Tin Nhắn Lúc Nửa Đêm - Chương 21: Đi tìm Tuấn Sài Gòn
Buổi sáng hai mươi lăm tháng mười, Trần Văn Hải dậy lúc trời còn chưa ráo sương. Anh ngồi trên chiếc ghế nhựa trước hiên, tay cầm quyển sổ tay đã sờn…
Nội dung chương
Buổi sáng hai mươi lăm tháng mười, Trần Văn Hải dậy lúc trời còn chưa ráo sương. Anh ngồi trên chiếc ghế nhựa trước hiên, tay cầm quyển sổ tay đã sờn mép, lật đi lật lại trang ghi mấy dòng chữ nguệch ngoạc từ đêm hôm trước: "giấy báo tử - con dấu giả", "GPS giữa sông Vàm Ranh", "Mén: đêm 12/7". Dưới cùng là một cái tên anh gạch đi rồi lại viết lại, nét chữ đè lên nhau thành một vệt mực đen: Lê Minh Tuấn - Tuấn Sài Gòn.
Bà Sáu Lành từ trong bếp bưng ra bát cháo trắng, đặt xuống bàn rồi ngồi đối diện con. Từ đêm nghe kết quả giám định con dấu là giả, bà gầy hẳn đi. Đôi mắt bà trũng sâu, nhưng mỗi sáng bà vẫn dậy sớm nấu cháo, như thể duy trì được nếp sinh hoạt thì nỗi đau sẽ không lấn hết căn nhà này.
- Má ăn đi, con đi huyện một chuyến. Trưa về.
Bà Lành không hỏi đi làm gì. Bà chỉ gật đầu, mắt nhìn ra khoảng sân nơi cây mận đang trổ lá non.
- Đi cẩn thận. Đừng có... làm chuyện dại.
Hải nuốt nghẹn. Anh biết má đang nghĩ gì. Từ ngày Út Mén về làng kể chuyện, rồi tờ giấy báo tử lộ ra là đồ giả, trong mắt bà Lành có một thứ lửa âm ỉ. Thứ lửa ấy khiến Hải sợ. Không phải sợ má, mà sợ chính mình, vì anh cũng đang cháy cùng một ngọn lửa đó.
Chiếc xe máy cà tàng của Hải nổ máy khục khặc rồi lăn bánh ra khỏi con hẻm đất đỏ. Tân Phú buổi sáng còn ngái ngủ. Mấy đứa nhỏ xách cặp đi học, miệng ngậm cây kẹo mút. Người ta gánh rau ra chợ. Mùi khói rơm từ đồng xa bay về, quyện với mùi nước mắm chưng trong mấy căn bếp ven đường. Hải chạy qua cầu ván ọp ẹp, nhớ lại buổi sáng mười lăm tháng tư, thằng Đức cũng đi trên con đường này, ngồi sau xe mười sáu chỗ, thò đầu ra vẫy tay cười tươi rói.
- Anh ở nhà coi chừng má nghen. Em đi làm ít tháng có tiền về sửa lại cái mái nhà.
Hải tăng ga. Gió quất vào mặt rát buốt. Anh không cho phép mình khóc trên đường.
Huyện cách làng Tân Phú gần ba mươi cây số. Đường nhựa hai làn, hai bên là ruộng mía xanh rì chạy dài đến tận chân trời. Đầu giờ sáng, xe cộ thưa thớt, chỉ có mấy chiếc xe tải chở mía chạy ầm ầm. Hải nhớ lời Út Mén: lần đi của Đức và Mén, xe đón ở quán cà phê võng "Võng Xưa" đầu huyện. Mén kể, quán đó nằm ngay ngã ba rẽ vào đường đất đỏ đi biên giới, treo tấm bảng gỗ khắc chữ "Võng Xưa" đã bạc màu nắng mưa. Tuấn Sài Gòn hay hẹn đám thanh niên ở đó, cho uống cà phê đá, nói chuyện công việc, rồi xe mười sáu chỗ đến là lên đường.
Hải chưa bao giờ đến quán đó. Ngày Đức đi, anh đang nhận sửa dạo một lô điện thoại ở xã bên, về đến nhà thì em đã lên xe. Anh chỉ kịp dúi cho em năm trăm nghìn qua cửa kính xe, chưa kịp hỏi nó đi đâu, làm gì, với ai. Năm trăm nghìn ấy, đến giờ vẫn là cục nợ đè nặng nhất trong lòng Hải. Nếu hôm đó anh ở nhà, nếu anh hỏi thêm một câu, nếu anh giữ em lại...
Anh lắc đầu, không cho phép mình đi tiếp con đường "nếu".
Ngã ba hiện ra sau một khúc cua. Tấm bảng gỗ "Võng Xưa" đúng như Mén tả: chữ khắc đã mòn, sơn đỏ bong tróc từng mảng, treo nghiêng trên hai sợi dây thép gỉ. Quán nằm dưới tán mấy cây sao cổ thụ, mắc võng san sát. Mùi cà phê rang xay thoang thoảng trong gió. Giờ này quán vắng, chỉ có hai ba ông khách già ngồi đánh cờ tướng, và một người đàn ông trạc ngoài năm mươi đang lau bàn, dáng người gầy, mặt rám nắng.
Hải dựng xe, bước vào, gọi một ly cà phê đá. Chủ quán mang ra, nhìn anh từ đầu đến chân.
- Chú lạ mặt nghen. Đi đâu qua đây?
- Dạ con ở Tân Phú. Con... hỏi thăm một người.
Ông chủ quán lau tay vào chiếc khăn vắt vai, kéo ghế ngồi xuống đối diện. Hải nhận ra trên cổ tay ông có hình xăm đã mờ, kiểu xăm của dân đi biển ngày xưa.
- Chú tên gì? Tôi là Bảy Nhạn, chủ cái quán rách này mười mấy năm rồi. Vợ tôi là bà Bảy, chắc chú gặp bả ở quán rồi đó. Hỏi ai, nói đi, biết thì tôi chỉ.
Hải ngập ngừng. Anh đã tập nói câu này suốt dọc đường, nhưng đến lúc mở miệng, cổ họng vẫn nghẹn lại.
- Dạ... con hỏi thăm anh Tuấn. Tuấn Sài Gòn.
Không khí trong quán như khựng lại một nhịp. Hai ông khách đánh cờ ngẩng lên nhìn, rồi lại cúi xuống, nhưng Hải thấy rõ bàn tay cầm quân cờ của một ông khẽ run. Ông Bảy Nhạn nheo mắt, nhìn Hải lâu hơn.
- Chú hỏi Tuấn Sài Gòn làm gì?
- Em con... hồi tháng tư, nó theo anh Tuấn đi làm. Đến giờ nhà con mất liên lạc. Con muốn tìm anh ấy hỏi thăm.
Ông Bảy Nhạn ngồi lặng một lúc lâu, rồi đứng dậy đi vào trong quầy, lục lọi gì đó. Khi trở ra, ông đặt trước mặt Hải một cuốn sổ bìa da đã cũ.
- Chú em tên gì?
- Dạ Trần Văn Đức. Hai mươi hai tuổi.
Ông Bảy lật sổ, ngón tay trỏ chai sần lướt qua từng trang. Hải nín thở. Cuốn sổ này, ông ghi chép những gì? Tên những đứa thanh niên đã qua đây? Số xe? Ngày giờ?
- Tháng tư... tháng tư... - Ông Bảy lẩm bẩm. - Đây rồi. Ngày mười lăm tháng tư. Đức, Tân Phú, đi với Mén. Xe mười sáu chỗ, biển số... tôi ghi có ba số đầu thôi, 51B...
Tim Hải đập thình thịch. Mén kể đúng. Mọi chi tiết Mén kể đều khớp. Nghĩa là những gì Mén nói về đêm mười hai tháng bảy cũng...
- Chú Bảy, anh Tuấn còn về đây không?
Ông Bảy Nhạn đóng sổ lại, thở dài. Ông rót thêm trà đá cho Hải, giọng trầm xuống.
- Còn. Thỉnh thoảng. Tháng nào nó cũng ghé một hai lần, lần nào cũng dẫn theo một hai đứa thanh niên lạ mặt. Vẫn cái xe mười sáu chỗ màu trắng đó. Có lần tôi hỏi nó: Tuấn, mày đưa tụi nó đi đâu mà đứa nào đi rồi cũng bặt vô âm tín? Nó cười, nó nói: chú Bảy lo bán cà phê đi, hỏi nhiều coi chừng sặc.
Ông ngừng lại, nhìn ra đường.
- Tôi bán quán ở đây mười mấy năm, thấy không biết bao nhiêu đứa con nít lớn lên rồi biến mất theo mấy chiếc xe như vậy. Có đứa về, người ngợm tàn tạ. Có đứa không bao giờ về. Tôi già rồi, tôi không dám dây vào. Nhưng mà chú em à, thằng Đức nhà chú... tôi nhớ mặt nó. Nó hiền, ngồi võng mà cứ nhìn quanh, tay nắm chặt cái ba lô như sợ mất. Tôi còn cho nó thêm ly trà đá miễn phí.
Hải cúi đầu. Nước mắt anh rơi xuống ly cà phê, tạo thành những gợn sóng nâu đen.
- Chú Bảy... chú có số điện thoại của anh Tuấn không?
- Có. Nhưng nó đổi số như thay áo. Tháng trước tôi xin được số mới, không biết giờ còn dùng không. - Ông Bảy Nhạn đứng dậy, đi vào quầy, xé một mẩu giấy, viết nguệch ngoạc mấy con số rồi đưa cho Hải. - Nè. Nhưng chú nghe tôi dặn: thằng Tuấn này không phải dạng vừa đâu. Nó có đàn em, có người chống lưng. Chú đi một mình, liệu mà giữ cái mạng.
Hải run run đón lấy mẩu giấy. Trên đó là dãy số: 0908 314 527. Anh cẩn thận chép vào sổ tay của mình, ghi chú bên cạnh: "Số mới Tuấn SG - xin từ chú Bảy Nhạn, quán Võng Xưa, 25/10". Rồi anh gấp mẩu giấy gốc, bỏ vào túi áo trong, sát ngực.
- Con cảm ơn chú Bảy. Chú... nếu anh Tuấn có ghé, chú đừng nói con đến tìm.
- Yên tâm. Tôi không muốn dính vào chuyện của nó.
Hải trả tiền cà phê, đứng dậy. Trước khi ra về, ông Bảy Nhạn gọi giật lại.
- Này chú em. Cái xe mười sáu chỗ trắng đó, lần gần nhất tôi thấy là... để coi... đầu tháng mười này. Nó chở hai đứa nhỏ, mặt non choẹt, chắc chưa tới hai mươi. Tôi nhìn mà xót ruột. Chú liệu mà làm gì thì làm nhanh lên. Mỗi tháng nó còn đưa người đi, là mỗi tháng có thêm nhà tan cửa nát.
Trên đường về, Hải chạy xe mà đầu óc quay cuồng. Số điện thoại mới của Tuấn nằm trong túi áo như một cục than hồng. Anh có số rồi. Bước tiếp theo là gì? Gọi cho nó? Nói gì? Hải không phải công an, không có nghiệp vụ, không có ai chống lưng. Anh chỉ là một thằng thợ ở làng quê, tay nghề là tháo máy, thay màn hình, câu dâyây.
Nhưng anh có một thứ mà Tuấn không ngờ tới: một quyển sổ tay ghi chép từng tín hiệu lúc ba giờ sáng, một chiếc laptop tự gõ phím trong đêm, và một thằng em đã chết vẫn đang cố gửi tin nhắn về từ bên kia sông Vàm Ranh.
Về đến nhà, trời đã quá trưa. Bà Lành đang ngồi nhặt rau ngoài hiên. Hải dựng xe, bước vào nhà, mở sổ tay ra trang mới. Anh viết:
"25/10 - Quán Võng Xưa, đầu huyện. Gặp chú Bảy Nhạn. Xác nhận: Tuấn SG vẫn hoạt động, vẫn dùng xe 16 chỗ trắng đưa thanh niên đi (lần gần nhất đầu tháng 10). Có số mới: 0908 314 527. Chú Bảy cảnh báo: Tuấn có đàn em, có người chống lưng."
Anh đóng sổ lại, nhìn lên bàn thờ. Di ảnh Đức trong khung kính mỉm cười. Dưới di ảnh là hũ tro cốt bọc vải đỏ. Hải nhìn hũ tro một lúc lâu, rồi khẽ nói, giọng chỉ đủ mình nghe:
- Đợi anh, Đức. Anh tìm ra nó rồi.
Ngoài sân, nắng trưa gắt chang chang. Nhưng trong lòng Hải, có một cơn gió lạnh vừa thổi qua, mang theo mùi của những con đường đất đỏ dẫn về phía biên giới.