TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 102: Lời Chuộc Của Người Mẹ

Phan Khanh ngồi xổm bên thềm gạch ướt sũng của tiệm Vong Ký. Ánh đèn pin từ tay anh quét qua quét lại trên khối đá xanh vỡ nát. Tiếng mưa Bao Vinh vẫn gõ…

Nội dung chương

Phan Khanh ngồi xổm bên thềm gạch ướt sũng của tiệm Vong Ký. Ánh đèn pin từ tay anh quét qua quét lại trên khối đá xanh vỡ nát. Tiếng mưa Bao Vinh vẫn gõ đều đặn trên mái ngói rêu phong, làm nước từ mép hiên chảy xuống thành dòng, xối thẳng vào những vệt đỏ sẫm đang loang ra trên nền đất. Anh đeo găng tay cao su, dùng một chiếc tăm bông quệt nhẹ vào lớp dịch đỏ trên hốc mắt nghê đá rồi đưa lên ngửi.

- Máu còn rất mới.

Phan Khanh nói, giọng anh đanh lại giữa tiếng mưa.

- Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ. Đây là máu của người sống, không phải dịch phân hủy từ hài cốt.

Khánh đứng tựa lưng vào khung cửa gỗ lim, hai tay khoanh trước ngực, mắt nhìn chăm chăm vào khối đá xanh. Gió lạnh từ sông Hương thổi thốc vào kiệt nhỏ, mang theo hơi ẩm buốt của đêm cuối tháng năm.

- Máu của ai?

Khánh hỏi, giọng khàn đi vì lạnh.

- Trong tiệm chỉ có tui, o Bảy với thằng Bồi. Ông Tư thì đang nằm trong buồng. Máu ni chắc chắn không dính tới người nhà này.

Phan Khanh không trả lời ngay. Anh đứng dậy, soi đèn pin xuống những viên sỏi nhỏ rải dọc lối đi từ cổng vào. Ánh sáng vàng vọt chỉ ra những vệt xước dài trên mặt đất, cát sỏi bị gạt sang hai bên tạo thành một đường rãnh nông.

- Khối đá này nặng ít nhất ba mươi ký. Bề mặt có dấu bị kéo lê trên đường lát sỏi chứ không phải có người bê thẳng vào đây. Kẻ mang nó đến đây đã phải lôi nó đi một quãng đường dài. Nhưng từ ngoài đầu kiệt vào đến đây không hề có dấu chân bùn nào khác.

Trần Quang từ trong nhà bước ra, tay cầm theo một tập hồ sơ chứa những bức ảnh chụp chiếc rương sắt lúc mới được trục vớt dưới lòng sông Hương. Anh đẩy gọng kính cận lên sát sống mũi, ngồi ghé xuống cạnh Phan Khanh, trải rộng những tấm ảnh đen trắng được phóng to trên một chiếc ghế đẩu gỗ.

- Khanh, anh nhìn kỹ tấm ảnh chụp đáy rương này đi.

Quang chỉ ngón tay vào một góc tối dưới đáy chiếc rương sắt rỉ sét.

- Chỗ này có một khoảng trống hình trụ, đường kính khoảng mười phân, sâu chừng hai mươi phân. Lúc đội trục vớt đưa cái rương lên bờ, tôi đã thấy lạ vì sao đáy rương lại có một lỗ thủng tròn trịa như được đục đẽo có chủ đích rứa.

Phan Khanh đón lấy tấm ảnh, so sánh khoảng trống hình trụ đó với phần cán đá nhô ra ở chân nửa đầu nghê đang nằm trên thềm. Đường kính của phần cán đá hoàn toàn khớp với lỗ đục dưới đáy rương.

- Nghĩa là nửa đầu nghê này từng được cắm chặt vào đáy rương?

Phan Khanh nhíu mày.

- Đúng rứa.

Quang gật đầu, giọng trầm xuống.

- Nó đóng vai trò như một cái chốt định vị. Nhưng khi công an tiếp nhận cái rương từ tay đội vớt cổ vật, khoảng trống này đã trống rỗng. Vật này đã bị ai đó cạy ra và lấy đi từ trước khi cái rương được đưa lên bờ. Kẻ đó biết rõ cấu trúc của chiếc rương sắt này.

Từ phía sau lưng họ, Cô Bảy bước ra, hai tay bưng một bát nước giếng trong vắt đặt lên chiếc bàn gỗ giữa sân. Gương mặt bà hằn sâu những nếp nhăn dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu treo ở hiên nhà. Trên cổ tay trái của bà, vết sẹo hình chữ X đỏ ửng lên dưới lớp da mỏng.

- Đừng có niêm phần đầu nghê này vội.

Cô Bảy nói, giọng bà nhỏ nhưng rõ ràng.

- Hậu chưa nhận đúng vật neo của mình thì có dán bao nhiêu bùa giấy cũng vô ích. Đêm nay phải để cô ấy tự nói ra.

Bà đặt bát nước xuống bàn. Dưới sự giám sát của Phan Khanh, bà mở phong bì hồ sơ đã ghi trong biên bản. Lấy ra ảnh pháp y có ký xác nhận của đồng xu năm 1962, ảnh mảnh vải xô bọc đứa trẻ và bản chà hai mặt đồng xu. Đồng xu thật cùng tấm vải thật vẫn niêm tại kho vật chứng của công an. Cô Bảy đặt lên ảnh một đồng xu phục dựng và một mảnh vải mẫu do phòng kỹ thuật phê duyệt. Rồi nhỏ vào bát nước vài giọt dung dịch chiết từ mẫu cặn bùn, vụn sợi đã được cán bộ vật chứng tách riêng, niêm và bàn giao có ghi số. Tiếng đồng xu phục dựng chạm đáy gốm vang lên một tiếng cạch khô khốc. Mảnh vải mẫu thấm nước, chìm xuống và loang ra như một đám rong đen dưới đáy bát.

Khánh bước lại gần chiếc bàn gỗ. Hắn mở tập hồ sơ dân sự cũ mà Phan Khanh mang tới, tìm đến trang giấy ghi chép về vụ mất tích năm 1963. Hắn nhìn vào dòng chữ ghi tên người mẹ, cổ họng hơi khô.

- Lê Thị Hậu. Sinh năm 1942. Trú tại Cồn Hến. Mất tích ngày 17 tháng 8 năm 1963.

Khánh đọc to, giọng hắn vang lên giữa tiếng mưa rơi rả rích ngoài sân.

Bát nước trên bàn đột ngột lay động. Những gợn sóng tròn lan tỏa từ tâm bát, đập vào thành gốm. Từ mép nước ẩm ướt ở khoảng sân sau, một làn sương xám nhạt bắt đầu tụ lại. Làn sương ngưng tụ thành hình dáng một người phụ nữ trẻ. Quần áo của cô ấy sũng nước, bết chặt vào người, mái tóc dài xõa rượi nhỏ nước ròng ròng xuống nền gạch. Hai tay cô ấy co lại trước ngực, giữ chặt một khoảng trống vô hình như đang ôm một bọc nhỏ.

Mùi bùn non tanh nồng của đáy sông Hương lập tức lan tỏa trong không khí, lấn át cả mùi gỗ mục của tiệm Vong Ký.

Khánh nhìn vào bóng nước phản chiếu dưới đáy bát đồng. Mặt nước không còn trong vắt nữa mà chuyển sang màu xám đục của phù sa sông Hương vào mùa lũ. Trong lòng bát nước, những hình ảnh chao đảo bắt đầu hiện lên như một cuốn phim tài liệu cũ bị xước.

Hắn nhìn thấy bến đò Cồn Hến của hơn sáu mươi năm trước. Một cô gái trẻ đứng dưới mưa, gương mặt nhạt nhòa nước mắt. Phía sau cô là một ngôi nhà rường cổ kính, cửa đóng then cài. Một người đàn ông trung niên đứng sau cánh cửa, ném ra ngoài sân một tờ giấy đơn xin nhận con đã bị xé rách làm đôi. Những lời chửi bới, sỉ nhục của gia đình bên kia vọng lại qua tiếng sóng vỗ. Họ dùng thế lực để ép mẹ của Hậu phải rút đơn, không thừa nhận đứa trẻ sơ sinh là dòng máu của họ.

Trong cơn tuyệt vọng cùng cực của một người mẹ trẻ bị ruồng bỏ, không lối thoát, Lê Thị Hậu bế đứa con trai mới mười một tháng tuổi đi thẳng xuống dòng nước xiết của sông Hương.

Bóng của Lê Thị Hậu đứng bên mép nước sân sau khẽ run lên. Từ khóe mắt của bóng ma, những giọt nước sông chảy dài như nước mắt. Cô ấy không hề cất tiếng cầu xin sự tha thứ, cũng không oán hận người tình đã phản bội mình.

- Tui tự xuống sông.

Giọng nói của Hậu vọng lên từ đáy bát nước, rè rè như tiếng gió luồn qua kẽ đá.

- Nhưng tui không tự chui vô rương. Tui đã tước đi mạng sống của con tui, tui chịu tội dưới Thoải Phủ. Nhưng con tui... nó không có tội. Nó phải được có tên trên bia mộ. Nó không thể nằm lại trong cái rương sắt tối tăm đó như một bộ xương không tên không tuổi.

Khánh nhìn bóng người phụ nữ, ngực hắn nhói lên một cơn đau buốt. Vết bớt cá đỏ trên ngực hắn như đang cựa mình, nóng rát dưới lớp áo thun. Hắn cố kìm nén cơn đau, hỏi nhỏ.

- Đứa nhỏ tên chi?

Lê Minh.

Bóng của Hậu trả lời, giọng cô ấy run rẩy.

- Tui đặt tên con là Lê Minh ngay khi nó chào đời. Tui chưa kịp làm giấy khai sinh cho nó thì đã bước xuống sông. Xin các ông... hãy trả lại cái tên đó cho nó.

Phan Khanh đứng bên cạnh, tay cầm cây bút bi nhanh chóng ghi chép vào biên bản lời chứng bổ sung. Gương mặt anh vẫn giữ vẻ lạnh lùng của một cảnh sát hình sự, nhưng ngón tay cầm bút của anh hơi siết chặt.

- Tôi ghi nhận cái tên Lê Minh này vào biên bản.

Phan Khanh nói, giọng anh trầm và nghiêm nghị.

- Nhưng theo quy trình pháp lý, chúng tôi cần phải đối chiếu thêm với người thân còn sống và các di vật gia đình trước khi đưa vào hồ sơ bàn giao hài cốt chính thức. Chúng tôi không thể chỉ dựa vào lời khai tâm linh để làm thủ tục hành chính.

Đúng lúc đó, cửa ngách của tiệm Vong Ký mở ra. Một người đàn ông trung niên, ăn mặc giản dị, gương mặt khắc khổ được một chiến sĩ công an trẻ dẫn vào. Đó là người cháu họ của Lê Thị Hậu đang sống ở Cồn Hến mà Phan Khanh đã liên hệ từ chiều.

Ông ấy đàn ông run rẩy bước vào sân sau, mắt nhìn chằm chằm vào bát nước đồng trên bàn rồi lại nhìn sang Khánh. Ông ta run run mở một chiếc hộp gỗ nhỏ mang theo bên mình, lấy ra một mảnh giấy cúng giỗ cũ kỹ, giấy đã chuyển sang màu vàng úa và bị gián nhấm loang lổ ở các góc.

- Thưa cán bộ, đây là tờ giấy cúng giỗ do bà ngoại tui để lại trước khi mất.

Người đàn ông nói, giọng nghẹn ngào.

- Bà ngoại tui suốt đời không nguôi ngoai về sự biến mất của dì Hậu và đứa nhỏ. Trên tờ giấy này, bà ngoại tui có ghi rõ ngày kỵ của hai mẹ con.

Khánh nhận lấy mảnh giấy từ tay người đàn ông, đặt dưới ánh đèn dầu. Trên mặt giấy úa màu, nét chữ viết tay bằng mực Tàu đã phai màu ghi rõ hai dòng chữ: "Lê Thị Hậu" và ngay bên dưới là "cu Minh".

Nét chữ viết tay thô mộc nhưng rõ ràng, khớp hoàn toàn với cái tên mà vong hồn Lê Thị Hậu vừa đọc lên từ đáy bát nước.

Phan Khanh cúi xuống nhìn mảnh giấy cúng giỗ, rồi anh nhìn sang Khánh và Quang. Anh gật đầu nhẹ.

- Di vật này đủ cơ sở để chúng tôi xác nhận danh tính của đứa trẻ trong hồ sơ bàn giao. Hai bộ hài cốt sẽ được tiếp nhận cùng nhau để gia đình lo thủ tục an táng.

Trần Quang đứng bên cạnh, thở ra một hơi dài. Anh đẩy gọng kính, bắt đầu xâu chuỗi lại những mảnh thông tin từ hồ sơ tu sửa Ngọ Môn và lời khai của các nhân chứng cũ.

- Như vậy là đã rõ.

Quang nói, giọng anh trầm xuống đầy suy tư.

- Năm 1963, sau khi cô Hậu bế con tự trầm dưới sông Hương, thi thể của hai mẹ con trôi dạt vào bờ. Một nhóm người có liên quan đến gia đình người tình của cô ấy đã phát hiện ra xác. Để che giấu vụ bê bối và tránh tai tiếng cho dòng họ thế lực thời bấy giờ, họ đã lén lút bỏ xác hai mẹ con vào chiếc rương sắt. Khóa chặt từ bên ngoài rồi ném xuống đoạn nước sâu ở Cồn Hến để phi tang vĩnh viễn.

Quang dừng lại một chút, chỉ tay vào nửa đầu nghê đá dính máu ngoài thềm.

- Họ đã dùng những khối đá xanh phế thải từ kho tu sửa Ngọ Môn thời kỳ đó để làm vật dìm chiếc rương xuống đáy sông. Khối đá xanh này chính là một phần của con nghê đá bị hỏng được thải ra ngoài. Về sau, khi người ta trùng tu Ngọ Môn vào năm 1964, một phần đá xanh này lại được thu hồi và ghép vào con nghê phía bên trái bệ cửa. Chính vì vậy mà vong hồn của cô Hậu bị chia cắt, một phần bám dưới đáy sông theo chiếc rương. Phần còn lại bị xích vào con nghê đá ở Kinh Thành, kéo cô ấy đi đi về về giữa hai nơi để tìm con.

Khánh bước lại gần bàn thờ chính của tiệm Vong Ký. Hắn mở cuốn Vong Ký trắng ra, đặt lên mặt bàn gỗ. Hắn cầm cây bút lông, chấm vào nghiên mực đen đã pha sẵn vài giọt nước sông Hương. Hắn nín thở, viết nắn nót từng nét chữ lên trang giấy trắng: "Lê Thị Hậu. Duyên nợ kết thúc ngày 26 tháng 5 năm 2026."

Nét mực đen vừa chạm vào mặt giấy liền hiện lên một sắc đỏ mờ ảo như màu máu loãng, nhưng dòng chữ không hề phai đi như những lần trước. Nó vẫn nằm im lìm, đậm nét trên trang giấy trắng của tiệm Vong Ký.

Khánh nhíu mày nhìn Cô Bảy.

- O ơi, răng tên họ hiện lên rồi mà không chịu phai đi? Lời hẹn vẫn chưa hoàn tất răng o?

Cô Bảy nhìn chằm chằm vào dòng chữ trên sổ, rồi bà quay sang nhìn bóng của Lê Thị Hậu đang đứng bên mép nước. Bà thở dài, giọng trầm xuống.

- Vật neo vẫn chưa được kiểm đúng. Nửa đầu nghê đá ngoài cửa chỉ là phần phụ bị chặt ra thôi. Muốn tháo buộc phải mở niêm cây gậy thật theo đúng biên bản, đối chiếu nó với dấu rương rồi mới được làm tiếp.

Bóng của Hậu khẽ gật đầu. Cô ấy đưa ngón tay gầy guộc, nhợt nhạt chỉ thẳng vào nửa đầu nghê đá dính máu đang nằm trên thềm gạch.

- Đó không phải là thứ bị lấy ra khỏi rương của tui. Kẻ mở rương dưới sông đã mang đi cây gậy đá có đầu nghê nguyên vẹn. Cây gậy đó mới là vật neo chính giữ lấy hồn cốt của mẹ con tui suốt mấy chục năm qua. Còn mảnh đá ngoài cửa này... nó chỉ bị chặt ra để lừa các người, để đánh lạc hướng dòng nước âm mà thôi.

Khánh khựng lại. Cây gậy đá đầu nghê nguyên vẹn Bảy Sẹo mang tới từ ngày 19 tháng 5 vẫn ở trong tủ niêm số năm, dưới hai lớp niêm có chữ ký của Phan Khanh, Khánh và người làm chứng. Nó đã nằm tại Vong Ký suốt từ đêm ấy, không ai được phép tự ý mở. Như vậy vật thật không hề ở trong tay một kẻ nào khác. Thứ ngoài thềm chỉ là mảnh đá bị làm giả thành một đầu chốt, cố tình gieo cảm giác rằng vật neo vừa bị tráo đi.

Mưa ngoài trời bỗng nặng hạt hơn. Tiếng nước xối xả đập vào cánh cổng gỗ lim, chen giữa những tiếng cộc khô khốc vọng từ đầu kiệt.

Thằng Bồi đang ngồi ở góc phòng đứng bật dậy. Mặt thằng bé tái mét, hai tai giật mạnh liên hồi. Nó chạy ra cổng, áp sát tai vào khe gỗ.

- Eng Khánh, có người đang tới. Họ kéo một khúc đá dài, đầu gãy quệt xuống sỏi nên nghe giống tiếng gậy nện.

Phan Khanh rút súng, ra hiệu cho mọi người lùi vào trong rồi mới mở hé cổng. Bảy Sẹo ngã chúi qua ngưỡng cửa. Trên má gã vẫn là hai vết sẹo cắt chéo. Hai bàn tay trầy rách, máu từ lòng bàn tay dính lên một đoạn đá xanh dài chưa tới nửa mét mà gã kéo bằng dây thừng.

- Tau thấy hắn nằm giữa đường ven bến, tưởng cây gậy đã thoát khỏi tiệm nên kéo tới đây.

Phan Khanh bắt gã bỏ dây xuống, cho chiến sĩ đi cùng giữ khoảng cách rồi soi đèn lên đoạn đá. Một đầu bị đục thô, đầu kia mới quét bùn và bột gỉ. Không có đầu nghê nguyên vẹn, không có rãnh gỉ chạy dọc thân như vật đã ghi trong biên bản ngày 19 tháng 5.

- Đây là mảnh mồi.

Phan Khanh nói.

- Máu trên nó là từ tay anh Bảy. Còn cây gậy thật vẫn ở nguyên dưới niêm phong kép trong tủ số năm. Không ai được gọi hai vật này là một.

Anh lập biên bản tiếp nhận riêng đoạn đá giả, lấy mẫu máu đối chứng từ Bảy Sẹo rồi cho niêm vào một túi khác. Chỉ sau khi cửa tiệm đã khóa, anh mới đứng trước tủ số năm, đối chiếu số biên bản cũ với hai dải niêm còn nguyên.

Đêm 25 tháng 5, Phan Khanh gọi thêm cán bộ vật chứng trở lại. Việc mở cây gậy thật được tiến hành ngay tại quầy dưới sự có mặt của Phan Khanh, Khánh, Cô Bảy, Trần Quang, người cháu của Hậu và hai cán bộ làm chứng. Trước máy quay nghiệp vụ, Phan Khanh đọc từng số hiệu, so chữ ký, chụp bốn góc tủ rồi ghi rõ cả lớp niêm ngoài lẫn lớp niêm trong đều không rách, không bong và không có dấu thay thế.

- Bắt đầu mở vật chứng theo biên bản bổ sung lúc hai mươi ba giờ mười bảy phút.

Chính tay Phan Khanh cắt lớp niêm ngoài. Cán bộ vật chứng mở lớp túi trong trên tấm vải trắng đánh số. Không ai khác chạm vào cây gậy trước khi anh cho phép.

Cây gậy đá đầu nghê lộ ra, nguyên vẹn đúng với ảnh chụp đêm tiếp nhận. Phan Khanh đo lại chiều dài, vết mẻ và rãnh gỉ. Anh lấy mẫu bùn trong khe miệng nghê, vụn gỉ ở thân và bột đá dưới lớp vải bọc, mỗi mẫu vào một ống riêng có mã, giờ lấy và chữ ký người chứng kiến.

Trong khoảng thời gian vật chứng được mở chính thức, Trần Quang mới được phép cúi đọc lớp vải bọc cán. Anh không tháo rời nó, chỉ dùng đèn xiên và kính lúp.

- Có mã NM-KD-1982/04. Góc này còn sáp đen hình vảy rồng.

Quang đọc chậm để cán bộ ghi nguyên văn vào biên bản, rồi lùi tay khỏi bàn.

Phan Khanh đặt ảnh ổ khóa rương cạnh thân gậy. Ba đường trượt và vết mẻ khớp với các dấu nạy đã được chụp khi rương vừa trục vớt. Anh chỉ ghi kết luận sơ bộ rằng cây gậy từng tiếp xúc trực tiếp với rương, còn kết luận giám định phải chờ phòng kỹ thuật.

Cô Bảy đặt bát nước sông Hương ngoài mép tấm vải nghiệp vụ, không để nước hay giấy vàng chạm vào vật chứng. Bà nói phần tháo buộc chỉ có thể hoàn tất nếu tên hai mẹ con được ghi đúng trong thủ tục tiếp nhận hài cốt và người thân ký nhận trách nhiệm an táng. Phan Khanh ghi lời yêu cầu ấy như một điều kiện bảo quản đặc thù, không thay cho thủ tục pháp lý.

Khánh đứng ngoài đường giới hạn, đọc tên Lê Thị Hậu và Lê Minh từ biên bản lời chứng cùng mảnh giấy cúng giỗ đã được chụp lưu. Nước trong bát rung lên, nhưng dòng tên trong Vong Ký trắng vẫn chưa phai.

Sau khi lấy mẫu và ghi mã trên lớp bọc, Phan Khanh cho đặt cây gậy vào túi vật chứng mới. Anh cùng cán bộ vật chứng dán niêm mới, ký giáp lai, để Khánh và hai người làm chứng ký xác nhận. Quang không được đọc hay đụng lớp bọc thêm lần nào sau khi túi đã khép.

Theo biên bản bổ sung, cây gậy được để lại có điều kiện tại tủ số năm của Vong Ký trong bảy ngày để theo dõi hiện tượng nhiễm dấu. Tủ khóa hai chìa, một chìa do Phan Khanh giữ, một chìa niêm trong phong bì giao Khánh bảo quản. Nếu niêm rách, tủ dịch chuyển hoặc có người cần mở lại, việc lưu giữ chấm dứt ngay và vật chứng phải được đưa về kho công an.

Sáng 26 tháng 5, Phan Khanh trở lại cùng cán bộ hộ tịch, cán bộ pháp y và người cháu của Hậu. Hai túi hài cốt vẫn niêm riêng được đối chiếu số hiệu trước mặt các bên. Mảnh giấy cúng giỗ ghi “Hậu” và “cu Minh”, hồ sơ mất tích năm 1963 cùng kết quả tuổi xương được đưa vào biên bản xác định danh tính. Phần hài cốt người mẹ được ghi Lê Thị Hậu. Phần hài cốt bé trai được ghi Lê Minh, tên gọi trong gia đình, con của Lê Thị Hậu.

Người cháu ký nhận hai túi hài cốt để làm thủ tục an táng chung. Phan Khanh ký bàn giao, cán bộ pháp y ký tình trạng niêm, Khánh chỉ ký ở ô người chứng kiến. Đồng xu và tấm vải thật vẫn ở kho vật chứng của công an, bộ ảnh, bản chà, vật phục dựng cùng phần mẫu đã dùng được cán bộ thu hồi theo biên bản. Không một mẩu xương, đồng xu, tấm vải thật hay di vật tùy táng nào bị giữ lại tại tiệm.

Khi nét bút cuối cùng khô trên biên bản, Cô Bảy mới cho Khánh hoàn tất phần tháo buộc. Cây gậy vẫn nằm nguyên trong túi niêm mới và tủ số năm vẫn khóa. Khánh đặt bản sao biên bản bàn giao dưới chân bàn thờ, để bát nước sông Hương phía trước tủ rồi đọc đủ tên hai mẹ con ba lần. Cô Bảy đốt mảnh giấy vàng ghi lời hẹn được an táng cùng nhau, thả tro vào bát nước chứ không chạm tới vật chứng.

Bóng Hậu hiện mờ bên mép sân. Hai cánh tay vốn ôm chặt khoảng trống từ từ hạ xuống. Bà không nói thêm, chỉ cúi đầu về phía người cháu rồi tan theo hơi nước. Trong Vong Ký trắng, dòng “Lê Thị Hậu” nhạt dần từ đỏ sang xám. Cùng lúc đó, Bồi ôm hai tai, ngẩng lên nghe thật lâu.

- Hết rồi eng. Không còn tiếng em bé khóc dưới nước nữa.

Đến chiều 26 tháng 5, chậu nước dưới bàn thờ lặng như kính. Cây gậy thật vẫn nguyên niêm trong tủ số năm theo thời hạn bảy ngày. Ngoài thềm, túi chứa đoạn đá giả của Bảy Sẹo đã được Phan Khanh mang về kho như một vật chứng riêng. Vụ của Hậu khép lại bằng tên trên hồ sơ, hài cốt về với người nhà và một lời buộc đã được tháo mà không phá chuỗi bảo quản.

Chương khác

Xem thêm