THƯƠNG HẢI QUAN TRƯỜNG - Chương 4: Năm 1999

Võ Minh Khang đứng trước cuốn lịch bloc rất lâu mà không nhấc nổi tay. Tờ giấy trên cùng đã ngả màu kem vì hơi ẩm. Mép giấy quăn nhẹ ở góc dưới. Trên đầu…

Nội dung chương

Võ Minh Khang đứng trước cuốn lịch bloc rất lâu mà không nhấc nổi tay.

Tờ giấy trên cùng đã ngả màu kem vì hơi ẩm. Mép giấy quăn nhẹ ở góc dưới. Trên đầu tờ lịch là hàng chữ in đỏ quen đến đau mắt, kiểu phông chữ của mấy cuốn lịch tặng cơ quan cuối năm nào cũng giống nhau. Bên dưới là con số ngày to đậm. Góc phải in lịch âm. Góc trái là một câu danh ngôn nhạt nhẽo về chăm chỉ và tiết kiệm.

Những chi tiết vụn đó đập vào mắt anh còn dữ hơn cả con số.

Vì anh nhớ đã từng ghét cuốn lịch này.

Hồi đó, sáng nào cha anh cũng xé lịch trước khi đi làm. Tờ lịch cũ vo lại bỏ vào giỏ rác dưới gầm bàn. Nhiều hôm Khang đi học muộn, vừa nhét cơm rang vào miệng vừa nhìn thấy cha đứng ở mép tường, tay giữ bloc lịch, cổ tay kéo xuống một cái gọn bâng như một nghi thức. Ngày nối ngày đi qua bằng tiếng giấy rách mỏng ấy. Khi còn trẻ, Khang chẳng bao giờ nghĩ một đời người có thể bị treo lên chỉ bởi vài tờ giấy mỏng.

Anh giơ tay.

Bàn tay còn hơi run.

Ngón trỏ chạm vào phần năm in đậm.

1999.

Không phải 2009. Không phải 2018. Không phải bất kỳ nhầm lẫn do đầu óc chấn động nào.

Là 1999.

Ngực Minh Khang phập mạnh một nhịp. Anh vịn luôn vào mép tường cho khỏi khuỵu. Một lúc sau mới phát hiện lòng bàn tay mình đã ướt mồ hôi từ khi nào.

Ngoài phòng khách, tiếng cha anh lật báo vẫn đều đặn từng trang. Tiếng mẹ anh mở nắp nồi rồi đặt xuống, tiếng vá chạm vào thành xoong leng keng, tiếng nước chảy ở bồn rửa. Cả căn nhà sống bằng một nhịp quen thuộc tới mức tàn nhẫn. Nó không cho anh chỗ nào để tự lừa mình thêm nữa.

Anh đã quay lại.

Quay hẳn lại.

Minh Khang kéo cuốn lịch sát hơn một chút. Dòng thứ hiện lên ngay dưới con số ngày làm anh cắn chặt răng.

Thứ năm, 28 tháng 10.

Đầu ngón tay anh dừng ở đó.

28 tháng 10 năm 1999.

Ngày này, ở kiếp trước, anh đang sốt nằm một đống trong phòng. Sốt mụ đầu mùa hay cảm gió gì đó, chính anh bây giờ cũng không còn nhớ rõ. Chỉ nhớ trời rất hầm, đầu đau, cả ngày nằm vật vã nghe tiếng quạt quay. Mẹ nấu cháo hành. Cha đi làm về hơi muộn. Hai hôm sau, có người đến nhà.

Rồi sau đó, mọi thứ trôi xuống dốc rất nhanh.

Anh nhắm mắt.

Bốn ngày.

Nếu trí nhớ không phản anh, từ hôm nay đến lúc cái lời nhắn “đi ra ngoài vài ngày” xuất hiện chỉ còn bốn ngày.

Minh Khang mở mắt ra lần nữa, đọc lại đúng dòng ngày tháng ấy như một kẻ sợ mình nhìn lầm.

Thứ năm, 28 tháng 10 năm 1999.

Lần này không chỉ thấy sợ. Anh còn thấy một thứ khác chen vào giữa lớp sợ đó. Nó lạnh, cứng, và rất rõ hình.

Thời gian.

Lần đầu tiên sau khi mở mắt ở căn phòng này, anh nắm được thứ cụ thể. Không còn là một cảm giác mù mờ rằng “mình đã quay lại quá khứ”, mà là một mốc ngày, một con số, một quãng đếm ngược có thể chạm được bằng tay.

Anh quay lại bàn học.

Trên chồng vở có một cuốn lịch học đóng gáy lò xo mỏng của trường cấp ba, bìa in tên trường bằng mực xanh tím đã hơi nhòe vì mồ hôi tay. Anh rút ra. Tờ đầu tiên là thời khóa biểu học kỳ một. Bên góc có ghi bằng bút bi tên anh, lớp và năm học.

Năm học 1999 - 2000.

Không còn gì để nghi ngờ.

Minh Khang lật thêm vài trang, thấy một tờ đề cương kiểm tra văn dán kẹp ở giữa, phía trên cô giáo ghi bằng bút đỏ: “Thứ hai tuần sau nộp”. Chữ đỏ ấy làm đầu óc anh bật lên một nhịp khác. Thứ hai tuần sau. Nếu hôm nay là thứ năm ngày 28, vậy thứ hai là ngày 1 tháng 11.

Đúng rồi.

Ngày cha anh rời Cửa Hàn ở kiếp trước hình như rơi vào đầu tháng mười một. Không phải mùng một thì là mùng hai. Sau đó trời chuyển hẳn. Rồi mưa dồn. Rồi lũ.

Trí nhớ bật mở thêm một mảnh.

Sáng đầu tháng đó, Khang có tiết kiểm tra toán nhưng nghỉ. Cả lớp sau này có đứa đem bài sang cho chép. Anh nhớ vì tờ đề bị dính vệt dầu do mẹ đặt cạnh đĩa cá chiên. Những chi tiết lặt vặt vô nghĩa ấy, đến lúc cần, lại là thứ giữ trí nhớ không trôi.

Minh Khang đặt tờ thời khóa biểu xuống, kéo ngăn bàn ra.

Bên trong là đủ thứ lộn xộn của tuổi mười sáu: mấy viên bi ve, tờ giấy gấp máy bay, mảnh nhãn chai nước ngọt, một hộp băng cá nhân đã dùng mất nửa, vài lá thư ném qua cửa sổ lớp không ghi tên người gửi. Ở góc ngăn kéo là cái bóp giả da màu nâu cũ, trong đó có thẻ học sinh.

Anh rút ra.

Tấm thẻ ép plastic thô cứng, ảnh chụp bé tí, tóc cắt ngắn tới mức mặt càng gầy. Bên dưới ảnh là dòng chữ “Võ Minh Khang - Lớp 11A3”. Ngày cấp nằm ngay cuối góc phải.

Tháng 9 năm 1999.

Anh nhìn tấm ảnh một lúc rồi nhét lại vào bóp. Mọi bằng chứng trong căn phòng này đều đang xếp hàng cùng nói với anh một chuyện: đây là cuối năm 1999, và thân thể anh đang ở đúng giai đoạn ngay trước khi nhà họ Võ trượt khỏi đoạn đời yên ổn cuối cùng.

Tiếng dép mẹ anh lại tới gần.

Minh Khang nhét tấm thời khóa biểu vào chỗ cũ, vừa kịp quay người thì Lê Thị Hậu đẩy cửa bước vào. Trên tay bà là cái khay nhôm nhỏ có tô cháo và hai viên thuốc trắng đặt trong nắp chai nước khoáng cắt làm đôi.

– Cứ ngồi đực ra đó làm gì?

Bà đặt khay xuống bàn, liếc qua cuốn lịch rồi quay sang con trai.

– Đỡ chưa?

Minh Khang nhìn bà, đầu vẫn còn ong ong với mấy con số.

– Mẹ.

– Gì?

Anh lỡ mất một nhịp rồi vẫn hỏi.

– Hôm nay là... hai mươi tám hả mẹ?

Lê Thị Hậu cau mày.

– Sốt đến lú rồi à? Lịch treo ngay trên đầu còn hỏi mẹ.

Bà nói vậy, nhưng vẫn nhìn lên tờ lịch rồi đáp lại như một phản xạ của người mẹ đã quen nhắc giờ giấc cho cả nhà.

– Hai mươi tám. Thứ năm. Cuối tháng rồi, sắp lĩnh lương rồi đây.

Câu cuối bà nói nửa đùa nửa thở. Minh Khang lại thấy cổ họng nghẹn đi.

Ở tuổi này, mẹ anh còn có thể nói tới chuyện lĩnh lương bằng giọng ấy. Về sau, mỗi lần cuối tháng chỉ còn là một lần ngồi tính xem điện, nước, tiền chợ, tiền thuốc men phải kéo ra sao cho không đứt giữa chừng.

Anh kéo ghế ngồi xuống.

– Con tự ăn được.

– Tự ăn thì ăn đi.

Lê Thị Hậu đứng tựa cửa nhìn anh mấy giây, như vẫn thấy con mình có gì đó khác thường.

– Hồi sáng còn mê mê gọi mẹ mà cứ trân trân như thấy người lạ. Giờ lại ngồi nhìn lịch. Có cần mẹ chở đi trạm xá không?

– Không cần đâu mẹ.

Anh đáp nhanh quá làm bà càng nhìn kỹ hơn.

– Thiệt không?

– Thiệt.

Lê Thị Hậu gật đầu, nhưng lúc quay ra còn bỏ lại một câu.

– Ăn xong rồi uống thuốc. Chiều mà còn nóng là mẹ gọi chú Phước dưới trạm xá lên nghe chưa.

Cửa khép hờ lại.

Minh Khang cầm thìa lên. Cháo loãng, nấu với ít hành lá và thịt bằm, còn nóng nghi ngút. Anh thổi mấy hơi rồi mới đưa vào miệng. Vị cháo nhạt, có mùi nước mắm và gạo cũ rất quen. Chỉ vừa nuốt một thìa mà bụng anh đã cồn lên. Không phải vì ngon dở. Mà vì cảm giác này quá thật.

Anh ăn chậm, mắt vẫn thỉnh thoảng liếc lên cuốn lịch.

Ngày đó đang treo trên đầu anh như một nhát dao có ghi số đếm ngược.

Ăn được nửa bát, anh đặt thìa xuống, kéo quyển sổ tay bìa xanh trên bàn lại gần. Đây không phải quyển sổ mới. Mép giấy đã quăn. Bìa góc trái bị móp do từng bị rơi xuống nền. Anh mở ra. Mấy trang đầu ghi linh tinh lịch kiểm tra, số điện thoại nhà bạn, vài dòng nháp văn. Anh lật tới trang trắng ở giữa.

Bàn tay cầm bút của anh chậm một nhịp.

Lâu lắm rồi anh không viết bằng chữ tay thật lâu. Những năm gần đây, anh chỉ ký, gạch đầu dòng nhanh, hoặc gõ máy tính. Nhưng cái tên đầu tiên hiện lên trong đầu lúc này buộc phải đi qua mực xanh và mặt giấy trắng, mới đủ lực để ghim lại.

Anh viết:

“28/10/1999.”

Dòng chữ đầu hơi lệch. Cơ tay của thân xác mười sáu tuổi chưa theo kịp nhịp đầu óc ba mươi lăm.

Anh viết tiếp:

“4 ngày.”

Rồi dừng.

Bốn ngày tới cái gì?

Tới người đưa lời.

Tới chuyến đi.

Tới cú trượt đầu tiên của cha.

Tới chỗ nhà họ Võ bị đẩy ra mép mọi cuộc trò chuyện.

Anh siết cây bút mạnh thêm, đầu bi rít trên giấy.

Ở phòng ngoài, cha anh đột nhiên gọi.

– Hậu, cái lịch tháng này đâu?

Lê Thị Hậu đáp từ bếp.

– Trên tủ chén đó. Hồi nãy anh để đâu em biết chết liền.

Minh Khang ngẩng lên.

Lịch tháng.

Đúng rồi, không chỉ có bloc lịch treo tường. Cha anh vẫn có thói quen để một cuốn lịch bỏ túi hoặc tờ lịch tháng đánh dấu lịch công tác. Nếu ở đây thật sự là cuối tháng mười, lịch làm việc của cha anh có thể đã có dấu gì đó.

Ý nghĩ ấy vừa ló lên đã kéo theo một luồng lạnh chạy dọc gáy.

Nếu lịch công tác đã có.

Nếu cuộc đi đó đã được sắp từ trước.

Nếu người đưa lời chỉ là mắt xích cuối cùng chứ không phải khởi đầu.

Minh Khang hạ mắt xuống trang sổ.

Anh viết thêm một dòng dưới con số “4 ngày”.

“Tìm lịch công tác của cha.”

Viết xong, anh nhìn lại nét chữ của chính mình mà thấy lạ. Không còn là mấy dòng ghi bài vở của cậu học sinh lớp 11. Cũng chưa hẳn là ghi chép lạnh của người trưởng thành. Nó nằm lưng chừng, giống chính anh lúc này.

Trong phòng khách, tiếng ghế gỗ xê ra. Cha anh đứng dậy. Tiếng bước chân quen thuộc đi về phía bếp. Chỉ nghe thôi, Minh Khang cũng biết ông đang mặc áo sơ mi trắng ngắn tay, ống quần là phẳng, tóc còn ướt sau lúc rửa mặt. Anh biết cả thói quen ông vuốt nếp áo ở bụng trước khi bước ra cửa, biết cả tiếng lách cách của chiếc cặp khóa kim loại mỗi khi đặt xuống bàn.

Những thứ đó kiếp trước anh từng coi là hiển nhiên.

Bây giờ chúng quý đến mức làm lòng bàn tay anh lại ướt đi.

Minh Khang khép sổ. Trong đầu anh không còn câu hỏi “mình có thật sự quay lại hay không” nữa. Câu hỏi đó đã chết hẳn khi mẹ đọc đúng ngày và cuốn lịch mở ra năm 1999.

Thứ còn lại là một câu khác.

Trong bốn ngày này, anh phải làm gì để đổi hướng một chuyện từng nghiền nát cả gia đình?

Anh nhìn xuống tô cháo còn lưng lửng, rồi nhìn cuốn lịch trên tường lần nữa.

Tờ giấy mỏng đó không chỉ ghi ngày tháng.

Nó đang ghi án treo trên đầu cha anh.

Chương khác

Xem thêm