để đổi mạng. Để giữ cho cha cậu, ông Phúc, được sống sót qua năm bảy tuổi. Nhưng cậu phải hiểu, gỗ tốt đến mấy nằm dưới đất lâu ngày cũng phải mục. Đinh sắt đóng vào mộng, qua ba mươi năm mưa nắng cũng phải rỉ sét. Những đinh mạng cũ, tức là những người từng bị ông Khang mượn cung số để gánh nợ, nay đã chết gần hết. Trận bùa đang yếu dần. Thứ bị khóa chặt dưới lòng đất Vân Độ bao năm qua đang bắt đầu cựa mình thức giấc.

Minh im lặng. Anh nhớ lại tiếng gõ cộc cộc đều đặn dưới nền gạch gian giữa vào đêm hôm trước. Tiếng động ấy như thể có một sinh vật đang dùng móng tay cào cấu vào lòng đất, cố tìm đường thoát lên.

Ông Bảy Mộc đứng dậy, chỉ tay về phía bức tường gạch rêu phong ngăn cách nhà tổ và nhà thờ họ Nguyễn.

- Muốn biết trận bùa này còn giữ được bao lâu, và muốn hiểu ông Khang đã làm những gì, chúng ta phải vào nhà thờ họ. Theo luật nghề mộc Lỗ Ban, xà cái của nhà thờ họ luôn là nơi ghi tên các đinh chính của dòng họ và những kẻ liên đới. Nơi đó là cốt tủy của ngôi nhà.

Nhà thờ họ Nguyễn nằm khuất sau rặng cúc tần héo úa, lâu nay vốn khóa kín cửa bằng một sợi xích sắt to bản hoen gỉ. Cô Hạnh giữ chìa khóa, nhưng khi Minh hỏi mượn, mặt cô biến sắc, hai tay run cầm cập. Cô ôm khư khư lấy cái hòm gỗ đựng trầu, lắc đầu nguầy nguậy.

- Không được mở. Cha con trước khi nhắm mắt đã dặn đi dặn lại, tuyệt đối không được cho ai bước chân vào đó. Ông nói trong đó không còn thờ tổ tiên nữa rồi. Nó là đất chết. Vào đó là rước họa vào thân đấy con ơi.

Minh bước đến, đặt hai tay lên đôi vai gầy guộc của cô mình. Giọng anh kiên quyết nhưng chứa đựng sự khẩn cầu.

- Cô Hạnh, con trai ông Sỹ chết rồi. Thợ Dậu cũng chết rồi. Nếu chúng ta không mở cửa để tìm hiểu sự thật, cái chết sẽ không dừng lại ở đó đâu. Con không muốn có thêm ai phải nằm xuống vì những bí mật của ông nội nữa.

Cô Hạnh nhìn Minh, nước mắt trào ra trên gò má nhăn nheo. Sau một hồi ngập ngừng, cô run rẩy thò tay vào túi áo, lôi ra một chiếc chìa khóa đồng gỉ xanh, nặng trịch. Chiếc chìa khóa có hình dáng lạ lùng, đầu khóa được dập dẹt giống như hình một chiếc rìu mộc nhỏ.

Cánh cửa gỗ lim của nhà thờ họ Nguyễn nặng nề mở ra, phát ra tiếng kẽo kẹt chói tai, kéo dài như một tiếng than vãn của người câm. Không khí bên trong tối tăm và lạnh lẽo hơn nhà chính rất nhiều. Một mùi ẩm mốc của gỗ mục, mùi nồng hắc của dầu rái cũ và mùi nhang tàn đông đặc qua hàng chục năm xộc thẳng vào mũi, khiến Linh phải ho khan vài tiếng.

Minh soi đèn pin xung quanh. Gian nhà thờ ba gian hai chái hiện ra trong ánh sáng vàng vọt. Những chiếc cột lim đen bóng đứng sừng sững như những thân cây cổ thụ trong rừng sâu, lớp sơn ta bên ngoài đã bong tróc từng mảng, lộ ra thớ gỗ màu nâu đỏ bên trong. Bàn thờ tổ tiên đặt ở gian giữa trống trơn, không có bài vị, chỉ có một bát hương gốm nứt nẻ đầy chân nhang cũ xám xịt, phủ một lớp bụi dày như tuyết.

Trên trần nhà, những chiếc xà ngang, xà nách đan chéo nhau tạo thành một mạng lưới bóng tối dày đặc. Lớp khói nhang bám đen kịt trên các kèo cột, khiến ngôi nhà trông như vừa trải qua một trận hỏa hoạn âm thầm.

Minh dựng chiếc thang tre cũ vào sát cột cái gian giữa. Tiếng thang tre kêu răng rắc dưới sức nặng của anh. Linh đứng dưới giữ chân thang, tay cầm đèn pin soi ngược lên trên, khuôn mặt cô căng thẳng, đôi mắt không rời khỏi những bước chân của Minh.

Minh leo lên đến bậc thang sát xà cái. Ở độ cao này, mùi gỗ mục và bụi bặm càng nồng nặc. Anh rút từ trong túi ra một mảnh vải ướt, bắt đầu lau lớp bồ hóng bám dày trên mặt gỗ lim của thanh xà ngang.

Khi lớp bụi đen trôi đi dưới tay Minh, những ký tự khắc bằng đục mộc dần hiện ra. Đó là những nét chữ Nho pha chữ Quốc ngữ cổ, được khắc sâu vào thớ gỗ, nét khắc thô bạo và sắc lẹm.

Đó là tên của mười hai người học trò của ông Khang.

Minh nheo mắt đọc từng cái tên. Điều khiến anh rùng mình là mười cái tên trong số đó đã bị gạch chéo bằng một đường đục sâu hoắm, giống như một nhát chém chí mạng. Những cái tên bị gạch ấy, Minh nhận ra vài người. Có người chết vì sập hầm lò, có người chết đuối dưới sông, có người tự kết liễu đời mình trong xưởng cưa. Tất cả đều là những cái chết thảm khốc.

Chỉ còn hai cái tên chưa bị gạch chéo.

Nguyễn Văn Bảy.

Và Lâm giữ đình.

Chính là ông Bảy Mộc đang đứng dưới đất kia, và ông từ Lâm đang trông coi ngôi đình ở đầu làng.

Minh nhìn dịch sang bên cạnh, ở ngay chính giữa thanh xà cái, nơi giao nhau của mộng đuôi én chính, có một cái tên được khắc to hơn, sâu hơn tất cả những tên khác: Nguyễn Đình Phúc.

Bên dưới tên của cha anh, có một dòng chữ nhỏ viết bằng thứ mực tàu đã chuyển sang màu đỏ sẫm như máu khô: "mạng vay, đời con trả".

Minh lặng người đi. Những ngón tay anh bám chặt vào thanh xà gỗ lim lạnh ngắt. Hóa ra tất cả những gì cha anh phải chịu đựng cả đời, nỗi sợ hãi, sự im lặng và cái chết cô độc của ông, đều đã được định đoạt sẵn trên thanh xà này từ hàng chục năm trước. Ông đã sống bằng mạng sống của người khác, và giờ đây, món nợ đó đã chuyển sang vai anh.

Ngay lúc đó, chiếc thang tre dưới chân Minh bỗng rung lên bần bật.

Không có gió, Linh và ông Bảy vẫn đang giữ chặt chân thang ở phía dưới, nhưng chiếc thang cứ lắc lư như thể có ai đó đang dùng sức lay mạnh từ hai bên. Thanh xà ngang phát ra những tiếng rên kẽo kẹt, răng rắc ghê người. Những hạt bụi gỗ và mạng nhện từ trên trần nhà rơi lả tả xuống mặt, xuống mắt Minh.

- Minh! Xuống đi! Nguy hiểm lắm! - Linh hét lớn từ bên dưới, ánh đèn pin trong tay cô chao đảo dữ dội.

Minh định dịch chân lùi xuống một bậc thang, nhưng toàn thân anh bỗng cứng đờ. Một cảm giác lạnh buốt đột ngột ập đến từ phía sau gáy. Một luồng khí lạnh vừa thổi một luồng hơi lạnh ngắt vào cổ anh.

Trước khi Minh kịp phản ứng, một bàn tay nhỏ xíu, lạnh như băng đá nhưng những ngón tay lại dài và cứng như rễ tre, thò ra từ bóng tối phía sau xà ngang, găm chặt lấy cổ áo anh kéo ngược lại. Lực kéo mạnh đến mức cổ áo Minh thắt lại, khiến anh nghẹt thở.

Anh quay đầu sang bên cạnh.

Ngay sát mặt anh, chỉ cách chưa đầy một gang tay, một khuôn mặt trẻ con thò ra từ thớ gỗ lim của xà cái. Khuôn mặt ấy xám ngoét, da thịt teo tóp bám sát vào xương sọ. Hai hốc mắt nó không có tròng trắng, chỉ có một màu đen ngòm, sâu hoắm như hai lỗ khoan gỗ không đáy. Đáng sợ nhất là khuôn miệng của nó, hai bờ môi bị khâu chặt lại bằng những sợi chỉ đỏ đã xỉn màu, những mũi khâu thô bạo đâm qua da thịt rách nát.

Từ trong hai hốc mắt đen ngòm của đứa trẻ, hai dòng nước mắt màu đỏ sẫm, đặc quánh như nhựa sơn ta bắt đầu chảy ra ròng ròng, lăn qua gò má xám xịt rồi nhỏ xuống thanh xà ngang.

Một tiếng thì thầm, khản đặc và non nớt, nhưng lại vang lên trực tiếp trong đầu Minh như tiếng búa gõ vào đỉnh đầu.

- Anh Phúc sống rồi... Tới lượt anh Minh trả...

Chiếc thang tre dưới chân Minh gãy đôi với một tiếng "rắc" giòn giã. Minh mất đà, người anh rơi tự do từ trên cao xuống nền đất nện cứng ngắc của nhà thờ họ.

Cú ngã mạnh khiến toàn bộ xương sườn của anh như vỡ vụn. Bóng tối ập đến nhanh chóng, nuốt chửng lấy tiếng hét thất thanh của Linh và khuôn mặt biến dạng của đứa trẻ trên xà ngang.

Khi Minh mở mắt ra, đập vào mắt anh đầu tiên là làn khói xám đục, cay xè và nồng nặc mùi lá ngải cứu, lá đại bi cùng mùi gừng nướng. Anh ho sặc sụa, lồng ngực đau nhói như có hàng ngàn chiếc kim đâm vào.

Minh thấy mình đang nằm trên chiếc phản gỗ ở gian giữa nhà tổ. Đầu anh đau như búa bổ, được kê trên một chiếc gối thảo dược ấm nóng. Bên cạnh phản, ông Bảy Mộc đang lom khom bên một chiếc niêu đất nhỏ, dùng quạt nan quạt nhẹ vào đám lá khô đang cháy âm ỉ để xông khói cho anh.

Linh ngồi sát bên cạnh, khuôn mặt cô trắng bệch không còn một giọt máu, đôi mắt đỏ hoe như vừa khóc xong. Thấy Minh cử động, cô vội vàng đỡ lấy vai anh.

- Cậu tỉnh rồi... Cậu ngất đi gần một tiếng đồng hồ rồi đấy. Làm tôi sợ phát khiếp.

Minh cố gượng ngồi dậy, đầu óc vẫn còn quay cuồng. Anh nhìn ra ngoài sân, trời đã tối hẳn, tiếng gió rít qua khe cửa nghe như tiếng người khóc than ngoài đồng. Anh quay sang hỏi ông Bảy, giọng vẫn còn run rẩy.

- Đứa trẻ trên xà... nó là ai?

Ông Bảy Mộc không trả lời ngay. Ông đổ chén nước lá đắng ra một chiếc bát sành, đưa cho Minh rồi nói bằng giọng trầm đục.

- Đó là thằng Tí. Đứa trẻ năm xưa bị ông Khang dùng để đổi mạng cho cha cậu. Nó không siêu thoát được, hồn vía nó bị khóa chặt vào thanh xà cái của nhà thờ họ để làm đinh giữ trận.

Minh đón lấy bát nước, tay anh run đến mức làm nước sóng sánh tràn ra ngoài. Anh nhìn thẳng vào mắt ông Bảy.

- Nhưng tại sao nét chữ trên xà lại thay đổi?

Ông Bảy Mộc im lặng, ông đứng dậy, đi đến bên bàn thờ, châm một nén nhang rồi cắm vào bát hương. Làn khói nhang lờ lững bay lên, quuyện vào bóng tối trên xà nhà. Ông quay lại nhìn Minh, ánh mắt đầy vẻ bi thương.

- Cậu chưa biết sao? Khi cậu ngã xuống, tôi đã trèo lên xem lại.

Minh giật mình, anh cố nén cơn đau ở ngực, bước xuống phản rồi đi thẳng sang nhà thờ họ. Cánh cửa vẫn mở hé. Dưới ánh đèn pin cầm tay của Linh, Minh nhìn lên thanh xà cái một lần nữa.

Tên của cha anh, Nguyễn Đình Phúc, đã hoàn toàn biến mất khỏi thớ gỗ lim. Chỗ đó giờ đây trống trơn, như thể chưa từng có nét đục nào được khắc lên.

Nhưng ngay bên cạnh đó, một dòng chữ mới đã hiện ra. Nét khắc còn rất mới, những dăm gỗ nhỏ li ti vẫn còn bám quanh viền chữ, chưa kịp bị bụi bám vào. Nét chữ sắc lẹm, tươi rói như vừa được rạch bằng một con dao bén:

Nguyễn Đình Minh.

Ông Bảy Mộc đứng sau lưng Minh, giọng ông nhỏ như một tiếng thở dài trong bóng đêm.

- Trận bùa đã nhận cậu rồi, Minh ạ. Món nợ của cha cậu, giờ đã chuyển sang cậu. Từ giờ trở đi, thước Lỗ Ban sẽ tự tìm đến cậu.

Minh nhìn dòng tên mình trên xà ngang, hàm răng anh nghiến chặt đến phát ra tiếng kêu kèn kẹt. Một cơn sốt lạnh đột ngột từ lòng bàn chân chạy thẳng lên đỉnh đầu, khiến toàn thân anh run lên bần bật. Cơn sốt ấy không giống những trận ốm thông thường, nó mang theo một cảm giác tê dại, như thể có hàng ngàn con mọt gỗ đang bắt đầu gặm nhấm dần sinh khí bên trong cơ thể anh.

Chương khác

Xem thêm